1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN ĐỐI VỚI GIÁO VIÊN MỚI VÀO NGHỀ Ở CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN ĐOAN HÙNG, PHÚ THỌ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.5 MB, 109 trang )


Về văn hóa xã hội: Công tác văn hóa xã hội huyện Đoan Hùng được duy

trì phát triển ở mức khá. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, phát huy truyền thống

quê hương, đất nước, Đoan Hùng luôn quan tâm đến lĩnh vực văn hóa xã hội

đồng hành với việc phát triển giáo dục và đào tạo. Các chính sách xã hội nhìn

chung được đảm bảo cho người lao động và nhân dân trong huyện.

Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục

toàn diện, xây dựng nhiều trường chuẩn quốc gia (khối THCS và Tiểu học),

đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục nhằm đảm bảo tốt nhất cho việc dạy và

học, nâng cao chất lượng giáo dục của huyện nhà.

Tuy nhiên vì là một huyện miền núi, nên Đoan Hùng còn gặp không ít

khó khăn: Kinh phí đầu tư cho giáo dục còn hạn chế ( chủ yếu nguồn vốn cấp

từ Tỉnh và Trung ương. Điều kiện sống của một bộ phận dân cư còn khó khăn,

ảnh hưởng không nhỏ đến việc đầu tư cho học tập của học sinh. Hạ tầng cơ sở

vật chất còn yếu cụ thể: còn 10 xã của huyện chưa có đường bê tông, 3 xã phải

qua sông bằng thuyền, do đó việc đi lại của học sinh gặp nhiều khó khăn. Do

ảnh hưởng mặt trái của nền kinh tế thị trường nên một số tai tệ tệ nạn xã hội đã

xuất hiện trên địa bàn và đang ảnh hưởng không nhỏ đến công tác giáo dục

trong các nhà trường.

Đời sống của GV trong huyện nói chung còn nhiều khó khăn, đặc biệt là

những GV trẻ (lương dưới 2.000.000đ), đây cũng là nguyên nhân làm cho một

bộ phận GV chưa thực sự yên tâm công tác.

2.1.1.2. Khái quát về quy mô phát triển giáo

Là một huyện miền núi tuy còn nhiều khó khăn, song trong những năm

gần đây giáo dục huyện Đoan Hùng nói chung, giáo dục THPT của huyện nói

riêng đã và đang từng bước nâng cao chất lượng toàn diện, khẳng định được

vị thế của mình so với các huyện khác trong địa bàn tỉnh Phú Thọ.



35



Mạng lưới qui mô trường lớp liên tục được củng cố và phát triển [Báo

cáo tổng kết năm học 2009 - 2010 của UBND huyện Đoan Hùng]:

- Toàn huyện có:

- 29 trường Mầm non và 1 tổ mẫu giáo X78, 157 lớp mẫu giáo và 32

nhóm trẻ tăng 01 lớp so với cùng kì. Số trẻ đến nhà trẻ là 464/4470 đạt 11%,

tăng 4,3% so với năm học trước. Trẻ mẫu giáo ra lớp: 3955/4600 đạt 86%,

tăng 4% so với cùng kì. Riêng trẻ 5 tuổi ra lớp đạt 100% (1547 cháu).

- 30 trường Tiểu học công lập (100%) với 316 lớp và 7.596 học sinh tăng

5 lớp so với năm học trước. Số học sinh 5 tuổi vào lớp 1 là 1736/1736, đạt

100%.

- 25 trường THCS và 01 trường phổ thông dân tộc nội trú huyện với

5.806 học sinh và 209 lớp giảm 12 lớp so với cùng kì. Tổng số học sinh học

hết chương trình tiểu học vào lớp 6 là 1304 đạt 100%.

- 04 trường THPT, trong đó 3 trường quốc lập, 01 trường bán công: với

65 lớp và 3021 học sinh.

- 01 Trung tâm giáo dục thường xuyên có 9 lớp bổ túc THPT với 343 học

sinh, 3 lớp trung học chuyên nghiệp với 167 học viên, 2 lớp đại học với 122

học viên, 3 lớp cập nhật kiến thức (cơ khí, may công nghiệp) với 169 học

viên.

