1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Chương 1: CƠ CỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÍ CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN ĐỐI VỚI GIÁO VIÊN THPT MỚI VÀO NGHỀ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.5 MB, 109 trang )


trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo

dục - đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đã đặt ra cho ngành giáo dục.

+ Cũng có thể định nghĩa Quản lý giáo dục là hoạt động tự giác của chủ

thể quản lý nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát … một

cách có hiệu quả các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực,tài lực) phục vụ

cho mục tiêu phát triển giáo dục và yêu cầu phát triển KT-XH. [25, tr.10].

- Đối với cấp vi mô:

QLGD ở cấp vi mô (cấp cơ sở) được hiểu là hệ thống những tác động tự

giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ

thể quản lý một cơ sở giáo dục đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể

học sinh, cha mẹ học sinh và các nguồn lực xã hội trong và ngoài nhà trường

nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường

(của cơ sở), nhằm thực hiện các mục tiêu, kế hoạch, chương trình GD&ĐT đã

các cấp trên đề ra.

Tác giả Nguyễn Ngọc Quang định nghĩa về QLGD: "Là sự tác động có

ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ

thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất" [31,

tr.56]. Ông còn nói rõ hơn: Quản lí giáo dục là hệ thống những tác động có kế

hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lý làm cho hệ vận hành theo đường lối

và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường

XHCN Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là qui trình dạy học - giáo dục thể hệ

trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất.

Từ đó có thể hiểu: Quản lí giáo dục là hệ thống những tác động có mục

đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lí nhằm làm cho hệ vận hành

theo đường lối và nguyên lí giáo dục của Đảng, Nhà nước, thực hiện được

các tính chất của trường học xã hội chủ nghĩa của Việt Nam mà tiêu điểm là

quá trình dạy học – giáo dục cho mọi người, đưa hệ thống giáo dục tới mục

tiêu dự kiến, tiến đến trạng thái mới về chất.



7



1.1.1.2. Các chức năng quản lý trong quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục chính là thực hiện các chức năng quản lý trong công

tác giáo dục, thông qua đó, bằng những biện pháp phù hợp với lý luận khoa

học và các cơ sở thực tiễn, chủ thể quản lý tác động lên khách thể nhằm đạt

những mục tiêu xác định.

Trong các giáo trình kinh điển thường chỉ ra 4 chức năng cơ bản cơ bản

của hoạt động quản lý: Kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra.

- Chức năng lập kế hoạch:

Là vạch ra mục tiêu, các bước đi và phải tìm kiếm các biện pháp, cách

thức phù hợp để thực hiện các bước đi.

+ Bước chuẩn bị: Thu thập số liệu, dự báo tình hình phát triển kinh tếxã hội có liên quan. Rà soát lại các thông tin môi trường, phác thảo mục tiêu,

tính toán sơ bộ các nguồn lực, vật lực; Dự thảo kế hoạch, lấy ý kiến đóng góp

nội bộ và tranh thủ ý kiến cấp trên, các chuyên gia …

+ Bước xây dựng kế hoạch chính thức:

Vạch ra chương trình hành động cụ thể của tổ chức theo thời gian cụ

thể với mục đích, nội dung rõ ràng, phương pháp và phương tiện, hình thức

hoạt động cụ thể và bộ phận thực hiện, kinh phí;

- Chức năng tổ chức:

Tập trung và tiếp nhận các nguồn lực; Thiết lập cấu trúc của bộ máy;

Xác lập cơ chế phối hợp, giám sát. Sắp đặt một cách khoa học và hợp lý các

yếu tố, công việc, các bộ phận, ra quy định cho các thành viên trong một tổ

chức nhằm thực hiện tốt các kế hoạch và đạt mục tiêu tổng thể của tổ chức.

- Chức năng chỉ đạo:

Là tác động chuyển hoá, biến tất cả những gì hoạch định, sắp xếp trở

thành hiện thực. Có phương thức động viên, khuyến khích con người dưới

quyền làm việc có hiệu quả để đạt mục tiêu đã đề ra đồng thời phải có những

biện pháp để ngăn chặn những hành vi xấu.



