1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.61 MB, 109 trang )


- “Biện pháp phối hợp công tác giữa bí thƣ Đoàn TNCS HCM và Hiệu

trƣởng trƣờng THPT tỉnh Trà Vinh nhằm tăng cƣờng kết quả giáo dục đạo

đức cho học sinh: của thạc sỹ Nguyễn Thành Tâm (năm 2006).

- “Biện pháp tổ chức phối hợp các lực lƣợng trong việc giáo dục đạo

đức cho học sinh trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” của thạc sỹ Vƣơng

Quốc Tuấn (năm 2006).

Nhìn chung các đề tài nghiên cứu đều đi sâu vào nghiên cứu tổ chức

phối hợp các lực lƣợng ở tỉnh Bắc Ninh, Trà Vinh, thành phố Hồ Chí Minh,

chƣa có đề tài nào nghiên cứu ở một trƣờng THPT của một huyện ven biển

nhƣ huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định. Vì vậy chúng tôi chọn đề tài này với

hy vọng góp phần nhỏ bé vào việc nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức học

sinh ở trƣờng THPT Giao Thuỷ, huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định.

1.2. Một số khái niệm cơ bản

1.2.1. Đạo đức và giáo dục đạo đức

1.2.1.1.Đạo đức

- Trong mối quan hệ vô cùng phong phú và phức tạp với thế giới xung

quanh con ngƣời phải luôn giao tiếp, cƣ xử. Nếu thái độ, hành vi của họ phù

hợp với yêu cầu, lợi ích chung của cộng đồng, phù hợp với hạnh phúc và tiến

bộ chung của xã hội thì con ngƣời đó đƣợc đánh giá là có đạo đức. Ngƣợc lại

hành vi, thái độ của họ không phù hợp, gây tổn hại tới lợi ích ngƣời khác thì

bị xã hội chê trách, lên án, thì ngƣời đó bị coi là thiếu đạo đức.

Vậy đạo đức là gì? Có nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm này,

tuy nhiên có thể hiểu khái niệm này dƣới hai góc độ:

- Góc độ xã hội:

Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt đƣợc phản ánh dƣới

dạng những nguyên tắc, yêu cầu, chuẩn mực điều chỉnh (hoặc chi phối) hành

vi của con ngƣời trong các mối quan hệ giữa con ngƣời với nhau và với chính

bản thân mình.

- Góc độ cá nhân:

8



Đạo đức chính là những phẩm chất, nhân cách của con ngƣời phản ánh

ý thức, tình cảm, ý chí, hành vi, thói quen và cách ứng xử của họ trong các

mối quan hệ giữa con ngƣời với tự nhiên, với xã hội, giữa bản thân họ với

ngƣời khác và với chính bản thân mình.

Theo quan điểm của học thuyết Mac-Lê nin: “Đạo đức là một hình thái

ý thức xã hội có nguồn gốc từ lao động sản xuất và đời sống cộng đồng xã

hội. Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội phản ánh và chịu sự chi phối của

tồn tại xã hội. Vì vậy tồn tại xã hội thay đổi thì ý thức xã hội (đạo đức) cũng

thay đổi theo và nhƣ vậy đạo đức xã hội luôn mang tính lịch sử, tính giai cấp

và tính dân tộc”.

Chuẩn mực đạo đức phản ánh của một thế hệ phản ánh thế giới tinh

thần, trình độ văn minh của thế hệ đó. Tiêu chuẩn đạo đức chính là sự kết tinh

những gì tinh tuý nhất, giá trị nhất mà con ngƣời đã tích luỹ đƣợc trong quá

trình phát triển nền văn hoá nhân loại.

Chuẩn mực đạo đức giúp con ngƣời điều chỉnh những mối quan hệ hiện

hữu giữa con ngƣời với thế giới xung quanh, những mối quan hệ đó phụ thuộc

vào đặc điểm của chế độ xã hội nên đạo đức luôn mang tính giai cấp. Đạo đức

là một hình thái ý thức xã hội, nó quan hệ mật thiết với các hình thái ý thức xã

hội khác nhƣ chính trị, hệ thống quan điểm, tƣ tƣởng, thể hiện lợi ích căn bản

của một giai cấp nhất định.

Đạo đức cũng gắn bó với pháp luật, nó cùng có mục đích, nhiệm vụ

nhằm điều chỉnh đánh giá các mối quan hệ giữa con ngƣời với thế giới xung

quanh.