- 01 Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp có 50 lớp học nghề

phổ thông cho 1630 học sinh THCS và THPT, 1 lớp trung cấp kế toán doanh

nghiệp sản xuất với 56 học viên, 1 lớp Tin học văn phòng với 46 học viên.

Nhìn chung về quy mô đảm bảo sự phát triển thông thường, đáp ứng nhu

cầu phát triển của huyện Đoan Hùng và yêu cầu phổ cập của các cấp học.



36



2.1.2 Về giáo dục THPT và đội ngũ giáo viên THPT huyện Đoan Hùng

2.1.2.1. Quy mô và loại hình giáo dục THPT

( Nguồn : Phòng kế hoạch tài vụ Sở GD&ĐT Phú Thọ)



Bảng 2.1. Quy mô trường, lớp cấp THPT huyện Đoan Hùng

Năm học



2006 -2007



2007-2008



2008 - 2009



2009 - 2010



Số lớp

Số học sinh



95

4655



90

4153



79

3160



65

3021



Bảng 2.2. Các loại hình trường THPT năm học 2009 – 2010

Loại hình trƣờng



STT

1

2

3



Tổng số trƣờng



Tổng số HS



3

1

1

5



2797

224

815

3836



Công lập

Ngoài công lập

GD thƣờng xuyên

Cộng



Bảng 2.3. Số lớp và số HS THPT năm học 2009 – 2010



STT



Trƣờng THPT



Tổng số HS năm



Lớp 10



Lớp 11



Lớp 12



học 2009 - 2010



T.số



Nữ



T.số



Nữ



T.số



Nữ



1



Đoan Hùng



1141



362



212



450



275



329



201



2

3



Chân Mộng

Quế Lâm

Cộng



837

819

2797



317

273

952



187

196

595



295

305

1050



168

182

625



225

241

795



140

191

532



Huyện Đoan Hùng đến nay vẫn chỉ tập trung chủ yếu ở loại hình trường

THPT công lập (3 trường), với gần 3.000 HS. Ngoài ra, còn một số HS THPT

hệ không chính quy đang học tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên của

huyện và 1 trường THPT bán công (năm 2009 – 2010 có 16 lớp và 815 HS).

Tổng số HS THPT toàn huyện năm 2010 là 3836 em (< 4 % dân số).



37



2.1.2.2. Một số kết quả giáo dục THPT

Chât lượng giáo dục THPT phần nào được thể hiện ở các bảng 2.4, 2.5, 2.6

(Nguồn: Báo cáo tổng kết năm học 2007- 2008; 2008-2009; 2009-2010 của UBND huyện

Đoan Hùng )



Bảng 2.4. Kết quả thi tốt nghiệp THPT

Học sinh đỗ

tốt nghiệp

Số HS

THPT

dự thi

Tổng Tỷ lệ

số

(%)



Năm

học

2007 2008

2008 2009

2009 2010



Loại Giỏi

Tổng

số



Loại Khá



Loại Trung

bình



Tỷ lệ Tổng

(%)

số



Tỷ lệ

(%)



Tổng

số



Tỷ lệ

(%)



1380



97,13



2



0,15



35



2,54



1105



97,31



1449



997



68,81



8



0,55



74



5,1



915



94,35



1368



1330



97,22



12



0,88



87



6,36



1231



92,76



4197



Tổng



1368



3695



88



22



0,52



196



4,67%



3251



94,81



Bảng 2.5. Kết quả thi học sinh giỏi (HS khối 12)

Năm học



2007-2008



2008 - 2009



2009 – 2010



Số HS đạt giải

Tỷ lệ %



41

31,06 %



61

46,2%



39

29,55%



Bảng 2.6. Kết quả thi đỗ Đại học, Cao đẳng

Năm học



Số HS đỗ tốt nghiệp



Số HS đỗ ĐH, CĐ



Tỷ lệ %



2007 - 2008

2008 - 2009

2009 - 2010

Tổng



1368

997

1330

3695



301

319

280

900



22%

32%

21,05%

24,36%



Nhận xét: Từ bảng 2.4, 2.5, 2.6 ta thấy tổng số HS dự thi tốt nghiệp

THPT huyện Đoan Hùng trong 3 năm học gần đây là 4197 em (tính cả hệ Bổ

túc THPT), số học sinh đỗ tốt nghiệp THPT là 3695 đạt tỷ lệ 88%, trong số đó

chỉ có 900 học sinh thi đỗ vào các trường đại hoc, cao đẳng chiếm tỷ lệ

24,36%. Hàng năm số thi HS giỏi đạt giải chưa ổn định.



