1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VIỆC QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NGOÀI CÔNG LẬP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.7 MB, 136 trang )


học sinh phổ thông nhất là học sinh các trường THPT ngoài công lập trên địa

bàn thành phố Nam Định.

Hiện nay thành phố Nam Định đã có 4 trường dân lập thu hút 40% số

học sinh ở độ tuổi vào học, có những trường số học sinh đăng ký vào học rất

đông và tiêu chuẩn tuyển sinh cao hơn ở nhiều trường công lập. Các trường

ngoài công lập đã thực sự được phụ huynh học sinh tin tưởng, được nhân dân

thành phố công nhận.

2.1.2. Quy mô các trường THPT được nghiên cứu trong 2 năm học 2008 –

2009; 2009 – 2010

Bảng 2.1: Năm học 2008 – 2009

TT



Tên trƣờng



Ph/ học



Số lớp



Số GV



Số HS



1



DL Nguyễn Công Trứ



18



16



71



810



2



DL Trần Nhật Duật



17



15



68



690



3



DL Trần Quang Khải



20



14



65



573



Số lớp



Số GV



Số HS



Bảng 2.2: Năm học 2009 – 2010

TT



Tên trƣờng



Ph/ học



1



DL Nguyễn Công Trứ



18



17



76



860



2



DL Trần Nhật Duật



17



15



68



695



3



DL Trần Quang Khải



20



14



66



600



(Nguồn: Trường THPT Nguyễn Công Trứ, THPT Trần Nhật Duật,

THPT Trần Quang Khải)

Qua bảng số liệu chúng tôi thấy nhìn chung các trường được nghiên

cứu qua nhiều năm vẫn giữ vững và có xu hướng phát triển số lớp, số học

sinh nhập học. Về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động dạy và

học của các trường trên là tương đối đầy đủ, khang trang. Khung cảnh sư

42



phạm của nhà trường được đánh giá là đạt yêu cầu so với mặt bằng chung của

hệ thống các trường ngoài công lập trên toàn thành phố.

Số phòng học trong tình trạng sử dụng tốt tương ứng với số lớp và số

học sinh theo học tại trường. Các trường đều có trang bị phòng máy vi tính,

phòng thí nghiệm, phòng dạy nghề đáp ứng được yêu cầu dạy và học. Có 50%

các trường có thư viện, 80% trường có hội trường lớn, phòng thể chất... để

phục vụ các hoạt động giáo dục toàn diện của nhà trường. Hàng năm, các nhà

trường vẫn dành kinh phí để tu sửa và mua sắm trang thiết bị mới cần thiết

cho hoạt động giảng dạy và học tập. Chính vì thế chất lượng giáo dục của các

nhà trường ngày càng được nâng cao, học sinh đăng ký theo học tăng lên

đáng kể trong năm học 2009 – 2010: như trường DL Nguyễn Công Trứ có 17

lớp với 860 học sinh, tăng 50 học sinh so với năm học trước.

Để có được kết quả như trên không chỉ dựa vào trình độ chuyên môn và

thâm niên tay nghề của đội ngũ giáo viên, mà đó còn là kết quả của quá trình

lao động tích cực của cả tập thể sư phạm, đặc biệt là nhờ vào tài nghệ quản lý

của người hiệu trưởng nhà trường. Đó cũng là thành công bước đầu trong hoạt

động xây dựng, quản lý đội ngũ giáo viên thành một tập thể vững mạnh.

* Đội ngũ cán bộ, nhân viên

Đa số các cán bộ nhân viên của nhà trường có tuổi đời còn trẻ, nhiệt

tình, năng động và luôn hoàn thành tốt các công việc được giao, hỗ trợ tốt cho

các hoạt động giảng dạy và giáo dục của nhà trường.

* Tình hình học sinh:

Hầu hết học sinh đều thực hiện tốt nội quy của nhà trường. Nhiều năm

gần đây tỷ lệ tuyển sinh lớp 10 của các nhà trường đều tăng, năm sau tuyển

được nhiều hơn năm trước, vượt chỉ tiêu đề ra. Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung

học phổ thông tương đối cao so với tỷ lệ chung trên toàn thành phố. Có nhiều

học sinh thi đỗ vào các trường ĐH, cá biệt có học sinh đỗ cả 2 trường ở cả 2

khối thi khác nhau, số học trung học chuyên nghiệp, học nghề chiếm hơn

43



50%, còn lại các em đều tham gia vào lực lượng lao động có trình độ văn hoá

của thành phố.