Đạo đức và pháp luật đều chống lại cái ác, làm điều thiện, xây dựng

cuộc sống bình yên, tƣơi đẹp.

Các giá trị đạo đức truyền thống tồn tại và phát triển trong xã hội dƣới

dạng đối lập sau:

- Thiện và ác

- Có lƣơng tâm và bất lƣơng

9



- Có trách nhiệm và tắc trách

- Hiếu nghĩa và bất hiếu, bất nghĩa

- Vinh và nhục

- Hạnh phúc và bất hạnh

Các giá trị đạo đức kế thừa và phát triển các đức tính tốt đẹp:

- Tính ngay thẳng và lòng trung thực

- Tính nguyên tắc và sự kiên tâm

- Tính khiêm tốn và sự lễ độ

- Tính hào hiệp và sự tế nhị

- Tính tiết kiệm và sự giản dị

- Lòng dũng cảm và phẩm chất anh hùng.

Khái niệm đạo đức XHCN có thể tinh lƣợc trong những nguyên tắc,

yêu cầu chuẩn mực nhƣ sau:

- Yêu nƣớc, yêu CNXH

- Yêu lao động và có thái độ lao động XHCN

- Có tinh thần tập thể, ý thức cộng đồng và tính đoàn kết kỷ luật

- Tinh thần nhân đạo XHCN

- Có tinh thần quốc tế XHCN trong thời đại mới

- Nếp sống văn minh

1.2.1.2.Giáo dục đạo đức

- Giáo dục đạo đức trong nhà trƣờng là một bộ phận cực kỳ quan trọng

của quá trình sƣ phạm. Giáo dục đạo đức là giáo dục ý thức đạo đức, giáo dục

tình cảm đạo đức, giáo dục thói quen đạo đức từ đó tạo ra nhịp cầu gắn kết

con ngƣời với cuộc sống, với xã hội.

- Qúa trình giáo dục đạo đức là một bộ phậnấu thành của quá trình giáo

dục trong nhà trƣờng. Qúa trình giáo dục trong nhà trƣờng đƣợc chia làm

nhiều quá trình bộ phận: giáo dục đạo đức (đức dục); giáo dục trí tuệ (trí dục);

giáo dục thể chất; giáo dục thẩm mỹ (mỹ dục); giáo dục lao động kỹ thuật



10



tổng hợp; hƣớng nghiệp. Trong đó, giáo dục đạo đức đƣợc xem là nền tảng,

gốc rễ tạo ra nội lực tiềm tàng vững chắc cho các mặt giáo dục khác.

- Qúa trình giáo dục đạo đức có các thành tố, cấu trúc nhất định và

cùng vận động trong hệ thống. Các thành tố cơ bản đó là hoạt động của nhà

giáo dục và ngƣời đƣợc giáo dục, mục đích giáo dục, nội dung giáo dục,

phƣơng pháp và phƣơng tiện giáo dục, kết quả giáo dục…Nhà giáo dục là chủ

thể tham gia vào quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh nhằm thực hiện các

nhiệm vụ trọng yếu sau:

+ Đƣa học sinh vào hệ thống các hoạt động và quan hệ thực tiễn, quan

hệ xã hội.

+ Ngăn chặn những ảnh hƣởng tiêu cực, định hƣớng lựa chọn các ảnh

hƣởng tích cực trong quá trình lĩnh hội các giá trị đạo đức của học sinh.

+ Tổ chức các hoạt động cho học sinh để chuyển những yêu cầu của xã

hội thành phẩm chất đạo đức của học sinh.

- Mục tiêu giáo dục đạo đức trong nhà trƣờng là giúp cho học sinh nhận

thức đúng các giá trị đạo đức, biết hành động theo lẽ phải, công bằng và nhân

đạo, biết sống vì mọi ngƣời vì gia đình, vì sự tiến bộ xã hội và phồn vinh của

đất nƣớc.

- Theo GS.TS. Phạm Minh Hạc thì những chuẩn mực đạo đức của

ngƣời Việt Nam thời kỳ CNH – HĐH có thể xác định thành 5 nhóm phản ánh

các mối quan hệ chính mà con ngƣời phải giải quyết đó là nhóm chuẩn mực

đạo đức thể hiện nhận thức tƣ tƣởng chính trị; nhóm chuẩn mực đạo đức

hƣớng vào sự hoàn thiện bản thân; nhóm chuẩn mực đạo đức thể hiện quan hệ

với mọi ngƣời; nhóm chuẩn mực đạo đức thể hiện quan hệ với công việc;

nhóm chuẩn mực đạo đức liên quan đến xây dựng môi trƣờng sống.

