1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NGOÀI CÔNG LẬP

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.7 MB, 136 trang )


(427- 347 TrCN). Theo ông, muốn trị nước thì phải biết đoàn kết dân lại, phải vì

dân. Người đứng đầu phải ham chuộng hiểu biết, thành thật, tự chủ, biết điều độ,

ít tham vọng về vật chất, đặc biệt là phải được đào tạo kỹ lưỡng.

Vào thế kỷ thứ XVII, có những nhà nghiên cứu về quản lý tiêu biểu như:

Rober Owen (1771- 1858), Charles Babbage (1792- 1871), F. Taylor (18561915) - người được coi là “cha đẻ” của “Thuyết quản lý theo khoa học” ...

Do những lợi ích lớn lao của quản lý mà sang thế kỷ XIX, đầu thế kỷ

XX xuất hiện hàng loạt các công trình nghiên cứu với nhiều cách tiếp cận

khác nhau về quản lý như: Tính khoa học và nghệ thuật quản lý, làm thế nào

để việc ra quyết định quản lý đạt hiệu lực cao, những động cơ để thúc đẩy một

tổ chức phát triển ... Thành công trong quản lý đã tạo ra một số hiện tượng

nhảy vọt thần kỳ trong phát triển kinh tế – xã hội, như sự xuất hiện các con

rồng Châu Á: Nhật Bản, Singapo, Trung Quốc... ở thế kỷ XX.

1.1.2. Ở Việt Nam

Khoa học quản lý ở Việt Nam tuy được nghiên cứu muộn, nhưng tư

tưởng về quản lý cũng như “Phép trị nước an dân” đã có từ lâu đời. Trong

“Bình ngô đại cáo” Nguyễn Trãi viết: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”... qua

đó chúng ta cũng thấy rằng các ông vua hiền tài đất Việt từ xa xưa đã biết lấy

dân làm gốc trong việc quản lý đất nước.

Nhiều công trình nghiên cứu gần đây về khoa học quản lý của các nhà

nghiên cứu và các giáo sư giảng dạy các trường đại học viết dưới dạng giáo

trình, sách tham khảo, phổ biến kinh nghiệm đã được công bố. Đó là các tác

giả: Phạm Thành Nghị, Trần Quốc Thành, Đặng Bá Lãm, Nguyễn Gia Quý,

Bùi Trọng Tuân... Các công trình nghiên cứu của các tác giả trên đã giải quyết

được vấn đề lý luận rất cơ bản về khoa học quản lý như: khái niệm quản lý,

bản chất của hoạt động quản lý, thành phần cấu trúc, chức năng quản lý, chỉ

ra các phương pháp và nghệ thuật quản lý...



8



Cũng như đối với các ngành quản lý khác, quản lý giáo dục luôn là vấn

đề được các nhà nghiên cứu hết sức quan tâm. Đặc biệt là trong sự nhận thức

sâu sắc vai trò của giáo dục đối với tương lai phát triển của mỗi quốc gia, mỗi

dân tộc thì điều này càng có ý nghĩa. Các công trình nghiên cứu giáo dục như

“Cơ sở khoa học quản lý giáo dục” của tác giả Nguyễn Minh Đạo, “Những

khái niệm cơ bản về quản lý giáo dục” của tác giả Nguyễn Ngọc Quang,

“Quản lý, quản lý giáo dục tiếp cận từ những mô hình” của tác giả Đặng Quốc

Bảo, “Những giá trị về tổ chức và quản lý” của tác giả Vũ Văn Tảo, thực sự là

những công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục, mang lại hiệu quả nhất định

cho công tác quản lý giáo dục nói chung và công tác quản lý trong nhà trường

nói riêng.

Bên cạnh những công trình mang tính phổ quát đó, công tác quản lý

trong nhà trường phổ thông cũng là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu đi sâu

tìm hiểu. Đặc biệt trong những năm gần đây nhiều luận văn tiến sỹ, thạc sỹ đã

đề cập đến được nhiều vấn đề cụ thể trong công tác quản lý trường học.

Nhưng đó là những vấn đề có tính chuyên sâu, gắn với công tác quản lý nảy

sinh ở địa phương, nên việc tiếp tục nghiên cứu những vấn đề này vẫn có ý

nghĩa thực tiễn.