8



Điều chỉnh, sửa đổi, thêm bớt… những tác nhân cần thiết, đảm bảo cho

hệ vận hành đúng hướng, duy trì và giữ vững mục tiêu của hệ thống.

- Chức năng kiểm tra, đánh giá:

Thu thập thông tin ngược từ phía bộ máy để đạt hai mục đích: Nắm được

trạng thái hoạt động, đánh giá thực trạng của bộ máy và nắm được mức độ

khả thi, hiệu quả của các Quyết định quản lý để điều chỉnh cách quản lý, tạo

đà cho các chu kỳ hoạt động sau. Nếu quản lý mà không kiểm tra thì coi như

là không quản lý.

Gần đây, nhiều nhà nghiên cứu còn đề nghị coi Thông tin quản lý cũng

có vai trò một chức năng cơ bản của quá trình quản lý.

Sơ đồ 1.1. Quan hệ giữa các chức năng quản lý và thông tin

Kế hoạch



Kiểm tra



Thông tin



Tổ chức



Chỉ đạo



Năm chức năng cơ bản của quản lý: Kế hoạch hóa, Tổ chức, Chỉ đạo,

Kiểm tra và Thông tin quản lý có quan hệ chặt chẽ, biện chứng, bổ sung cho

nhau và diễn ra có tính chu kỳ trong một khoảng thời gian và không gian xác

định, đưa hệ vận hành đến mục tiêu đã định trước gọi là chu trình quản lý.

Trong chu trình đó, yếu tố thông tin luôn có mặt trong tất cả các giai đoạn với



9



vai trò vừa là điều kiện vừa là phương tiện để thực hiện các chức năng quản

lý. Ví dụ, trong nhà trường thì thường là một năm học, hoặc một khoá học.

1.1.2. Khái niệm “biện pháp” trong quản lý giáo dục

1.1.2.1. Khái niệm biện pháp quản lý

Theo từ điển Tiếng Việt: Biện pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn

đề cụ thể. [29]

Biện pháp quản lí là sự tác động, chỉ huy điều khiển các quá trình xã hội

và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển hợp với quy luật, đạt

được mục đích đã đề ra và đúng ý chí của người quản lí.

Biện pháp quản lí là những cách thức cụ thể để thực hiện phương pháp

quản lí. Vì đối tượng quản lí phức tạp nên đòi hỏi các biện pháp quản lí phải

đa dạng, linh hoạt, phù hợp với đối tượng quản lí.

Từ đó, trong phạm vi của đề tài, chúng tôi xác định: Biện pháp quản lí

là cách làm, cách giải quyết hợp lý... trong từng hoàn cảnh, điều kiện, tình

huống cụ thể, do chủ thể quản lý lựa chọn và ra quyết định nhằm thực thi các

công việc cần thiết, hoặc xử lí các vấn đề đặt ra, từ đó giúp hệ thống/ đơn vị

đạt được mục tiêu quản lí.

1.1.2.2. Các biện pháp quản lí trong giáo dục.

Các biện pháp quản lí được vận dụng thực thi trong lĩnh vực giáo dụcđào tạo cũng được gọi là các biện pháp quản lý giáo dục.

Trong các giáo trình kinh điển về quản lý học thường đưa ra 3 loại

phƣơng pháp cơ bản trong quản lý: Các phương pháp hành chính - tổ chức,

Các phương pháp xã hội- tâm lý (phương pháp tâm lý- giáo dục) và Các

phương pháp kinh tế. Biện pháp là các cách thức cụ thể, là bộ phận cấu

thành của một phương pháp, do đó có thể dựa trên các loại phương pháp cơ

bản này mà xác định các nhóm biện pháp trong quản lý giáo dục.

Các biện pháp hành chính tổ chức: là cách tác động trực tiếp của chủ

thể quản lý đến đối tượng quản lý trên cơ sở quan hệ tổ chức và quyền lực



10



hành chính bằng mệnh lệnh, chỉ thị, quyết định...đảm bảo mục tiêu giáo dục

và hiệu quả các hoạt động giáo dục.