Con đƣờng giáo dục đạo đức, phƣơng pháp giáo dục đạo đức còn phải

là: củng cố, tăng cƣờng giáo dục ở gia đình và cộng đồng, kết hợp chặt chẽ

với giáo dục nhà trƣờng trong việc giáo dục đạo đức cho mọi ngƣời trong đó

có học sinh THPT.

11



Giáo dục đạo đức học sinh THPT còn phải bằng con đƣờng tự rèn

luyện, tự giáo dục của bản thân ngƣời học sinh: “Nhà trƣờng cần phải tổ

chức quá trình giáo dục, đào tạo theo hƣớng đẩy mạnh quá trình tự đào tạo

của thế hệ trẻ, coi trọng vai trò chủ thể của thế hệ trẻ trong quá trình giáo

dục” 3, tr73-74.

Tóm lại, giáo dục đạo đức cho học sinh trong nhà trƣờng là một bộ

phận cực kỳ quan trọng của quá trình giáo dục. Qúa trình giáo dục đạo đức

cho học sinh phải tuân thủ theo các quy luật phát triển nhân cách để đạt đƣợc

tới mục tiêu giáo dục.

1.2.2. Các lực lượng tham gia giáo dục đạo đức học sinh

Giáo dục của xã hội hiểu theo nghĩa rộng là một nền giáo dục đƣợc tổ

chức và tiến hành trong các cơ quan do Nhà nƣớc hoặc xã hội thiết lập và

trong các tổ chức, các đoàn thể xã hội.

Đó là một nền giáo dục do xã hội và Nhà nƣớc cung cấp các phƣơng

tiện và đảm nhận các chi phí, đồng thời đƣợc các lực lƣợng và các thành viên

trong xã hội tham gia tổ chức và tiến hành quá trình đào tạo thế hệ trẻ ở trong

trƣờng cũng nhƣ ngoài trƣờng.

Song theo nghĩa hẹp, giáo dục xã hội chỉ bao gồm hoạt động giáo dục

do các đoàn thể nhân dân tham gia gánh vác giáo dục học sinh cùng nhà

trƣờng, gia đình nhƣ Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Hội cựu chiến binh… ở

địa phƣơng, các Hội (chi Hội) quần chúng về văn hoá, khoa học, kỹ thuật… ở

địa phƣơng.

Trong phạm vi đề tài này thì chúng tôi quan niệm rằng lực lƣợng giáo

dục tham gia vào quá trình giáo dục đạo đức học sinh trƣờng THPT không chỉ

là nhà trƣờng mà còn là gia đình và các lực lƣợng xã hội (Đảng, chính quyền,

đoàn thể và các tổ chức xã hội khác). Trong đó các lực lƣợng giáo dục chính là:

*Nhà trƣờng:

- Là tổ chức xã hội đặc thù với tổ chức chặt chẽ về mặt cấu trúc có

nhiệm vụ chuyên biệt là “Nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, phát hiện

12



bồi dƣỡng nhân tài cho đất nƣớc, trong đó có nhiệm vụ giáo dục, hình thành

nhân cách cho trẻ em theo những định hƣớng của xã hội”.

- Qúa trình thể hiện chức năng trên là quá trình tổ chức các hoạt động

dạy học và giáo dục theo chƣơng trình đƣợc hoạch định chặt chẽ, khoa học.

- Nhà trƣờng có vai trò chủ đạo trong việc giáo dục đạo đức cho học

sinh vì:

+ Nhà trƣờng có nhiệm vụ, chức năng thực hiện mục tiêu giáo dục, đào

tạo nhân cách.

+ Nhà trƣờng có nội dung và phƣơng pháp giáo dục chọn lọc, tổ chức

chặt chẽ, khoa học.

+ Nhà trƣờng là lực lƣợng giáo dục của xã hội mang tính chuyên biệt.

+ Nhà trƣờng là môi trƣờng giáo dục có tính sƣ phạm có tác động tích

cực đến giáo dục đạo đức cho học sinh.