* Đội ngũ cán bộ quản lý trường học:

Đó là các hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, bí thư chi bộ, chủ tịch công

đoàn. Qua tìm hiểu chúng tôi được biết đội ngũ cán bộ quản lý của các

trường trung học phổ thông ngoài công lập hiện nay là những nhà giáo rất

có uy tín và tiếng tăm trong ngành, năng động và yêu nghề, thể hiện ở

những điểm sau:

+ Có phẩm chất chính trị, bản lĩnh cách mạng vững vàng. Tất cả đều là

Đảng viên gương mẫu, tâm huyết với nghề, gắn bó lâu dài với sự nghiệp giáo

dục thế hệ trẻ (100% cán bộ quản lý được tuyển chọn đều công tác lâu năm trong

ngành giáo dục, 90% được đào tạo chính quy ở các trường ĐH sư phạm).

+ Quan tâm gắn bó với trường lớp, nhạy bén, linh hoạt, hiểu biết sâu

sắc về tình hình nhà trường, đội ngũ giáo viên, học sinh, có uy tín cao với tập

thể sư phạm nhà trường và các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương, phụ

huynh học sinh.

+ Có trình độ chuyên môn vững vàng, có uy tín về chuyên môn, xứng

đáng là con chim đầu đàn của tập thể sư phạm. Đa số các hiệu trưởng đã tham

gia làm quản lý trong nhiều năm (100% trên 15 năm)

+ Đã qua các lớp bồi dưỡng kiến thức về nghiệp vụ quản lý trường học

(100% tham gia các khoá bồi dưỡng tại trường cán bộ quản lý của Bộ Giáo

dục & Đào tạo, 20% có trình độ thạc sĩ quản lý giáo dục )

2.2. Kết quả khảo sát và đội ngũ giáo viên của 3 trƣờng THPT ngoài

công lập

2.2.1. Đặc điểm đội ngũ giáo viên

+ Về số lượng: 100% trường được nghiên cứu đều có số giáo viên

tương đối đủ, đạt tỷ lệ giáo viên trên số lớp do Bộ GD - ĐT quy định. Hiện

nay chỉ có 10% các trường được nghiên cứu thiếu đầu giáo viên môn kỹ thuật

44



hoặc dạy nghề, còn các môn văn hoá cơ bản như toán, lý, hoá, sinh học, văn,

sử, địa, GDCD, ngoại ngữ và giáo dục thể chất đều đủ và thừa. Trao đổi với

chúng tôi về vấn đề này, hiệu trưởng các nhà trường đều khẳng định đội ngũ

giáo viên cơ hữu và thỉnh giảng được tuyển chọn đủ trong nguồn là sinh viên

sư phạm mới tốt nghiệp loại khá trở lên chưa có nơi giảng dạy chính thức,

hoặc các giáo viên trung học phổ thông có kinh nghiệm giảng dạy phù hợp

đối tượng, đã cộng tác giảng dạy với các nhà trường ngoài công lập nhiều

năm, ngay từ những ngày đầu mới thành lập trường. Cá biệt có trường còn

mời cả những giảng viên các trường cao đẳng, đại học tham gia công tác

giảng dạy của nhà trường.

+ Về trình độ đào tạo: 100% giáo viên tham gia giảng dạy và công tác tại

các trường nghiên cứu đạt chuẩn theo quy định; được đào tạo từ Đại học trở lên,

có khoảng 5 – 6 % giáo viên đạt trình độ trên chuẩn (thạc sĩ trở lên).

+ Về độ tuổi: phần lớn các trường được nghiên cứu đều có một đội ngũ

giáo viên với độ tuổi trung bình tương đối cao

+ Về cơ cấu đội ngũ giáo viên: nhìn chung sự phân bố trong cơ cấu đội

ngũ giáo viên giữa các trường chưa thật sự đồng bộ và hài hoà. vẫn còn tình

trạng thiếu giáo viên hoặc thừa giáo viên ở một số bộ môn (những môn còn

thiếu: kỹ thuật, sinh vật, lý; những môn thừa: ngoại ngữ, văn, toán...). Trao

đổi với chúng tôi một số hiệu trưởng cho rằng tình trạng này xảy ra là do chỉ

tiêu đào tạo ngay từ các trường sư phạm đã chưa thật hợp lý, mặt khác còn do

đặc thù của từng bộ môn.