Hệ thống các trường ngoài công lập đã được hình thành và phát triển từ

rất sớm ở nước ta cũng như trên thế giới. Các trường này đã góp phần không

nhỏ vào sự phát triển nền giáo dục ở mỗi quốc gia.

Ở nước ta, từ sau Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI và

VII, chuyển từ nền kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế

nhiều thành phần theo cơ chế thị trường dưới sự quản lý của nhà nước. Sự

biến đổi nền kinh tế kéo theo sự biến đổi nhiều mặt của đời sống xã hội, trong

đó có sự biến đổi của giáo dục - đào tạo: nhu cầu học tập của nhân dân tăng

nhanh, mục đích học tập đa dạng, học để tìm kiếm việc làm, học để phát triển,

học để có cơ hội làm giàu... Trong khi kinh phí cho giáo dục của nhà nước

9



hạn hẹp, không thể bao cấp nổi thì việc phát triển các loại hình nhà trường

ngoài công lập là một tất yếu khách quan.

Để duy trì sự phát triển của các trường ngoài công lập một cách vững

chắc cần phải không ngừng nâng cao chất lượng chuyên môn và xây dựng đội

ngũ giáo viên có tay nghề giỏi. Đã có một số hội thảo, một số bài viết, và một

số công trình nghiên cứu về các trường ngoài công lập như: Hội thảo khoa

học về Quy chế các loại hình trường trung học phổ thông ngoài công lập

(THPT- NCL) - Đề tài B97- 37- 40- tại thành phố Hồ Chí Minh tháng 11/

1997; Đề tài về Quy chế các loại hình trường ngoài công lập (B97- 47- 40) tại

Nha Trang tháng 5/ 1998; luận văn “Các giải pháp cải tiến cơ chế quản lý

trường trung học phổ thông dân lập thành phố Hải Phòng” của tác giả Nguyễn

Thị Mai năm 2000; luận văn “Một số biện pháp quản lý chuyên môn của hiệu

trưởng trường trung học phổ thông bán công thành phố Hà Nội” của tác giả

Đỗ Thị Dung năm 2004...

Kết luận của các hội thảo, các giải pháp, biện pháp mà các luận văn đưa

ra thực sự rất có giá trị, nhưng đó không phải đã là những giải pháp, biện

pháp tối ưu, phù hợp với mọi địa phương, mọi hoàn cảnh quản lý. Chẳng hạn

như vấn đề xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên của các trường trung học

phổ thông ngoài công lập, vấn đề xây dựng kế hoạch chuyên môn, vấn đề

kiểm tra đánh giá, tuy đã được các tác giả đề cập đến, nhưng không hoàn toàn

phù hợp với các trường trung học phổ thông ngoài công lập trên địa bàn thành

phố Nam Định.

Nghiên cứu công tác quản lý đội ngũ giáo viên của hiệu trưởng các

trường trung học phổ thông ngoài công lập trên địa bàn thành phố Nam Định

là bước tiếp tục làm phong phú thêm lý luận về quản lý giáo dục, đồng thời

cũng góp phần đề ra được những biện pháp có hiệu quả, thiết thực, đáp ứng

được đòi hỏi của giáo dục thành phố. Bởi vì: Thành phố Nam Định từ lâu đã

nổi tiéng với những nhà máy dệt tơ - sợi, đã có thời kỳ thành phố được coi là

10



thành phố trẻ phát triển. Nơi đây còn có di tích nổi tiếng đền Trần thờ Hưng

Đạo Đại Vương và các vị vua nhà Trần, hàng năm thu hút rất nhiều khách du

lịch trong và ngoài nước. Nhưng những năm gần đây sự phát triển của Thành

phố có phần chậm lại. chính vì vậy lãnh đạo tỉnh và thành phố đã đưa ra

những chính sách, chiến lược phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội để

bắt kịp với sự với sự phát triển của đất nước. Thành phố đang phấn đấu trở

thành đô thị loại I giai đoạn 2010- 2015. Và vấn đề con người được các nhà

lãnh đạo chú trọng, trong đó “ giáo dục được coi là quốc sách hàng đầu”. Nói

tới Nam Định là nói tới đất học, hàng năm tỉnh luôn đứng trong tốp đầu của

cả nước về chất lượng giáo dục. Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng bộ Nam