Nhà trƣờng có vai trò chủ đạo trong việc phối hợp với gia đình và các

lực lƣợng xã hội khác để giáo dục đạo đức cho học sinh.

*Gia đình:

- Gia đình là tế bào xã hội, là nơi con ngƣời sinh sống, lớn lên và hình

thành nhân cách của mình. Gia đình là cơ sở để duy trì nòi giống và là cơ sở

của việc giáo dục thế hệ trẻ. Không có gia đình thì xã hội không thể tồn tại và

phát triển.

- Giáo dục con cái trong gia đình không phải chỉ là công việc riêng tƣ

của bố, mẹ mà còn là trách nhiệm, đạo đức và nghĩa vụ công dân của ngƣời

làm cha, mẹ. Luật hôn nhân và gia đình đã ghi rõ: “Cha mẹ có nghĩa vụ

thƣơng yêu, nuôi dƣỡng giáo dục con, chăm lo việc học tập và sự phát triển

lành mạnh của con về thể chất, trí tuệ và đạo đức…Cha mẹ phải làm gƣơng

tốt cho con về mọi mặt và phối hợp chặt chẽ với nhà trƣờng và các tổ chức xã

hội trong việc giáo dục con cái”.

- Khả năng giáo dục của gia đình là rất to lớn vì đựoc dựa trên những

tình cảm máu mủ, ruột thịt, tình thƣơng yêu sâu sắc của cha mẹ đối với con

13



cái và tình cảm kính yêu, biết ơn của con cái đối với cha mẹ. Bên cạnh những

tác động giáo dục của gia đình còn là tác động thƣờng xuyên, lâu dài trong

các tình huống khác nhau, các loại hoạt động đa dạng trong gia đình.

*Các lực lƣợng xã hội tham gia giáo dục:

Điều 97 Luật gáio dục năm 2005 đã nêu rõ: “Các lực lƣợng xã hội bao

gồm các cơ quan Nhà nƣớc, tổ chức chính trị, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang

nhân dân, tổ chức kinh tế, các đoàn thể quần chúng…Góp phần xây dựng môi

trƣờng giáo dục lành mạnh, an toàn, nhăn chặn những hoạt động có ảnh

hƣởng xấu đến thế hệ trẻ, tạo điều kiện để thể hệ trẻ đƣợc vui chơi hoạt động

văn hoá, TDTT lành mạnh…hình thành nhân cách, đạo đức con ngƣời mới”.

1.2.3.Tổ chức phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục

đạo đức học sinh

Phối hợp giữa nhà trƣờng, gia đình và các lực lƣợng giáo dục khác

trong xã hội nhằm giáo dục đạo đức học sinh là tác động vào các đối tƣợng,

tạo ra mối liên hệ, tác động có hƣớng, có tính thống nhất, tập trung để huy

động sức mạnh tổng hợp của các lực lƣợng giáo dục trong xã hội nhằm giáo

dục đạo đức học sinh.

Để tạo ra sự phối hợp công tác quản lý cần:

- Tổ chức mối liên hệ nhà trƣờng với gia đình học sinh trong việc giáo

dục đạo đức học sinh là mối liên hệ biện chứng:

+ Nhà trƣờng cần giúp đỡ, hỗ trợ cụ thể cho các bậc cha mẹ học sinh

trong việc giáo dục, giúp họ nắm đƣợc nội dung, yêu cầu của từng lứa tuổi,

phƣơng pháp giáo dục đạo đức phù hợp trong gia đình, nắm đƣợc chính sách

giáo dục đồng thời giúp họ thấy đƣợc trách nhiệm, nghĩa vụ của bậc cha mẹ

trong việc giáo dục con cái.

+ Mặt khác gia đình với tƣ cách là chủ thể giáo dục, gia đình có trách

nhiệm chủ động phối hợp với nhà trƣờng trong việc giáo dục con cái mình, tránh

tự đề ra những yêu cầu giáo dục đi ngƣợc với mục tiêu, nhiệm vụ nhà trƣờng yêu

cầu hoặc khoán trắng cho nhà trƣờng việc giáo dục đạo đức con em mình.