Các biện pháp xã hội- tâm lý (còn được gọi là biện pháp tuyên truyền,

giáo dục và thuyết phục) là cách tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng

quản lý dựa trên cơ sở vận dụng các quy luật tâm lý ứng dụng thành tựu các

khoa học như Tâm lý học, Khoa học giáo dục... nhằm khai thác tiềm năng con

người, kích thích ý thức tự giác, lòng say mê, sự sáng tạo của con người trong

mọi hoạt động của tổ chức.

Mặt khác, cũng là cách tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng quản

lý là con người, dựa trên cơ sở dùng lý lẽ làm cho họ nhận thức đúng đắn và

tự nguyện thừa nhận các yêu cầu của nhà quản lý, từ đó có thái độ và hành vi

phù hợp với yêu cầu quản lý.

Các biện pháp kinh tế: là cách tác động của chủ thể quản lý đến đối

tượng quản lý dựa trên cơ sở thuyết động lực kinh tế, với luận điểm: lợi ích

kinh tế sẽ tạo nên động lực thúc đẩy con người tích cực hoạt động mà không

cần sự can thiệp trực tiếp về mặt hành chính của cấp trên.

Các biện pháp quản lí nói chung, các biện pháp quản lý giáo dục nói

riêng thường có liên quan chặt chẽ với nhau tạo thành một hệ thống các biện

pháp trong hệ thống quản lí, sẽ giúp cho nhà quản lí thực hiện tốt các phương

pháp quản lí của mình mang lại hiệu quả hoạt động tối ưu của bộ máy.

1.1.3. Quản lí nhà trường và vai trò của Hiệu trưởng

1.1.3.1. Quản lí nhà trường

Nhà trường (cơ sở giáo dục- đào tạo, trường học) là các thiết chế chuyên biệt

của xã hội, nơi tổ chức, quản lí và trực tiếp thực hiện các hoạt động giáo dục- dạy

học. Trong các hoạt động giáo dục- dạy học, có nhiều mối quan hệ chức năng và

và các quan hệ xã hội đa dạng: giữa người học và người dạy (theo nghĩa rộng),

giữa người học với nhau, giữa những người làm công tác giáo dục với nhau, giữa

nhà quản lý và các đối tượng quản lý... chi phối lẫn nhau để thực hiện mục tiêu,



11



yêu cầu của xã hội. Quá trình (hoạt động) giáo dục- dạy học chủ yếu được thực

hiện bởi hai chủ thể: người được giáo dục và người giáo dục luôn luôn tương tác

với nhau.

Quản lý nhà trường chính là hoạt động QLGD cấp cơ sở (của một cơ

cấu/ tổ chức giáo dục). Đó là sự thực thi trực tiếp các chức năng quản lý đến

các hoạt động giáo dục- học tập trong phạm vi nhà trường. Hoạt động của nhà

trường rất đa dạng, phức tạp nên việc quản lý nhà trường cũng là hoạt động

phức tạp.

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: Quản lí nhà trường thực chất và cơ

bản là quản lí các hoạt động giáo dục- dạy học, tức là làm sao đưa các hoạt

động đó từ trạng thái vốn có sang một trạng thái khác cao hơn, để dần tiến tới

mục tiêu giáo dục.

Quản lí nhà trường bao gồm 2 loại: (1) tác động của những chủ thể quản

lí cấp trên và bên ngoài trường học; (2) tác động của những chủ thể quản lí

bên trong trường học.

Quản lí nhà trường do chủ thể quản lí cấp trên và bên ngoài trường học

tác động bao gồm những hoạt động quản lí của các cơ quan quản lí giáo dục

cấp trên nhằm hướng dẫn và tạo điều kiện cho hoạt động giảng dạy, học tập,

giáo dục của trường học. Đó là những chỉ dẫn, quyết định từ Bộ, Sở, Phòng

GD&ĐT và của các cấp chính quyền đoàn thể từ bên ngoài trường học nhưng

có liên quan trực tiếp đến trường học.

