1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUẢN LÝ ĐÀO TẠO TRÌNH ĐỘ TRUNG CẤP NGHỀ XÂY DỰNG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.5 MB, 125 trang )


Các đề tài về quản lý đào tạo nghề như: Năm 1999, Trường Đào tạo cán

bộ công đoàn Hà Nội với đề tài: “Đánh giá thực trạng tay nghề của công nhân

Hà Nội”, đề xuất các giải pháp nâng cao tay nghề cho công nhân trong các

ngành trọng điểm của Hà Nội. Năm 2002 có bài viết “Đánh giá một cách khách

quan nhất công tác đào tạo nghề đã đạt được những thành công nhất định” của

Bộ trưởng Bộ LĐTB và XH; “Phát triển giáo dục nghề nghiệp đáp ứng quá trình

đào tạo nguồn nhân lực” (2001); Đỗ Trọng Hùng(2002) “Thực hiện tốt chiến

lược đào tạo nghề góp phần phát triển thị trường lao động” ; Tác giả Nguyễn

Minh Đường, với “Tổ chức và quản lý quá trình đào tạo” (1996); “ Đổi mới

công tác quản lý trong các trường đào tạo nghề đáp ứng sự nghiệp công ngiệp

hóa, hiện đại hóa” (Kỷ yếu hội thảo của Sở LĐTB và XH Hà Nội); “ Giáo dục

nghề nghiệp- những vấn đề và giải pháp” (2005) của tác giả Nguyễn Viết Sự;

“Định hướng nghề nghiệp và việc làm” (2004) của Tổng cục Dạy nghề...Các đề

tài đã đề cập đến chất lượng tay nghề, chất lượng công tác đào tạo nghề trong

những năm qua và đề xuất những giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề

trong thời gian tới nhằm phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Tuy nhiên, vấn đề quản lý đào tạo trình độ Trung cấp nghề nói chung

và Trung cấp nghề Xây dựng nói riêng trong nhiều năm qua chưa được

nghiên cứu một cách có hệ thống. Chính vì vậy công tác quản lý đào tạo trình

độ trung cấp nghề Xây dựng là vấn đề cần được nghiên cứu kỹ.

Vì vậy, đứng trước nhu cầu thực tế, việc nghiên cứu các biện pháp quản

lý đào tạo trình độ Trung cấp nghề Xây dựng ở Trường Cao đẳng Xây dựng

số 1 có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

góp phần thực hiện thành công các mục tiêu phát triển kinh tế.

1.2. Cơ sở lý luận về quản lý, quản lý giáo dục - đào tạo

1.2.1. Khái niệm về quản lý

Quản lý là một hiện tượng xã hội xuất hiện rất sớm, hình thành cùng

với sự xuất hiện của xã hội loài người. Nó là một phạm trù tồn tại khách quan



8



được ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi quốc gia và ở mọi

thời đại. Lịch sử đã chỉ rõ, ngay từ buổi sơ khai của loài người, để tồn tại và

phát triển, con người đã biết liên kết nhau thành các nhóm để chống lại thú dữ

và thiên nhiên. Do đó đã xuất hiện các mối quan hệ giữa con người với con

người, giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với xã hội và giữa con

người với bản thân mình. Khi xã hội loài người phát triển qua các phương

thức sản xuất khác nhau thì trình độ tổ chức và điều hành xã hội ngày càng

được nâng cao. Trong quá trình ấy đã xuất hiện một số người có năng lực chi

phối được người khác, họ điều khiển hoạt động của nhóm sao cho phù hợp

với mục tiêu chung. Những người đó đóng vai trò thủ lĩnh để quản lý nhóm,

điều này đã làm nẩy sinh nhu cầu về quản lý.

Sự phát triển của xã hội dựa vào nhiều yếu tố, trong đó có 3 yếu tố cơ

bản: Tri thức, sức lao động và trình độ quản lý. Mọi hoạt động xã hội đều cần

đến hoạt động quản lý và hoạt động quản lý cũng chính do con người tiến

hành. Người quản lý và đối tượng được quản lý, sự cần thiết của quản lý được

C.Mác viết: “Tất cả mọi lao động trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành

trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều

hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung, phát sinh

từ vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những cơ

quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm riêng lẻ tự mình điều khiển

lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”.[31, tr.34].