38



Kết quả trên cho ta thấy rằng chất lượng giáo dục THPT đại trà của

huyện đã có những thành công đáng kể. tuy có tăng trong những năm gần đây,

song tỷ lệ thi đỗ vào đại học, cao đẳng chưa cao. Đây sẽ là một thử thách lớn

trong việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng cho sự nghiệp công

nghiệp hóa, hiện đại hóa của huyện Đoan Hùng trong tương lai.

Kết quả trên đây cũng đã phần nào phản ánh chất lượng đội ngũ của các

nhà trường chưa thực sự mạnh, sự đầu tư phát triển đội ngũ giáo viên chưa

nhiều, công tác quản lý chuyên môn trong một số nhà trường còn yếu.

2.1.2.3. Về phát triển đội ngũ

Trong phạm vi đề tài này, tác giả đã tập trung nghiên cứu, đánh giá thực

trạng quản lí công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mới vào nghề ở 3

trường THPT của huyện là Đoan Hùng, Chân Mộng, Quế Lâm.

• Đội ngũ cán bộ quản lý:

Qua điều tra ở 3 trường THPT (bảng 2.7) ta thấy:

- Đội ngũ CBQL ở 3 trường THPT gồm 10 đồng chí, trong đó 3 nữ (30%),

có 1 hiệu trưởng là nữ (trường THPT Chân Mộng); 7 nam.

- CBQL đều là những người trưởng thành từ chuyên môn, 100% có trình

độ đạt chuẩn, trong đó có 3 người có trình độ trên đại học và 01 đồng chí

đang học cao học; 100% CBQL đã qua bồi dưỡng nghiệp vụ quản lí tại

Trường CBQL giáo dục Hà Nội, nay là Học viện quản lí giáo dục.

Bảng 2.7. Đội ngũ CBQL các trường THPT trong địa bàn nghiên cứu



THPT



Trình độ

chuyên

Đảng

môn

SL Nữ

viên

Sau

ĐH

ĐH



Trình độ

lí luận



Thâm niên Đã qua

Độ tuổi

quản lí

bồi

dƣỡng

< 5 > 5 NVQL

30 –

SC TC CC

<30

> 45

năm năm

45



Đ. Hùng



4



1



4



3



1



1



1



2



Ch Mộng



3



1



3



1



2



2



0



1



Quế Lâm



3



1



3



3



0



2



0



Tổng



10



3



10



7



3



5



1



39



4



4



0



1



3



1



2



3



0



2



1



1



1



2



3



0



1



2



4



2



8



10



0



4



6



- CBQL đều là những người trưởng thành từ chuyên môn, 100% có

trình độ đạt chuẩn, trong đó có 3 người có trình độ trên đại học và 01 đồng chí

đang học cao học; 100% CBQL đã qua bồi dưỡng nghiệp vụ quản lí (NVQL)

tại Trường CBQL giáo dục Hà Nội, nay là Học viện quản lí giáo dục.

- Có 8 CBQL có thâm niên công tác trên 5 năm, tỉ lệ 80%. Số CBQL trẻ,

tuổi đời chưa quá 45 tuổi gồm 4 người, chiếm 40%. Điều đó chứng tỏ công

tác cán bộ đang dần được trẻ hóa và được tỉnh Phú Thọ quan tâm.

Nhìn chung, đội ngũ CBQL ở các trường THPT huyện Đoan Hùng có

phẩm chất đạo đức tốt, có nhiều kinh nghiệm quản lí, tay nghề vững vàng, luôn

có tinh thần trách nhiệm cao với công việc, yêu nghề, có ý chí cầu tiến. Tuy

nhiên năng lực quản lí chưa đồng đều, trong đó một số ít CBQL còn hạn chế.