Quản lí nhà trường do chủ thể quản lí bên trong nhà trường tác động bao

gồm: Quản lí GV, quản lí HS, quản lí quá trình dạy học – giáo dục, quản lí cơ sở

vật chất trang thiết bị trường học, quản lí tài chính trường học, quản lí lớp học,

quản lí mối quan hệ giữa trường học và cộng đồng.

Sự phân chia quản lí theo hai loại như trên chỉ là tương đối. Thực tế,

trong quá trình quản lí thì quản lí từ cấp trên xuống các cấp trung gian và cấp

thấp, từ bên ngoài trường, bên trong trường đều phải được chỉ đạo, triển khai



12



đồng bộ và kết hợp hài hòa, xuyên suốt theo bốn chức năng quản lí: kế hoạch

- tổ chức - chỉ đạo - kiểm tra, đánh giá.

Như vậy, xét một cách chung nhất: Quản lí nhà trường thực chất là

những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lí lên tất cả các

nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực...)và các điều kiện... bằng nhiều hình

thức, nhằm đẩy mạnh hoạt động giáo dục-dạy học của nhà trường tiến tới các

mục tiêu giáo dục với chất lượng và hiệu quả cao hơn, đồng thời đưa nhà

trường phát triển lên một tầm cao mới.

1.1.3.2. Vai trò của Hiệu trưởng nhà trường THPT

Trường học nói chung, trường THPT nói riêng là cơ sở GD&ĐT thuộc

hệ thống GD quốc dân, là cơ quan hành chính- sự nghiệp của nhà nước. Hiệu

trưởng là thủ trưởng cơ quan đó, là người chịu trách nhiệm quản lí, tổ chức,

điều hành các hoạt động giáo dục của nhà trường, và chịu trách nhiệm với cấp

trên về toàn bộ các hoạt động giáo dục theo quy định của nhà nước. Hiệu

trưởng có quyền xử lý và ra quyết định theo đúng quyền hạn và chức trách

của mình.

Hiệu trưởng có thẩm quyền cao nhất về mặt hành chính và chuyên môn.

Hiệu trưởng quản lí nhà trường thông qua các chức năng quản lí ( Kế hoạch

hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra và thông tin quản lý) nhằm thực hiện có hiệu

quả các nhiệm vụ giáo dục-đào tạo.

- Xây dựng kế hoạch, tổ chức bộ máy nhà trường và tổ chức thực hiện

nhiệm vụ năm học như: tiếp nhận HS; quản lí cán bộ GV, nhân viên,

HS;

- Quản lí chuyên môn; quản lí và tổ chức giáo dục HS;

- Quản lí hành chính, tài chính, tài sản nhà trường; thực hiện các chế độ

chính sách đối với GV, nhân viên, HS; tổ chức thực hiện quy chế dân

chủ trong cơ quan;



13



- Phối hợp với gia đình HS, tổ chức và cá nhân trong cộng đồng thực

hiện các hoạt động giáo dục; tổ chức cho GV, nhân viên và HS tham

gia các hoạt động xã hội trong phạm vi cộng đồng, đồng thời thực hiện

các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật…

- Hiệu trưởng tự tổ chức, kiểm tra, đánh giá nhà trường để tự điều chỉnh

nhà trường hướng đến mục tiêu đào tạo hiệu quả nhất.

- ...

Để làm tốt chức trách quản lý của mình, người hiệu trưởng trước hết phải

là người có phẩm chất chính trị tốt, chuyên môn vững vàng, hiểu biết rộng, có

trình độ lí luận về khoa học quản lí, là người biết vận động, thu hút quần

chúng thực hiện tốt các nhiệm vụ giáo dục của nhà trường, biết vận dụng sáng

tạo chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước trong nhà

trường, phát huy tốt tinh thần dân chủ, sáng tạo, đoàn kết trong việc thực hiện

nhiệm vụ quản lí chuyên môn của mình nhằm đạt được kết quả mong muốn.