“Quản lý” là từ Hán Việt được ghép giữa từ “Quản” và từ “Lý”.

“Quản” là sự trông coi, chăm sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái ổn định. “Lý”

là sự sửa sang, sắp xếp, làm cho nó đổi mới phát triển. Như vậy, “Quản lý” là

trông coi, chăm sóc, sửa sang làm cho nó ổn định và phát triển.

Hệ thống ổn định mà không phát triển thì tất yếu sẽ dẫn đến suy thoái.

Hệ phát triển mà không ổn định thì tất yếu sẽ rối loạn. Điều đó có nghĩa là

hoạt động quản lý nhằm làm cho hệ thống vận động theo mục tiêu đặt ra và



9



tiến tới trạng thái có tính chất lượng mới. Quản lý tạo ra sự ổn định cho sự

phát triển. Xã hội muốn phát triển phải chú trọng quản lý để đảm bảo cho sự

phát triển vững chắc và đúng quy luật.

Khái niệm quản lý được nhiều tác giả trong và ngoài nước quan niệm

theo các cách tiếp cận khác nhau.

Ở ngoài nước, có một số tác giả định nghĩa khái niệm như sau:

Fredrick Winslow Taylor (1856-1915) thì khẳng định: “Quản lý là biết

được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ

đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [35, tr 89 ].

Theo Harold Koontz, Cyri O’donnell và Heinz Weihrich thì “Quản lý

là một hoạt động thiết yếu bảo đảm sự hoạt động nỗ lực của các cá nhân

nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức” [25, tr 33].

Các Ông Thomas. J. Robins và Wayned Morrison lại cho rằng:“Quản lý

là một nghề nhưng cũng là một nghệ thuật, một khoa học” [40, tr 19 ].

Ở Việt Nam, có một số khái niệm quản lý như sau:

Trong giáo trình quản lý hành chính Nhà nước của Học viện Hành chính

Quốc gia chỉ rõ: “ Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã

hội và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy

luật, đạt tới mục đích đã đề ra và đúng ý chí của người quản lý” [19].

Các tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ thì quan niệm rằng: “Quản

lý là một quá trình có định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý là một hệ

thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất

định. Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà

người quản lý mong muốn” [32, tr.17 ].

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: Bản chất của hoạt động quản lý nhằm

làm cho hệ thống vận hành theo mục tiêu đặt ra và tiến đến các trạng thái có

tính chất lượng mới.



10



Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý một hệ thống xã hội là tác động có

mục đích đến tập thể người-thành viên của hệ-nhằm làm cho hệ vận hành

thuận lợi và đạt tới mục đích dự kiến” [23].

Tóm lại: Các quan niệm trên đây, tuy mỗi quan niệm nhấn mạnh mặt

này hay mặt khác nhưng đều có điểm chung thống nhất xác định: Quản lý là

hoạt động có tổ chức, có mục đích nhằm đạt tới mục tiêu xác định. Hay nói

một cách khái quát nhất: Quản lý là một quá trình tác động có mục đích, có kế

hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đạt được

các mục tiêu của tổ chức đã đề ra.

Khái niệm quản lý bao hàm một ý nghĩa chung là:

- Quản lý là một thuộc tính bất biến nội tại của mọi quá trình lao động

xã hội. Lao động quản lý là điều kiện quan trọng để làm cho xã hội loài người

tồn tại, vận hành và phát triển.

- Yếu tố con người giữ vai trò trung tâm của hoạt động quản lý.

- Quản lý là những tác động có tính hướng đích.

- Hoạt động quản lý được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội.

- Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình

xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích đã đề ra. Sự

tác động của quản lý, phải bằng cách nào đó để người chịu quản lý luôn luôn

hồ hởi, phấn khởi đem hết năng lực và trí tuệ để sáng tạo ra lợi ích cho bản

thân, cho tổ chức và cho cả xã hội.