+ Về thâm niên: đa số các giáo viên công tác tại trường hiện nay có số

năm làm việc tương đối dài, có 45,2 % giáo viên đã tham gia công tác dạy học

từ 10 – 20 năm.



45



Biểu đồ 2.1: Thực trạng về trình độ

đào tạo của GV năm học 2008-2009

60.00%



59.10%

52.90%



52.30%



50.00%

41.50%



40.00%

30.00%

20.00%



25%



21.10%

19.70%



10.00%



ĐHSP

Sau ĐH

ĐH #



7.30%



6.10%



B



C



0.00%



A



Chú thích: -A: Trường THPT DL Nguyễn Công Trứ

-B: Trường THPT DL Trần Nhật Duật

-C: Trường THPT DL Trần Quang Khải

(Nguồn: Trường THPT Nguyễn Công Trứ, THPT Trần Nhật Duật, THPT

Trần Quang Khải)



Biểu đồ 2.2: Thực trạng thâm niên công tác

của GV trƣờng THPT DL Nguyễn Công Trứ

22.50%



Dƣới 5 năm

6-10 năm



42.20%



11-20 năm

Hơn 20 năm

16.90%

18.30%



( Nguồn: Trường THPT Nguyễn Công Trứ )

46



Biểu đồ 2.3: Thực trạng thâm niên công tác

của GV trƣờng THPT DL Trần Nhật Duật

Dƣới 5 năm



19.11%



6-10 năm



39.70%



11-20 năm

Hơn 20 năm

25%

16.10%



( Nguồn: Trường THPT Trần Nhật Duật )



Biểu đồ 2.4: Thực trạng thâm niên công tác

của GV trƣờng THPT DL Trần Quang Khải

15.38%

38.40%

18%



27.60%



( Nguồn: Trường THPT Trần Quang Khải)



47



Dƣới 5 năm

6-10 năm

11-20 năm

Hơn 20 năm



Nguồn giáo viên trong các trường được hợp đồng lao động có 2 loại:

- Một là, giáo viên có kinh nghiệm sư phạm, có kết quả giảng dạy tốt

ở các trường THPT, các trường cao đẳng, đại học trong thành phố, hoặc vài

tỉnh lân cận; giáo viên giỏi đã nghỉ hưu nhưng còn sức khoẻ để giảng dạy;

những giáo viên này được nhà trường hợp đồng giảng dạy, hưởng lương

theo số tiết dạy nhất định, theo quy định cụ thể của bộ môn, thường gọi là

giáo viên thỉnh giảng.

- Hai là, giáo viên còn trẻ mới ra trường nhưng có trình độ chuyên môn

sâu, vững vàng, năng nổ, nhiệt tình trong giảng dạy; có nhiều giáo viên trong

số này chưa có nơi giảng dạy chính thức đã được nhà trường ký hợp đồng là

giáo viên cơ hữu của nhà trường (khoảng 30% trong tổng số giáo viên),

hưởng lương tháng, và được tham gia hoạt động đoàn thể trong nhà trường

như: tham gia vào tổ chức công đoàn, đoàn thanh niên, chi bộ Đảng... được

hưởng các quyền lợi theo chế độ chính sách Nhà nước ban hành đối với người

lao động hợp đồng trong các cơ quan: được mua bảo hiểm, được chăm sóc

sức khoẻ...

Từ nguồn số liệu thu được về tình hình đội ngũ như trên đã phản ánh:

- Về mặt số lượng: đội ngũ giáo viên ở các trường trung học phổ thông

ngoài công lập hiện nay tương đối đạt yêu cầu. Tuy nhiên do phần lớn các

giáo viên là giáo viên hợp đồng thỉnh giảng (60 – 70 %) nên vấn đề quản lý

hành chính đối với toàn đội ngũ là tương đối khó khăn. Do đó cũng ảnh

hưởng rất lớn đến công tác phát triển, quản lý đội ngũ một cách lâu dài và bền

vững, tác động trực tiếp đến hiệu quả công tác giáo dục học sinh.