Định nêu rõ: Trong 5 năm qua, nền kinh tế của tỉnh có bước phát triển mới về

quy mô, hiệu quả. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 10,2%. Các lĩnh

vực văn hoá – xã hội được quan tâm chăm lo và có nhiều chuyển biến tích

cực. Chất lượng giáo dục ngày càng nâng cao, năm học 2008-2009 và năm

học 2009-2010 dẵn đầu cả nước về tỷ lệ học sinh tốt nghiệp, tỷ lệ học sinh

giỏi quốc gia và tỷ lệ học sinh thi đỗ Đại học, Cao đẳng. Tuy nhiên hiện nay

số lượng các trường công lập trên địa bàn thành phố Nam Định lại không đủ

đáp ứng nhu cầu của người học. Cũng có nhiều trường ngoài công lập được

thành lập nhưng còn nhiều bất cập trong đó vấn đề đáng quan tâm nhất là đội

ngũ giáo viên giảng dạy còn thiếu và yếu. Chính vì vậy tôi đã chọn hướng

nghiên cứu đề tài “Biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên trường THPT ngoài

công lập trên địa bàn thành phố Nam Định”.

1.2. Một số khái niệm cơ bản

1.2.1. Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường

1.2.1.1. Quản lý

Sử gia Danien A.Wren đã có nhận xét rằng: Quản lý cũng xưa cũ như

chính con người vậy, nhưng bên cạnh đó ông cũng ghi nhận rằng, chỉ gần đây



11



thôi người ta mới chú ý đến chất khoa học trong quản lý, và từ đó dần hình

thành nên các lý thuyết quản lý.

Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống, thì quản lý là phương thức tác

động có chủ đích của chủ thể quản lý lên hệ thống, bao gồm hệ các quy tắc

ràng buộc về hành vi đối với mọi đối tượng ở các cấp trong hệ thống nhằm duy

trì tính trội hợp lý của cơ cấu và đưa hệ thống sớm đạt đến mục tiêu.

Theo quan điểm của điều khiển học, thì quản lý là chức năng của những

hệ có tổ chức, với bản chất khác nhau, nó bảo toàn cấu trúc các hệ, duy trì chế

độ hoạt động. Quản lý là tác động hợp quy luật khách quan, làm cho hệ vận

động vận hành và phát triển.

Nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam, xuất phát từ các góc độ khác nhau

cũng đã đưa ra những khái niệm quản lý.

Theo giáo sư Hà Thế Ngữ thì “Quản lý là một quá trình định hướng,

quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống

nhằm đạt được những mục tiêu nhất định”. [24, tr.24]

Một xu hướng nghiên cứu phương pháp luận quản lý ở Việt Nam trong

cuốn “Khoa học tổ chức và quản lý” của nhiều tác giả: Đặng Quốc Bảo,

Nguyễn Văn Bình, Nguyễn Quốc Chí... (NXB thống kê, Hà Nội 1999, tr 176)

cho rằng: hoạt động quản lý nhằm làm cho hệ thống vận động theo mục tiêu

đặt ra, tiến đến trạng thái có chất lượng mới. Quản lý về bản chất bao gồm

quá trình “Quản” và quá trình “Lý”.

Quản: là coi sóc, giữ gìn, là duy trì - ổn định.

Lý: là sửa sang, sắp xếp, là đổi mới – Phát triển.

Hệ ổn định mà không phát triển tất yếu dẫn đến suy thoái.

Hệ phát triển mà thiếu ổn định tất yếu dẫn đến rối ren.

Như vậy: Quản lý = ổn định + phát triển

Trong quản phải có lý; trong lý phải có quản; ổn định đi tới sự phát

triển, phát triển trong thế ổn định. [1, tr176]

12



Như vậy, mặc dù có những kiến giải khác nhau nhưng đi sâu tìm hiểu

bản chất khoa học của các khái niệm đã nêu về quản lý, có thể dễ dàng nhận

thấy giữa chúng luôn có sự thống nhất.