Trong công tác quản lý bao giờ cũng có chủ thể quản lý, đối tượng

quản lý quan hệ với nhau bằng các tác động quản lý. Quá trình quản lý phải

có mục đích, nhiệm vụ hoạt động chung. Khi thực hiện nhiệm vụ quản lý, chủ

thể quản lý luôn hướng theo mục đích quản lý đã xác định để điều khiển đối

tượng bị quản lý thực hiện mục tiêu chung của tổ chức.

Như vậy, ta có thể hiểu khái niệm quản lý bao hàm các khía cạnh: Hệ

thống quản lý gồm hai hệ liên kết nhau, đó là sự liên kết giữa chủ thể quản lý



11



với đối tượng quản lý. Khi chỉ ra chủ thể quản lý thì phải chỉ ra đối tượng

quản lý và ngược lại.

Nếu ta trả lời được câu hỏi: Ai quản lý? Thì ta đã xác định được chủ thể

quản lý. Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức do

người cụ thể lập nên. Cá nhân làm chủ thể quản lý được gọi chung là cán bộ quản

lý. Nếu xét ở góc độ vĩ mô toàn cầu thì đó là Tổng thư ký Liên hợp quốc; ở một

nước là Chủ tịch hoặc Thủ tướng; ở trong một ngành là Bộ trưởng,...ở góc độ vi

mô một doanh nghiệp là Giám đốc; ở một nhà trường là Hiệu trưởng....

Còn nếu trả lời được câu hỏi: Quản lý ai? Quản lý cái gì? ta sẽ xác định

được đối tượng quản lý. Ðối tượng quản lý có thể là một cá nhân, một nhóm

hay một tổ chức hoặc có thể là một vật thể hoặc có thể là một sự việc... Khi đối

tượng quản lý là một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức được con người đại

diện có thể trở thành chủ thể quản lý cấp dưới thấp hơn theo hệ thống cấp bậc.

Ví dụ: như ở một trường thì Trưởng khoa là đối tượng quản lý của Hiệu trưởng

nhưng cũng lại là chủ thể quản lý của Trưởng tổ môn...Ðiều đó có nghĩa là khi

nói chủ thể hay đối tượng quản lý là người hoặc tổ chức được con người đại

diện phải đặt trong mối quan hệ tổ chức cụ thể.

Giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý có mối quan hệ tác động qua

lại tương hỗ nhau. Chủ thể quản lý nảy sinh các động lực quản lý, còn đối

tượng quản lý thì làm nảy sinh các giá trị vật chất và tinh thần, đáp ứng nhu

cầu của con người, thỏa mãn mục đích của chủ thể quản lý.

1.2.2. Chức năng của quản lý

Ðể đạt được những mục tiêu đã định quản lý phải thực hiện bốn chức

năng cơ bản đó là: Lập kế hoạch; Tổ chức; Chỉ đạo; Kiểm tra.

Trong đó:

1.2.2.1. Lập kế hoạch

Là chức năng cơ bản, quan trọng nhất nhằm xác định mục đích, chọn

mục tiêu, khái quát các công việc phải làm, xác định khối lượng công việc, đề



12



ra những quy định, xây dựng chương trình hành động, từ đó đề ra các giải

pháp phù hợp với các nguồn lực của hệ thống, góp phần giảm thiểu rủi ro, hạn

chế phát sinh, lãng phí. Lập kế hoạch là dự kiến những vấn đề có thể xảy ra,

những ý tưởng của chủ thể quản lý để đạt được mục đích và đi đến mục tiêu.

Nói cách khác lập kế hoạch là xác định trước xem phải làm gì, làm như thế

nào, khi nào làm và ai làm. Căn cứ thực trạng ban đầu của tổ chức và căn cứ

vào mục tiêu cần phải hướng tới để cụ thể hoá bằng những nhiệm vụ của tổ

chức trong từng thời kỳ, từng giai đoạn. Từ đó tìm ra con đường, biện pháp

đưa đơn vị đạt được mục tiêu. Ðây là bước cơ sở cho việc thực hiện các chức

năng tiếp theo của quản lý.