- Về trình độ chuyên môn nghiệp vụ: hầu hết đạt chuẩn và trên chuẩn

đào tạo. Chỉ còn một số rất ít giáo viên được tuyển chọn chưa qua đào tạo

ĐHSP (khoảng 3%) mà được đào tạo ở ĐH tổng hợp cũ hoặc ĐHQG. Đây

cũng là điểm thuận lợi rất lớn cho hoạt động đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ. Cán

bộ quản lý trường học hết sức quan tâm và tạo điều kiện cho giáo viên tham

48



gia học tập bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn hàng năm (89,7% giáo

viên tham gia khảo sát đã đánh giá điều này; 90% cán bộ quản lý đánh giá

làm tốt và rất tốt công việc này). Tuy nhiên phần lớn các giáo viên tham gia

giảng dạy tại các trường ngoài công lập là giáo viên hợp đồng hưởng lương

theo giờ dạy, có trình độ tay nghề khá vững vàng nên họ thường có hợp đồng

giảng dạy với một số trường khác nữa. Vì thế giáo viên chưa đầu tư thích đáng

thời gian vào việc học cao hơn (như học sau đại học, học ngoại ngữ...) mà chỉ

sắp xếp thời gian tham gia các đợt học tập, bồi dưỡng ngắn ngày.

Theo đánh giá xếp loại giáo viên qua thanh tra toàn diện các trường

trong năm học 2008 – 2009 của Sở Giáo dục - Đào tạo Nam Định chúng tôi

thu được kết quả sau:

Bảng 2.3: Đánh giá, xếp loại giáo viên

Xếp loại thực hiện quy chế



Xếp loại tiết dạy (%)

Trƣờng



chuyên môn (%)

Tốt



Khá



Đạt



14,2



Chƣa

đạt

0



45,2



48,5



9,1



Chƣa

đạt

2,8



59,6



15,7



0



33,6



51,9



9,6



4,9



60,1



12,8



0



37,4



46,8



8,3



7,5



Giỏi



Khá



Đạt



A



28,5



57,3



B



24,7



C



27,1



Chú thích:



A - Trường DL Nguyễn Công Trứ

B - Trường DL Trần Nhật Duật

C - Trường DL Trần Quang Khải



( Nguồn: Trường THPT Nguyễn Công Trứ, THPT Trần Nhật Duật,

THPT Trần Quang Khải)



49



Bảng trên cho thấy:

Phần lớn giáo viên các trường qua thanh tra toàn diện đều được đánh

giá từ khá trở lên: có 83,80 % xếp loại giỏi, khá về tiết dạy và 85,4 % xếp loại

tốt, khá về thực hiện quy chế chuyên môn.

Không có giáo viên nào bị đánh giá là chưa đạt yêu cầu về xếp loại tiết

dạy, song cũng có một số ít giáo viên bị đánh giá là chưa đạt yêu cầu về thực

hiện quy chế chuyên môn (khoảng 5,38%).

2.2.2. Thực trạng về chất lượng đội ngũ giáo viên

Để tìm hiểu thực trạng về những phẩm chất, năng lực chuyên môn của

đội ngũ giáo viên các trường được nghiên cứu, chúng tôi đã tiến hành sử dụng

phiếu hỏi ý kiến (trong phần phụ lục) cho cán bộ quản lý nhà trường, cho đại

bộ phận giáo viên và học sinh ở các khối lớp trong nhà trường; bên cạnh đó

chúng tôi cũng tiến hành nghiên cứu hồ sơ sổ sách giáo viên, hồ sơ quản lý;

trò chuyện với giáo viên, cán bộ quản lý nhà trường, một số cán bộ, chuyên

viên sở giáo dục đào tạo... về các tiêu chí đánh giá phẩm chất, năng lực

chuyên môn của đội ngũ giáo viên.

Sau khi thu thập số liệu tham khảo ý kiến và qua phân tích những số

liệu thống kê, chúng tôi thu được một số kết quả và trình bày trong phần

sau.