Quản lý là khoa học vì nó là những tri thức được hệ thống hoá và là

đối tượng nghiên cứu khách quan đặc biệt. Quản lý là khoa học nghiên cứu,

lý giải các mối quan hệ, đặc biệt là mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể

quản lý.

Quản lý là nghệ thuật bởi nó là hoạt động đặc biệt đòi hỏi sự khéo léo,

tinh tế và linh hoạt trong việc sử dụng những kinh nghiệm đã quan sát được,

những tri thức đã được đúc kết nhằm tác động một cách có hiệu quả nhất tới

khách thể quản lý.

Nói đến quản lý thì đồng thời cũng phải hiểu quản lý bao giờ cũng có định

hướng, có mục tiêu, có tổ chức, có tác động tương ứng, phù hợp, nhằm hướng

dẫn, điều khiển những đối tượng quản lý để đạt tới mục tiêu định sẵn.

Cuối cùng, tồn tại với tư cách là một hệ thống, quản lý bao gồm các

thành phần: chủ thể quản lý, khách thể quản lý, cơ chế quản lý và mục tiêu

chung. Chủ thể quản lý tạo ra các tác động quản lý, còn khách thể quản lý

tạo ra các sản phẩm có giá trị sử dụng, hiện thực hoá mục tiêu đã định và

làm thoả mãn mục đích của nhà quản lý. Chủ thể quản lý luôn là con người

và có cơ cấu tổ chức phụ thuộc vào quy mô, độ phức tạp của khách thể quản

lý. Khách thể quản lý là đối tượng chịu sự điều khiển, tác động của chủ thể

quản lý, khách thể quản lý bao gồm con người, các nguồn tài nguyên, tư liệu

sản xuất...

Cơ chế quản lý chính là những phương thức mà nhờ đó hoạt động quản

lý được thực hiện và quan hệ tương tác giữa chủ thể quản lý và khách thể

quản lý được vận hành điều chỉnh.

Tuy nhiên, vì hoạt động quản lý chỉ phát huy được hiệu quả cao khi nó

tạo ra được cái toàn thể – chỉnh thể từ nhiều cá nhân và tư liệu sản xuất của tổ

13



chức xã hội. Do đó yêu cầu về tính toàn thể của tổ chức mang tính khách

quan. Nó đòi hỏi các nhà quản lý phải xác lập được mục tiêu rõ ràng và biết

điều hành hệ thống của mình tới đích. Song những yêu cầu mang tính khách

quan này để đạt được lại không hoàn toàn phụ thuộc vào chủ quan của nhà

quản lý. Hoạt động quản lý có những yêu cầu khách quan, phổ biến đối với

những người làm công tác quản lý. Đó là những chức năng chung và cơ bản

của hoạt động quản lý.

Chức năng quản lý: Bàn về hoạt động quản lý và người quản lý, hiểu rõ

người quản lý phải làm gì để đạt hiệu quả quản lý cao cũng chính là tìm hiểu

chức năng và vai trò của quản lý.

Chức năng đầu tiên của quản lý là chức năng kế hoạch hoá. Kế hoạch

hoá có nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ

chức và các con đường biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích

đó. Chức năng kế hoạch hoá được thể hiện qua 3 nội dung chính sau:

 1. Xác định hình thành mục tiêu (phương hướng) đối với tổ chức.

 2. Xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn, có tính cam kết) về các

nguồn lực của tổ chức để đạt các mục tiêu này.

 3. Quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được mục

tiêu đó.

Khi người quản lý lập xong kế hoạch, họ cần phải chuyển hoá những ý

tưởng khá trừu tượng ấy thành hiện thực. Chức năng tổ chức của quản lý sẽ có

ý nghĩa quyết định đối với sự chuyển hoá như thế. Xét về mặt chức năng quản

lý, tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành

viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành

công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức. Nhờ việc tổ

chức có hiệu quả, người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn

vật lực và nhân lực. Thành tựu của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào năng



14



lực sử dụng các nguồn lực này của người quản lý, phải xử lý sao cho có hiệu

quả nhất.

Quá trình tổ chức bao giờ cũng kéo theo việc hình thành, xây dựng các

bộ phận, các phòng ban cùng các công việc của chúng, và sau đó là vấn đề lựa

chọn, bổ nhiệm, tổ chức nhân sự, cán bộ.