1.2.2.2. Tổ chức thực hiện

Là bước xác định một cơ cấu chủ định về vai trò nhiệm vụ. Tổ chức là

xây dựng quy chế, qui định rõ mối quan hệ trong bộ máy tổ chức. Xác định có

tính định tính và định lượng chức năng nhiệm vụ giữa các thành viên, giữa

các bộ phận để thông qua đó chủ thể quản lý tác động đến các khâu, các mắt

xích trong tổ chức và đối tượng quản lý để đạt hiệu quả cao nhất. Tổ chức

giúp thực hiện được những chủ trương, định hướng của kế hoạch. Từ đó, chủ

thể quản lý tác động đến đốí tượng quản lý một cách có hiệu quả bằng cách

điều phối các nguồn lực của tổ chức như nhân lực, vật lực và tài lực. Quá

trình xây dựng và hoàn thiện cơ cấu tổ chức phải đảm bảo các yêu cầu: Tính

tối ưu, tính linh hoạt, độ tin cậy và tính kinh tế. Trong quá trình xây dựng cơ

cấu tổ chức quản lý cần tính đến các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp

đó là những điều kiện, hoàn cảnh, tình huống cụ thể có ảnh hưởng trực tiếp

đến quá trình tổ chức thực hiện.

Lê Nin đã từng nói về công tác tổ chức:“Hãy cho tôi tổ chức những

người Bônsêvích chân chính có kỷ luật tôi sẽ làm đảo tung nước Nga bảo thủ,

man rợ”. Câu nói bất hủ ấy của Lê Nin cho chúng ta hiểu rõ tổ chức và vai trò

của tổ chức. Người còn nói: “Trong cuộc đấu tranh giành chính quyền, giai



13



cấp vô sản không có vũ khí nào khác hơn là tổ chức”. Khi giai cấp đã nắm

chính quyền rồi, người còn nói: “Lĩnh vực trọng yếu nhất và khó khăn nhất

của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ tổ chức”. Thực hiện nhiệm

vụ của một ngành hay một cơ quan bất kỳ nào trong hệ thống chính trị của

chúng ta cũng đòi hỏi phải có một hình thức tổ chức thích hợp.

1.2.2.3. Chỉ đạo

Là công việc thường xuyên của người quản lý nhằm tác động đến đối

tượng quản lý bằng các mệnh lệnh, đặt tất cả mọi hoạt động của bộ máy trong

tầm kiểm soát nhằm làm cho người bị quản lý luôn phục tùng, phát huy tính tự

giác và tính kỷ luật để làm việc đúng theo kế hoạch, đúng với chức năng, nhiệm

vụ đã phân công. Nói cách khác đây là quá trình tác động động viên, tạo động

lực, gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được

mục tiêu đã định. Chỉ đạo bao hàm cả liên kết, liên hệ, uốn nắn hoạt động của

người, động viên, khuyến khích họ hoàn thành nhiệm vụ. Trong chức năng chỉ

đạo, chủ thể quản lý phải trực tiếp ra quyết định (mệnh lệnh) cho nhân viên dưới

quyền và hướng dẫn, quan sát, phối hợp, động viên ... để thuyết phục, thúc đẩy

họ hoạt động đạt được các mục tiêu đó bằng nhiều biện pháp khác nhau.

1.2.2.4. Kiểm tra, đánh giá

Là nhiệm vụ quan trọng có liên quan đến mọi cấp quản lý nhằm thu

thập thông tin ngược của người quản lý để kiểm soát hoạt động của bộ máy

nhằm đo lường, phát hiện các sai sót để điều chỉnh kịp thời giúp bộ máy đạt

được mục tiêu. Để tiến hành kiểm tra, cần phải có các tiêu chuẩn, nội dung và

phương pháp kiểm tra, dựa trên các nguyên tắc khoa học để hình thành hệ

thống kiểm tra thích hợp. Có thể nói: Kiểm tra là tai mắt của quản lý.