1.2. Vấn đề đào tạo, bồi dƣỡng trong quản lý phát triển đội ngũ giáo viên

1.2.1. Khái niệm phát triển đội ngũ giáo viên

1.2.1.1. Đội ngũ và phát triển đội ngũ

Khái niệm đội ngũ được sử dụng khá phổ biến trong nhiều lĩnh vực: đội

ngũ giáo viên (đội ngũ nhà giáo), đội ngũ y bác sỹ, hoặc đội ngũ công nhân

trong nhà máy, xí nghiệp...

Trong Từ điển tiếng Việt, “đội ngũ” thường được dùng để chỉ một tập

hợp đông người cùng chức năng hoặc nghề nghiệp thành một lực lượng [30].

Đội ngũ, theo tác giả Đặng Quốc Bảo, là một tập thể người gắn kết với

nhau, cùng chung lý tưởng, mục đích, rằng buộc nhau về vật chất, tinh thần

và hoạt động theo một nguyên tắc”; thường dùng rộng rãi để chỉ: đội ngũ cán

bộ công chức, viên chức, đội ngũ văn nghệ sĩ, đội ngũ nhà giáo, đội ngũ trí

thức… tức là đối tượng của quản lý nhân lực (nhân sự) [17, tr.25].



14



Trong Triết học biện chứng duy vật, “Phát triển” là khái niệm dùng để

"khái quát quá trình vận động từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ

kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn". Trong quá trình phát triển, "Sự vật, hiện

tượng chuyển hóa sang chất mơi, cao hơn, phức tạp hơn; làm cho cơ cấu tổ

chức, phương thức vận động và chức năng của sự vật ngày càng hoàn thiện

hơn". Do đó, phát triển được hiểu là "Sự thay đổi, chuyển biến tạo ra cái mới

theo hướng tích cực, tốt hơn" [32, tr.323].

Phát triển đội ngũ chính là sử dụng các biện pháp quản lý tác động về

mặt nhân sự của một tổ chức, nhằm xây dựng một đội ngũ người lao động

cùng chung một mục đích, lý tưởng mà trong đó các thành viên là một nhân

tố quan trọng với đầy đủ trình độ năng lực và phẩm chất đạo đức với những

tri thức mới, tập hợp thành một khối đoàn kết thống nhất đáp ứng yêu cầu

phát triển của tổ chức đó. Như vậy, phát triển đội ngũ cũng thuộc phạm trù

“Phát triển nguồn nhân lực” trong các lý thuyết quản lý.

1.2.1.2. Phát triển đội ngũ giáo viên

Phát triển đội ngũ giáo viên (phát triển ĐNGV) là một trong những nội

dung quan trọng hàng đầu trong lý luận quản lý giáo dục nói chung và lý luận

về quản lý nhà trường nói riêng.

“Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ

sở giáo dục khác. Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục

phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên; ở cơ sở giáo dục đại học

gọi là giảng viên" [điều 70, Luật giáo dục, 2005] .

Từ trên ta có thể quan niệm: Đội ngũ giáo viên” (ĐNGV) là tập hợp

những nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông,

giáo dục nghề nghiệp có chung nhiệm vụ, vai trò và trách nhiệm nhằm thực

hiện mục tiêu giáo dục được quy định tại Luật giáo dục, Điều lệ và Quy chế

trường học.



15



Phát triển đội ngũ giáo viên có nghĩa là tác động quản lý làm cho đội

ngũ giáo viên có sự thay đổi số lượng, cơ cấu và chất lượng đội ngũ giáo

viên; thực chất là có sự thay đổi đội ngũ giáo viên về cả "lượng" và "chất"

đáp ứng nhu cầu, vừa tăng qui mô và nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo

dục trong giai đoạn mới.

Phát triển ĐNGV thực chất là quá trình chuẩn bị lực lượng để đáp ứng

yêu cầu của sự phát triển của nhà trường. Trong quá trình chuẩn bị lực lượng

đó phải chú ý toàn diện về số lượng, cơ cấu, trình độ chuyên môn nghiệp vụ,

thái độ trách nhiệm, phẩm chất đạo đức, tinh thần tâm huyết với nghề trong

mỗi một giáo viên đối với nhà trường.