Sau khi kế hoạch đã được lập, cơ cấu bộ máy đã hình thành, nhân sự đã

được tuyển dụng thì phải có ai đó lãnh đạo, dẫn dắt tổ chức. Một số học giả và

các nhà nghiên cứu gọi đó là quá trình chỉ đạo hay tác động. Nhưng dù gọi tên

khác nhau, lãnh đạo sẽ là người tạo ra sự liên kết, liên hệ giữa các thành viên

trong tổ chức, động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt

được những mục tiêu của tổ chức. Tuy nhiên, việc lãnh đạo không chỉ bắt đầu

sau khi việc lập kế hoạch và thiết kế bộ máy đã hoàn tất, nó thấm vào và ảnh

hưởng đến hai chức năng kia.

Cuối cùng là chức năng kiểm tra đánh giá. Kiểm tra đánh giá là một

chức năng quản lý, thông qua đó một cá nhân, một nhóm hoặc một tổ chức

theo dõi giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành các hoạt động sửa

chữa, uốn nắn nếu cần thiết. một kết quả hoạt động đạt yêu cầu khi phù hợp

với những chi phí bỏ ra, nếu không thì cần phải tiến hành những hoạt động

điều chỉnh. Đó cũng chính là quá trình tự điều chỉnhdiễn ra có tính chu kỳ

theo các bước sau:

- Người quản lý đặt ra những chuẩn mực thành đạt của hoạt động.

- Người quản lý đối chiếu, đo lường kết quả, sự thành đạt so với chuẩn

mực đã dặt ra.

- Người quản lý tiến hành điều chỉnh những sai lệch.

- Người quản lý có thể hiệu chỉnh, sửa lại chuẩn mực nếu cần.

Thực hiện đầy đủ những chức năng của mình hoạt động quản lý sẽ đem

lại hiệu quả, đạt được mong muốn. Nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc

nhà quản lý không cần quan tâm đến những yếu tố khác nữa. Hoạt động quản

15



lý không phải là một hoạt động khép kín, nó luôn chịu sự tác động qua lại của

nhiều yếu tố bên ngoài. Vì vậy muốn hiểu rõ về quản lý không thể không tìm

hiểu những yếu tố liên quan đến quản lý như:

- Yếu tố môi trường.

- Yếu tố chính trị xã hội.

- Yếu tố tổ chức.

- Yếu tố quyền uy.

- Yếu tố thông tin.

- Yếu tố mô hình tổng quát.

Từ những khái niệm chung, chức năng chung cũng như những yếu tố

ảnh hưởng đến hoạt động quản lý sẽ dẫn đến sự hình thành khái niệm về quản

lý trong những chuyên ngành, và cùng với các khái niệm đó là hàng loạt các

quy định về chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ của người quản lý cho từng

chuyên ngành riêng biệt. Vậy quản lý giáo dục, quản lý trường trung học phổ

thông, quản lý đội ngũ giáo viên trường trung học phổ thông là gì? Chức

năng, nhiệm vụ của người hiệu trưởng trường trung học phổ thông trong việc

quản lý đội ngũ giáo viên, nhất là việc quản lý đội ngũ giáo viên các trường

trung học phổ thông ngoài công lập. Đó cũng là những vấn đề thuộc phạm vi

đề tài cần phải được làm sáng tỏ.

1.2.1.2. Quản lý giáo dục

Cũng như các lĩnh vực khoa học xã hội khác, giáo dục cũng có một quá

trình phát triển và không ngừng hoàn thiện hệ thống lý luận của mình. Tìm

hiểu lịch sử phát triển của giáo dục là tìm hiểu quá trình hình thành, hoàn

thiện các quan điểm giáo dục, làm cho giáo dục ngày càng gắn kết với cuộc

sống, phục vụ thiết thực cho những nhu cầu phát triển của xã hội. Đồng thời

cũng là tìm hiểu các quan niệm về quản lý giáo dục, với tư cách là một bộ

phận của khoa học quản lý nói chung.