Trong công tác lãnh đạo, quản lý và chỉ huy, Bác Hồ đã từng nói:

“Không có kiểm tra đánh giá coi như không có lãnh đạo”. Qua đó đủ thấy vai

trò kiểm tra đánh giá, rút ra bài học điều chỉnh mọi hoạt động của khách thể

quản lý là việc làm không thể thiếu của chủ thể quản lý.



14



Các chức năng quản lý tạo thành một chu trình thống nhất. Trong đó,

mỗi chức năng vừa có tính độc lập tương đối, vừa có mối quan hệ phụ thuộc

với các chức năng khác. Quá trình ra các quyết định quản lý là quá trình thực

hiện các chức năng theo một trình tự nhất định. Nhà quản lý không được bỏ

qua hay coi nhẹ bất cứ chức năng nào.

Bên cạnh bốn chức năng cơ bản nêu trên, trong quá trình quản lý cần

quan tâm thêm hai vấn đề quan trọng: Thông tin quản lý và quyết định quản lý.

Thông tin quản lý: Là dữ liệu về việc thực hiện các nhiệm vụ đã được

xử lí giúp cho người quản lý hiểu được về đối tượng mà họ đang quan tâm để

phục vụ cho việc đưa ra các quyết định cần thiết trong quá trình quản lý. Vì

thông tin là nền tảng, là huyết mạch của quản lý, không có thông tin thì không

có quản lý hoặc quản lý mắc sai phạm. Nhờ có thông tin mà sự trao đổi qua

lại giữa các chức năng được cập nhật thường xuyên, nó là cơ sở để người

quản lý đưa ra những quyết định đúng đắn, kịp thời và hiệu quả.

Quyết định quản lý: Là sản phẩm của người quản lý trong quá trình

thực hiện các chức năng quản lý.

Quá trình quản lý được thể hiện qua sơ đồ sau:

LẬP KẾ



TỔ



HOẠCH



CHỨC



Thông tin quản lý,

Quyết định quản lý



CHỈ ĐẠO



KIỂM

TRA



Sơ đồ 1.1. Quá trình quản lý



15



1.2.3. Quản lý giáo dục - đào tạo

Giáo dục là một hoạt động xã hội nhằm truyền đạt những kinh nghiệm,

những sáng tạo trong đấu tranh thiên nhiên và đấu tranh xã hội của thế hệ

trước truyền cho thế hệ sau. Nhờ vậy mà xã hội loài người được duy trì và

phát triển. Giáo dục đã xuất hiện từ lâu và mang bản chất xã hội. Giáo dục là

một bộ phận của xã hội, nên quản lý giáo dục là một loại hình của quản lý xã

hội. Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp

các lực lượng xã hội nhằm thực hiện công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu

phát triển của xã hội.

Quản lý giáo dục cũng như quản lý xã hội, là hoạt động có ý thức của

con người nhằm theo đuổi những mục đích của mình. Ở cấp vĩ mô là quản lý

một nền hay một hệ thống giáo dục. Còn ở cấp vi mô là quản lý một nhà

trường hay một cơ sở giáo dục:

Theo học giả nổi tiếng M.I Kondakốp: “Quản lý giáo dục là tập hợp

những biện pháp nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan

trong hệ thống giáo dục để tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về số

lượng cũng như chất lượng” [26, tr 93].

Tóm lại: Quản lý giáo dục chính là quá trình tác động có định hướng

của ngành giáo dục, nhà quản lý giáo dục trong việc vận dụng nguyên lý,

phương pháp chung nhất của khoa học nhằm đạt được những mục tiêu đề ra.

Những tác động đó thực chất là những tác động khoa học đến nhà trường, làm

cho nhà trường tổ chức một cách khoa học, có kế hoạch đảm bảo quá trình

giáo dục đạt được mục tiêu giáo dục.

1.3. Cơ sở lý luận về nghề, đào tạo nghề

1.3.1. Cơ sở lý luận về nghề

1.3.1.1.Khái niệm nghề

Nghề là thuật ngữ để chỉ một hình thức lao động sản xuất nào đó trong

xã hội.