• Đội ngũ GV mới vào nghề ở các trường THPT huyện Đoan Hùng

Bảng 2.8. Đội ngũ GV mới vào nghề ở các trường THPT Đoan Hùng

Trƣờng

THPT



Đoan Hùng



Năm học

2007 – 2008

T. số GV Tỉ lệ

GV mới

%

45

17 37,78



Năm học

2008 – 2009

Tổng GV

Tỉ lệ

số GV mới

%

55

25

45,45



Năm học

2009 - 2010

T.số

GV

Tỉ lệ %

GV

mới

64

34

53,13



Chân Mộng



35



15



42,86



40



18



45



45



22



48,9



Quế Lâm



32



14



43,75



38



19



50



45



21



46,7



Tổng



112



46



41,07



133



62



46,62



154



77



50,0



- Tỉ lệ GV mới ra trường ở các trường THPT huyện Đoan Hùng những

năm học gần đây rất cao và có xu hướng tăng dần. Năm học 2007 – 2008 tỉ lệ

GV mới vào nghề toàn huyện là 41,7% đến năm học 2009 – 2010 là 50%.

Tăng cao nhất là trường THPT Đoan Hùng, tăng đến 53,13% .

- Điều này cho thấy, đội ngũ GV trẻ có số lƣợng và vị trí đáng kể, cần

phải có những biện pháp quản lý hiệu quả, tạo mọi điều kiện có thể để họ phát

triển, sẽ góp một phần không nhỏ cho việc nâng cao chất lượng dạy học ở các

trường THPT huyện Đoan Hùng nói riêng, ở Phú Thọ nói chung.



40



Bảng 2.9. Trình độ của đội ngũ GV mới vào nghề. Năm học 2009 - 2010

Trƣờng

THPT



GV

mới



Trình độ đào tạo



Năng lực

chuyên môn



Trình độ

lí luận



G



K



TB



SC



TC



CC



1



14



19



34



0



0



Nghiệp

vụ

Tin

NN

học

32

32



Đoan Hùng



34



0



33



Sau

ĐH

1



Chân Mộng



22



2



20



0



0



9



13



22



0



0



20



19



Quế Lâm



21



1



20



0



0



6



17



21



0



0



20



20



Tổng



77



3



73



1



1 29



49



77



0



0



72



71







ĐH



(Nguồn:Phòng Tổ chức Sở GD&ĐT Phú Thọ năm học 2009 - 2010 ).



- Nhìn bảng số liệu điều tra, xét về trình độ đào tạo, hầu hết GV mới vào

nghề đều có trình độ ĐH, trong đó có 01 GV Văn tiếng việt của trường THPT

Đoan Hùng có bằng thạc sỹ, có 3 GV giáo dục thể chất có trình độ Cao đẳng

(hiện tại có 02 GV đang theo học đại học tại chức), đều đảm bảo điều kiện để

dạy THPT.

- Về trình độ chuyên môn, phần nhiều GV mới tốt nghiệp ra trường có

trình độ chuyên môn xếp loại Trung bình, không có yếu, kém. Số còn lại ít hơn,

có trình độ chuyên môn xếp loại khá.

- Hầu hết GV mới vào nghề tuổi đời còn trẻ, được đào tạo chính qui, bài

bản từ các trường Đại học Sư phạm, có tri thức, phẩm chất đạo đức tốt, hơn

90% trong số họ đã có trình độ Tin học và Ngoại ngữ từ A trở lên. Song kinh

nghiệm, phương pháp, nghệ thuật sư phạm cần phải được tích lũy, trau dồi, học

hỏi thêm nhiều.

Đây là vấn đề mà các nhà quản lý giáo dục của các trường cần quan tâm,

để có biện pháp quản lí bồi dưỡng chuyên môn thích hợp nhằm phát huy được

tiềm năng sẵn có ở những GV mới, để họ trở thành lực lượng kế cận xứng đáng

trong các nhà trường.



41



2.2. Thực trạng quản lý công tác bồi dƣỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo

viên THPT huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ

2.2.1. Khái quát thực trạng các hoạt động bồi dưỡng chuyên môn

Trong những năm qua, hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên

luôn được coi trọng, trong các trường THPT trên địa bàn huyện Đoan Hùng.