Để đạt được điều đó, phát triển ĐNGV phải gắn liền với việc tuyển chọn,

đào tạo, bồi dưỡng, quản lý, sử dụng, tạo môi trường sư phạm và một điều

không thể không quan tâm, việc phát triển ĐNGV trong giai đoạn hiện nay

còn là chế độ chính sách trọng dụng và thu hút nhân tài.

1.2.2. Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên nhìn từ góc độ lý thuyết phát

triển nguồn nhân lực

1.2.2.1. Phát triển nguồn nhân lực và đào tạo nguồn nhân lực

Mối quan hệ giữa quản lý phát triển đội ngũ giáo viên với quản lý phát

triển nguồn nhân lực cả về lý luận và thực tiễn là rất mật thiết và rõ ràng.

 Phát triển nguồn nhân lực

Là quá trình biến đổi nguồn nhân lực dựa trên sự phát triển tiềm năng

của con người cả về năng lực vật chất và năng lực tinh thần, hoàn thiện con

người cả về đạo đức và tay nghề, cả tâm hồn và hành vi, từ mức độ chất lượng

thấp đến mức độ ngày càng cao, càng toàn diện hơn. Trong đó bao gồm cả 3

yếu tố: đào tạo nhân lực, sử dụng nhân lực, tạo môi trường lao động nuôi

dưỡng nhân lực phù hợp và thuận lợi để mỗi con người lao động có hiệu quả.

Theo nghĩa hẹp hơn, phát triển nguồn nhân lực cũng được hiểu như là

quản lý nguồn nhân lực, cũng bao gồm cả 3 mặt quản lý đào tạo, quản lý sử



16



dụng và quản lý môi trường lao động (sơ đồ 1.2). Trong đó, đào tạo nguồn

nhân lực - một trong 3 thành tố cơ bản của phát triển nguồn nhân lực, đồng

thời cũng là hạt nhân của quản lý nguồn nhân lực.

 Đào tạo nguồn nhân lực

Đào tạo nguồn nhân lực là một yếu tố cơ bản và là một bước khâu quan

trọng của phát triển nguồn nhân lực, bao gồm quá trình giáo dục, đào tạo và

tái đào tạo, làm phát triển tiềm năng con người nhằm thúc đẩy phát triển kinh

tế xã hội nâng cao chất lượng cuộc sống (theo UNDP, World Bank). Đào tạo

nguồn nhân lực gồm có nhiều loại hình khác nhau:

- Đào tạo cơ bản: dài hạn, chính qui chuẩn bị cho sự tham gia lao động.

Được đào tạo trong các cơ sở đào tạo chính quy, hoặc không chính quy với

một chương trình được quy định trong hệ thống giáo dục quốc dân thống nhất

(bao gồm cả giáo dục phổ thông).

- Đào tạo ngắn hạn, bồi dưỡng, tái đào tạo: được cấp bằng hoặc chứng

chỉ của các hệ, bậc đào tạo... là minh chứng đã có những kiến thức, kỹ năng

và thái độ cần thiết để có thể hành nghề lao động (Ví dụ, các lớp bồi dưỡng

Nghiệp vụ sư phạm, bồi dưỡng về đổi mới PPDH...)

- Đào tạo tạo nguồn: chủ yếu là thông qua hệ thống giáo dục phổ thông

giáo dôc ĐH, CĐ nhằm chuẩn bị nền tảng nhân cách cho các loại hình, bậc

đào tạo tiếp theo.

Sử dụng nhân lực và tạo môi trường nuôi dưỡng nguồn nhân lực

Quản lý nhân lực còn bao gồm cả khâu bố trí hợp lý và sử dụng hiệu quả

nhân lực: vừa đảm bảo phù hợp chức năng, yêu cầu của hệ thống, của công

việc ; vừa đảm bảo phù hợp năng lực từng người, tạo cơ hội phát triển từng

cá nhân trong việc lựa chọn, bố trí công tác thích hợp.



17



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (109 trang)

×