- Phẩm chất chính trị đạo đức và năng lực sư phạm

+ Đánh giá của học sinh:

Chúng tôi tiến hành hỏi ý kiến 200 học sinh ở cả ba khối lớp 10, 11, 12

( có 196 học sinh tham gia) của các trường được nghiên cứu. Kết quả khảo sát

được phản ánh trong bảng dưới đây.



50



Bảng 2.4: Kết quả khảo sát ý kiến học sinh về phẩm chất nhân cách

và năng lực sư phạm của đội ngũ giáo viên

STT



Mức độ đánh giá (%)



Tiêu chí đánh giá



Rất

tốt



Tốt



Khá T.Bình Yếu



1



Phẩm chất chính trị đạo đức



51,54 35,20 11,73



2



Lòng yêu nghề, yêu học sinh



57,14 39,29



3



Khả năng truyền đạt bằng

ngôn ngữ



48,98 45,41



4



Khả năng tổ chức và lôi cuốn

học sinh vào các hoạt động

42,86 31,12 15,31

tiếp thu bài giảng



5



Khả năng xử lý các tình huống

38,78 42,35 11,73

sư phạm



1,53



0



3,57



0



0



5,61



0



0



10,71



0



7,14



0



+ Đánh giá của giáo viên:

Tiến hành lấy ý kiến khảo sát qua phiếu hỏi với 150 giáo viên ở các

trường được nghiên cứu. Kết quả khảo sát được phản ánh trong bảng sau.

Bảng 2.5: Kết quả khảo sát ý kiến giáo viên về phẩm chất nhân cách

và năng lực sư phạm của đội ngũ giáo viên

Mức độ đánh giá (%)

STT



Tiêu chí đánh giá



Rất

tốt



Tốt



Khá



T.Bình



Yếu



1



Phẩm chất chính trị đạo đức



52



46



2



0



0



2



Lòng yêu nghề, yêu học sinh



40,7



53,3



4,7



1,3



0



3



Có năng lực nghiệp vụ sư

phạm



38,7



30



13,3



9,7



8,3



51



+ Đánh giá của đội ngũ cán bộ quản lý nhà trường:

Sau khi tiến hành lấy ý kiến của hiệu trưởng và phó hiệu trưởng các

trường nghiên cứu chúng tôi thu được các ý kiến phản ánh trong bảng sau.

Bảng 2.6: Kết quả khảo sát ý kiến cán bộ quản lý về phẩm chất nhân cách

và năng lực sư phạm của đội ngũ giáo viên

Mức độ đánh giá (%)

Tiêu chí đánh giá



STT



Rất



Tốt



Khá T.Bình Yếu



tốt

1



Phẩm chất chính trị đạo đức



50



50



0



0



0



2



Lòng yêu nghề, yêu học sinh



30



50



20



0



0



70



20



10



0



0



3



Có năng lực nghiệp vụ sư

phạm

Nhận xét về các kết quả như sau:



Phần lớn các đối tượng tham gia đánh giá đều cho rằng về phẩm chất

chính trị đội ngũ giáo viên đạt ở mức cao nhất (trên 50%). Điều này cho thấy

đại đa số giáo viên hiểu biết và thực hiện rất tốt các quan điểm, chủ trương,

đường lối của Đảng và Nhà nước. Các giáo viên thực sự là tấm gương sáng,

tận tuỵ, gương mẫu trong công việc, tôn trọng thương yêu con người (có

75,0% đánh giá của CBQL, trên 90% đánh giá của GV, HS xếp tiêu chí này ở

thang bậc tốt và rất tốt). Đây là một phẩm chất rất quan trọng đối với người

làm công tác giáo dục, nó giúp cho người thầy thực hiện được mục tiêu cơ

bản của các nhà giáo dục, đó là “không có học sinh hư, chỉ có thầy giáo

không biết cách giáo dục học sinh mà thôi”.

Về trình độ nghiệp vụ sư phạm: hầu hết số người tham gia đánh giá đều

xếp loại các tiêu chí ở mức độ tương đối cao của thang bậc. Có 93,39% học

sinh đánh giá cao về khả năng truyền đạt bằng ngôn ngữ của đội ngũ giáo

52



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (136 trang)

×