Bởi các thế hệ lãnh đạo nhà trường đã xác định: chỉ khi chất lượng đội ngũ

GV được nâng lên, mới tạo ra sự chuyển biến về chất lượng giáo dục trong

các nhà trường. Ý thức được điều đó cho nên ngay từ đầu năm học, căn cứ

theo hướng dẫn của Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT các Hiệu trưởng nhà trường đã

tiến hành xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn cho GV với chương trình

và nội dung cụ thể, như:

- Bồi dưỡng thường xuyên theo chu kỳ: là loại hình học tập thường

xuyên, liên tục để cập nhật kiến thức và PPDH cho GV.

- Bồi dưỡng chuẩn hóa và bồi dưỡng trên chuẩn: bồi dưỡng cho GV có

trình độ chưa đạt chuẩn để đạt chuẩn theo quy định; bồi dưỡng những GV đã

đạt chuẩn để đạt trên chuẩn.

- Bồi dưỡng GV thực hiện giảng dạy theo chuẩn kiến thức, kỹ năng: giúp

GV xác định chuẩn kiến thức kỹ năng cho các bài học, môn học từ đó chủ

động trong việc giảng dạy cho học sinh.

- Bồi dưỡng và tự bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn:

bồi dưỡng về đổi mới PPDH, thực hiện quy chế chuyên môn, phương pháp

kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh, cách thức tổ chức các hoạt

động giáo dục.

Với nhiều hình thức bồi dưỡng chuyên môn:

- Bồi dưỡng theo hình thức tập trung (Bộ, Sở tổ chức).

- Bồi dưỡng theo hình thức tự học.

- Kết hợp cả hai hình thức tập trung và tự học.



42



Các chương trình và nội dung bồi dưỡng đó đã giúp cho đội ngũ GV

trong các nhà trường thường xuyên được trau dồi về phẩm chất chính trị, đạo

đức, lối sống, liên tục được cập nhật, bổ sung kiến thức, PPDH góp phần làm

cho chất lượng đội ngũ GV các trường THPT trên địa bàn huyện Đoan Hùng

ngày một nâng cao.

Tuy nhiên, qua các báo cáo tổng kết hàng năm đã chỉ ra: trong quá trình

bồi dưỡng chuyên môn, vẫn còn nhiều hạn chế cần phải khắc phục:

- Việc xây dựng các kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo

viên của Hiệu trưởng ở nhiều trường còn thiếu tính chủ động, sáng tạo, phụ

thuộc chủ yếu vào kế hoạch của cấp trên, không bám sát điều kiện thực tế của

nhà trường dẫn tới tính khả thi rất thấp.

- Các nội dung bồi dưỡng chuyên môn được triển khai một cách đại trà,

không chú ý đến việc phân loại đối tượng để bồi dưỡng, do đó hiệu quả bồi

dưỡng đem lại thấp.

- Hoạt động tự bồi dưỡng chuyên môn của GV ở một số nhà trường chưa

được quan tâm đúng mức, việc kiểm tra, đôn đốc đánh giá hiệu quả việc tự

bồi dưỡng của GV không được tiến hành thường xuyên, thậm chí không có

kiểm tra đánh giá thường xuyên, dẫn tới một bộ phận GV ý thức nghề nghiệp

yếu, không thường xuyên tự bồi dưỡng chuyên môn dần dần không theo kịp

sự thay đổi của kiến thức chuyên môn và sự đổi mới của PPDH.

- Thiếu trang thiết bị phục vụ công tác bồi dưỡng chuyên môn. Kinh phí

hỗ trợ cho việc bồi dưỡng GV còn hạn chế, chưa tạo được động lực cho GV

tham gia bồi dưỡng chuyên môn.

- Có trường còn thiếu GV ở 1 số bộ môn nên GV phải dạy nhiều giờ và

làm công tác kiêm nhiệm nên thiếu thời gian hoặc không có thời gian bồi

dưỡng chuyên môn.

- Nhiều GV nữ đang trong độ tuổi sinh đẻ, nên việc chăm sóc con nhỏ đã

ảnh hưởng đến việc bồi dưỡng chuyên môn.



43



- Ở một số cán bộ GV vẫn còn tư tưởng bình quân chủ nghĩa, không chịu

phấn đấu, ngại thay đổi.