16



Theo giáo sư Phạm Minh Hạc thì “Quản lý nhà trường, quản lý giáo

dục là tổ chức hoạt động dạy và học... Có tổ chức được hoạt động dạy học,

thực hiện được các tính chất của nhà trường phổ thông Việt Nam xã hội chủ

nghĩa... mới quản lý được giáo dục, tức là cụ thể hóa đường lối giáo dục của

Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng yêu cầu của nhân dân,

của đất nước”. [16, tr. 34]

Theo giáo sư Đặng Quốc Bảo quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là

hoạt động điều hành, phối hợp của các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy công

tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội. [11]

Còn theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang trong cuốn “Những khái niệm cơ

bản về quản lý giáo dục” thì: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động

có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của các chủ thể quản lý nhằm làm cho

hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được

các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ

là quá trình dạy học- giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục tới mục tiêu

dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất.” [27, tr. 35]

Như vậy, cũng như quản lý nói chung, QLGD cũng là hệ thống các tác

động có mục đích, có kế hoạch nhằm đạt mục tiêu giáo dục đề ra. Nhưng nó

không đơn thuần là những tác động theo một hướng. Quản lý giáo dục là quản

lý hoạt động dạy và học, do đó những tác động của nó lên hệ thống phải là

những tác động kép... Tác động lên hoạt động dạy, nó đồng thời chuyển hoá

hoạt động đó thành hoạt động học để đạt tới mục tiêu giáo dục, và chính trong

quá trình thực hiện sự chuyển hoá đó, nó sẽ phải điều hành, phối hợp tác động

của các lực lượng khác, nhằm tạo ra một sức mạnh tổng hợp tác động đến

hoạt động dạy và học.

Bên cạnh những đặc điểm cơ bản của quản lý nói chung, quản lý giáo

dục vẫn có những nét đặc thù riêng, đó là một hoạt động đặc biệt. Để thực

hiện tốt các chức năng của mình nhằm đạt tới mục tiêu giáo dục, quản lý giáo

17



dục chịu sự tác động rất lớn của các yếu tố khách quan. Hiểu rõ đặc điểm này

sẽ là cơ sở lý luận cần thiết để đề ra những biện pháp cụ thể trong quản lý

giáo dục.

1.2.1.3. Quản lý trường trung học phổ thông

Theo điều 87 luật giáo dục Việt Nam, các cơ quan quản lý Nhà nước về

giáo dục bao gồm: Chính Phủ, Bộ Giáo Dục, các Bộ, các cơ quan ngang Bộ,

cơ quan trực thuộc Chính Phủ chịu trách nhiệm quản lý Nhà Nước về giáo

dục theo quy định của Chính Phủ. Tiếp đến là Uỷ ban nhân dân các cấp thực

hiện quản lý Nhà nước về giáo dục ở địa phương theo quy định của Chính

phủ. [7]

Như vậy, trường học chính là tổ chức giáo dục cơ sở, là cơ quan quản

lý Nhà nước cấp cơ sở. Trường học phải chịu sự quản lý của các hệ thống

quản lý Nhà nước về giáo dục từ trung ương đến địa phương. Nhà trường

được thành lập theo quy hoạch, kế hoạch của nhà nước nhằm phát triển sự

nghiệp giáo dục. Nhưng đồng thời cũng là nơi tiến hành các hoạt động quản

lý giáo dục nhằm thực hiện các mục tiêu giáo dục. Nhà trường trong hệ thống

giáo dục là khách thể quản lý, nhưng cũng là chủ thể quản lý. Nhà trường vừa

là nơi chịu sự tác động của các cấp giáo dục từ trung ương đến địa phương,

vừa là nơi trực tiếp tổ chức thực hiện các mục tiêu giáo dục. Nhà trường chịu

sự quản lý của các cấp từ trung ương đến địa phương; đồng thời cũng là nơi tổ

chức kiến tạo các kinh nghiệm xã hội cho từng địa phương, cho một nhóm

dân cư. [2]

Xuất phát từ những đặc điểm đó đã có nhiều nhà nghiên cứu đưa ra

định nghĩa về quản lý nhà trường. Theo Giáo sư Phạm Minh Hạc: “Quản lý

nhà trường là thực hiện đường lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của

mình, tức là đưa trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, mục tiêu đào tạo

đối với ngành giáo dục và thế hệ trẻ và với từng học sinh.”



18



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (136 trang)

×