14



- Tổ chức mối liên hệ giữa nhà trƣờng với các lực lƣợng giáo dục khác

trong xã hội nhờ đó tạo nên một môi trƣờng giáo dục đúng đắn, rộng khắp

toàn xã hội. Tạo ra quá trình giáo dục thống nhất và liên tục trong không gian

và theo thời gian, có tác động trực tiếp đến việc hình thành nhân cách cho thế

hệ trẻ, vừa tạo điều kiện vật chất và tinh thần thuận lợi cho việc giáo dục của

nhà trƣờng và gia đình.

- Tổ chức mối liên hệ giữa gia đình và các lực lƣợng giáo dục khác

trong xã hội sao cho gia đình phát huy đƣợc tính định hƣớng, tổ chức cho trẻ

tham gia vào các hoạt động xã hội vì xã hội là môi trƣờng giáo dục tốt nhất

cho trẻ, giúp trẻ nhận thức đúng và tránh xa các tệ nạn xã hội. Mặt khác, các

lực lƣợng xã hội đông đảo tạo một môi trƣờng rộng lớn có ảnh hƣởng rất to

lớn, mạnh mẽ đến cuộc sống hàng ngày của trẻ.

Việc kết hợp giáo dục giữa nhà trƣờng, gia đình và các lực lƣợng giáo

dục khác trong xã hội từ lâu đƣợc xem là nguyên lý cơ bản của giáo dục, vận

dụng và quán triệt điều đó vào hoạt động thực tiễn sẽ đảm bảo cho giáo dục

giữ vững đƣợc chất lƣợng, phát triển lành mạnh và bền vững. Vấn đề này đã

đƣợc thực tiễn giáo dục kiểm chứng từ lâu, không chỉ ở phía các nhà giáo dục

Macxit mà còn là chân lý phổ biến, đƣợc đông đảo các nhà ngiên cứu và hoạt

động giáo dục toàn cầu tôn trọng, áp dụng theo cách riêng của họ.

1.3. Mục tiêu giáo dục phổ thông và định hƣớng giáo dục đạo đức học

sinh THPT trong giai đoạn hiện nay

1.3.1.Mục tiêu giáo dục phổ thông

Theo Luật Giáo dục 2005: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con ngƣời

Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và

nghề nghiệp, trung thành với lý tƣởng độc lập dân tộc và CNXH; hình thành

và bồi dƣỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu

cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. 32, tr1

“Mục tiêu giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về

đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực

15



cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con ngƣời Việt

Nam XHCN, xây dựng tƣ cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học

sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và

bảo vệ Tổ quốc”. 32, Điều 27

Giáo dục THPT nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết qủ

của giáo dục THCS, hoàn thiện học vấn phổ thông và những hiểu biết thông

thƣờng về kỹ trhuật và hƣớng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân

để lựa chọn hƣớng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp học

nghề hoặc đi vào cuộc sống.

1.3.2.Định hướng giáo dục đạo đức học sinh THPT trong giai đoạn hiện nay

Cấp THPT là cấp học cuối, phải định hình nhân cách cho học sinh để

học sinh sau khi ra trƣờng có thể tiếp tục học lên bậc cao hơn hoặc lao động

sản xuất, trở thành công dân trong thời đaị mới.

Những phẩm chất nhân cách con ngƣời Việt Nam trong giai đoạn CNH

– HĐH đất nƣớc nhƣ Đại hội Đảng lần thứ IX đã chỉ rõ: “Xây dựng con

ngƣời Việt Nam phát triển toàn diện về chính trị, tƣ tƣởng, trí tuệ, đạo đức,

thể chất, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái khoan dung,

tôn trọng tình nghĩa, lối sống có văn háo, quan hệ hài hoà trong gia đình, cộng

đồng và xã hội”. 29, 114

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 BCH TW khoá VIII đã đƣa ra những tiêu

chuẩn xây dựng con ngƣời Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới với

những đức tính sau:

- Có tinh thần yêu nƣớc, tự cƣờng dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc

và CNXH, có ý chí vƣơn lên đƣa đất nƣớc thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, đoàn

kết với nhân dân thế giới trong sự nghiệp đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân

tộc, dân chủ và tiến bộ xã hộ.

- Có ý thức tập thể, đoàn kết, phấn đấu vì lợi ích chung.



16



- Có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần kiệm, trung thực,

nhân nghĩa, tôn trọng kỷ cƣơng phép nƣớc, quy ƣớc của cộng đồng, có ý thức

bảo vệ và cải thiện môi trƣờng sinh thái.