Qua phân tích báo cáo chuyên môn của 3 trường THPT trên

địa bàn nghiên cứu, có tới 66,7% hồ sơ chuyên môn của GV xếp

loại trung bình, việc soạn giáo án và chất lượng của từng giáo

án còn bất cập, nhiều giáo viên sao chép giáo án từ mạng

Internet và bạn bè chứ không soạn giáo án.. Có 73,3% GV được

xếp loại trung bình trong việc vận dụng linh hoạt các PPDH phù

hợp với đối tượng học sinh, bài học, lớp học, 52,3% GV có năng

lực chuyên môn trung bình, cá biệt ở một số trường còn có GV

xếp loại yếu về chuyên môn (5,2%).

Những hạn chế trên tập trung chủ yếu ở đội ngũ GV mới vào

nghề.

Trong quá trình triển khai thực hiện các hoạt động bồi dưỡng còn không

ít những bất cập. Trong đó có cả vấn đề nhận thức và tầm nhìn chiến lược về

sự phát triển giáo dục của lãnh đạo một số nhà trường còn hạn chế.

2.2.2. Khảo sát thực trạng quản lý trong công tác bồi dưỡng chuyên môn

Để đánh giá thực trạng việc quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn cho

đội ngũ giáo viên THPT huyện Đoan Hùng, chúng tôi đã gửi phiếu xin ý kiến

của CBQL và GV của 3 trường THPT (Đoan Hùng, Chân Mộng, Quế Lâm).

trên địa bàn nghiên cứu về 1 số mặt cụ thể trong hoạt động quản lý công tác

bồi dưỡng chuyên môn (xin xem ở phụ lục). Tổng số người được hỏi ý kiến

gồm: 70 GV, 10 CBQL và 8 TTCM của 3 trường THPT. Tổng hợp các mức

độ thực hiện theo số ý kiến tính theo tỷ lệ phần trăm. Kết quả khảo sát cho ở

các bảng 2.10, bảng 2.11, bảng 2.12.



44



Bảng 2.10. Thực trạng quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn cho đội

ngũ giáo viên của Hiệu trưởng các trường THPT huyện Đoan Hùng

T

T



1



2



3



4



5



6



Nội dung

Hiệu trƣởng xây dựng

Quy hoạch, kế hoạch

phát triển đội ngũ

Hiệu trƣởng xây dựng

kế hoạch quản lý công

tác bồi dƣỡng chuyên

môn hàng năm cho đội

ngũ GV

Hiệu trƣởng đã tổ chức

bồi dƣỡng cập nhật kiến

thức chuyên môn, các

chuyên đề cho giáo viên

Tổ chức nhiều hình thức

bồi dƣỡng CM phù hợp

điều kiện của nhà

trƣờng

Chỉ đạo các tổ chuyên

môn và giáo viên thực

hiện công tác bồi dƣỡng

và tự bồi dƣỡng CM

Hiệu trƣởng thực hiện

việc kiểm tra, đánh giá

công tác bồi dƣỡng và tự

bồi dƣỡng CM đội ngũ

giáo viên nhà trƣờng



Mức độ thực hiện(%)

Thƣờng xuyên

Chƣa th xuyên

Chƣa có, ít có

CB

GV

CB

GV CB

GV

GV

GV

GV

QL

mới

QL

mới QL

mới

78,3



73,7



75,8



21,7



26,3



24,2



0



0



0



75,3



78,2



76,7



24,7



21,8



23,3



0



0



0



55,3



67,7



71,6



44,7



26



20,7



0



6,3



7,7



77,5



16



7,1



22,5



62,7



67,3



0



21,3



25,6



62,4



26,5



28,5



37,6



73,5



68,3



0



0



3,2



55,7



20,5



17,5



44,3



70,1



67,2



0



9,4



15,3



2.2.2.1. Về việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển đội ngũ và kế hoạch

quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên

Từ kết quả bảng 2.10 (nội dung 1 và 2) chúng ta có thể thấy:

- Có trên 75% CBQL, GV, GV mới vào nghề được hỏi ý kiến cho rằng:

Hiệu trưởng đã xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển đội ngũ và kế hoạch

quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên hằng năm,

chứng tỏ công tác quản lý phát triển đội ngũ đã được Hiệu trưởng chú trọng.

- Tuy nhiên trong thực tế, việc xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn

cho đội ngũ giáo viên của Hiệu trưởng còn chủ yếu dựa vào kế hoạch cấp trên.



45



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (109 trang)

×