- Lao động chăm chỉ với lƣơng tâm nghề nghiệp, có kỹ thuật, sáng tạo,

năng suất cao vì lợi ích của bản thân, gia đình, tập thể và xã hội.

- Thƣờng xuyên học tập, nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên môn, trình

độ thẩm mỹ và thể lực. 27, tr 58-59

Xây dựng con ngƣời phát triển toàn diện và hài hoà nhân cách: cao về

trí tuệ, cƣờng tráng về thể chất, phong phú về tâm hồn, trong sáng về đạo đức.

Đây là mẫu nhân cách con ngƣời mới tƣơng lai mà chúng ta cần phấn đấu

vƣơn tới.

1.3.3. Nhiệm vụ giáo dục đạo đức học sinh phổ thông trong giai đoạn hiện nay

- Trong công tác giáo dục, Hồ Chí Minh coi trọng cả “đức” và “tài”, đặt

giáo dục đạo đức lên hàng đầu. Ngƣời chỉ rõ vai trò và sức mạnh to lớn của

đạo đức, khẳng định đạo đức là cái gốc của mỗi con ngƣời, là nền tảng vững

chắc của ngƣời cách mạng. “Tâm” có sáng thì “Trí” mới sáng, có cái “Đức”

thì cái “Tài” mới đƣợc phát huy, không có đạo đức cách mạng thì có tài cũng

vô dụng.

- Nhận thức về vai trò của đạo đức trong quá trình giáo dục, Nghị quyết

Hội nghị lần 5 BCH TW Đảng khoá VIII đã nêu rõ: “Nâng cao dân trí, bồi

dƣỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con ngƣời Việt Nam là nhân tố quyết

định thắng lợi của công cuộc CNH – HĐH”. 27, tr 21

Nghị quyết đã chỉ rõ: Lấy việc phát huy nguồn lực con ngƣời làm yếu

tố cơ bản cho sự phát triển nhanh, bền vững, làm cho con ngƣời trở thành

những ngƣời lao động có những năng lực và phẩm chất mới, đáp ứng những

yêu cầu to lớn của sự phát triển kinh tế - xã hội, của sự nghiệp CNH – HĐH

đất nƣớc.

- Luật Gíáo dục của nƣớc ta năm 2005 đã khẳng định: Giáo dục và đào

tạo đƣợc coi là Quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Nhà nƣớc và của toàn

17



dân. Những nội dung cơ bản của Luật Giáo dục cũng thể hiện quan điểm của

Nhà nƣớc về giáo dục đạo đức cho học sinh, đó là:

+ Tính chất, nguyên lý giáo dục:

Nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục XHCN, có tính nhân dân, dân

tộc, khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mac-Lênin và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh

làm nền tảng.

Hoạt động giáo dục phải đƣợc thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với

hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn,

giáo dục nhà trƣờng kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội.

+ Về nội dung, phƣơng pháp:

Nội dung: Đảm bảo tính cơ bản, toàn diện, thiết thực, hiện đại và có hệ

thống, coi trọng giáo dục tƣ tƣởng và ý thức công dân.

Phƣơng pháp: Phát huy tính tích cực, tự giác chủ động sáng tạo của

học sinh.

Trách nhiệm của gia đình: Tạo điều kiện cho con em đƣợc học tập, rèn

luyện, tham gia các hạot động của nhà trƣờng.

Trách nhiệm của xã hội: Góp phần xây dựng phong trào học tập và môi

trƣờng giáo dục lành mạnh, an toàn, ngăn chặn các hoạt động có ảnh hƣởng

xấu đến thanh niên, thiếu niên và nhi đồng.

Luật Giáo dục đã thể hiện rõ quan điểm của Nhà nƣớc về giáo dục đạo

đức cho học sinh, khẳng định tầm quan trọng của giáo dục đạo đức trong quá

trình giáo dục.

Theo Quyết định 329: Mục tiêu và kế hoạch đào tạo phổ thông do Bộ

trƣởng Bộ giáo dục và đào tạo ký ngày 31/3/1990 quy định nội dung giáo dục

THPT về thế giới quan, tƣ tƣởng, chính trị, pháp luật, đạo đức và cƣ xử có

văn hoá. 11, tr 144-146

* Về kiến thức:

- Hiểu bức tranh khoa học của thế giới, quy luật phát triển tự nhiên xã

hội, con ngƣời.

18



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (109 trang)

×