16



Tác giả E.A.Klimov viết: “Nghề nghiệp là một lĩnh vực sử dụng sức lao

động vật chất và tinh thần của con người một cách có giới hạn, cần thiết cho

xã hội (do sự phân công lao động xã hội mà có). Nó tạo cho con người khả

năng sử dụng lao động của mình để thu lấy những phương tiện cần thiết cho

việc tồn tại và phát triển”. [24]

Theo tác giả Nguyễn Hùng thì:“Những chuyên môn có những đặc điểm

chung, gần giống nhau được xếp thành một nhóm chuyên môn và được gọi là

nghề. Nghề là tập hợp của một nhóm chuyên môn cùng loại, gần giống nhau.

Chuyên môn là một dạng lao động dặc biệt, mà qua đó con người dùng sức

mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần của mình để tác động vào những đối

tượng cụ thể nhằm biến đổi những đối tượng đó theo hướng phục vụ mục

đích, yêu cầu và lợi ích của con người” [ 20, tr 11].

Từ các khái niệm trên chúng ta có thể hiểu nghề nghiệp như một dạng

lao động vừa mang tính xã hội (sự phân công xã hội) vừa mang tính cá nhân

(nhu cầu bản thân ) trong đó con người với tư cách là chủ thể hoạt động đòi

hỏi để thoả mãn những yêu cầu nhất định của xã hội và cá nhân.

Mặc dù khái niệm nghề được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau song

chúng ta có thể nhận thấy một số nét đặc trưng nhất định sau:

- Đó là hoạt động, là công việc về lao động của con người được lặp đi

lặp lại.

- Là sự phân công lao động xã hội, phù hợp với yêu cầu xã hội.

- Là phương tiện để sinh sống.

- Là lao động kỹ năng, kỹ xảo chuyên biệt có giá trị trao đổi trong xã

hội đòi hỏi phải có một quá trình đào tạo nhất định.

Hiện nay xu thế phát triển của nghề chịu tác động mạnh mẽ của tác

động khoa học – kỹ thuật và văn minh nhân loại nói chung và về chiến lược

phát triển KT-XH của mỗi quốc gia nói riêng. Bởi vậy phạm trù "Nghề" biến

đổi mạnh mẽ và gắn chặt với xu hướng phát triển KT-XH của đất nước.



17



Trên thế giới hiện nay có trên dưới 2.000 nghề với hàng chục nghìn

chuyên môn. Ở các nước Ðông Âu và Liên Xô trước đây, người ta đã thống

kê được 15.000 chuyên môn, còn ở nước Mỹ, con số đó lên tới 40.000.

Bên cạnh khái niệm nghề cần quan tâm tới đặc điểm chuyên môn của

nghề và phân loại nghề.

1.3.1.2. Ðặc điểm chuyên môn của nghề

Ðặc điểm chuyên môn của nghề gồm các yếu tố:

- Ðối tượng lao động của nghề.

- Công cụ và phương tiện lao động của nghề.

- Quy trình công nghệ.

- Tổ chức quá trình lao động sản xuất của nghề.

- Các yêu cầu đặc trưng về tâm sinh lí của người hành nghề cũng như

yêu cầu về đào tạo nghề.

1.3.1.3. Phân loại nghề

Việc phân loại nghề có ý nghĩa quan trọng trong tổ chức đào tạo nghề,

tuy nhiên xuất phát từ yêu cầu, mục đích sử dụng và các tiêu chí khác nhau

nên phân loại nghề khá phức tạp và phong phú. Ví dụ: Phân theo tính chất của

nghề ta có nghề đơn giản, nghề kỹ thuật; hay phân theo phạm vi hoạt động

của nghề thì phân ra nghề diện hẹp, nghề diện rộng.

1.3.2. Ðào tạo nghề

Hiện nay, đang tồn tại nhiều định nghĩa về đào tạo nghề (Dạy nghề).

Một số nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã đưa ra một số khái

niệm: Ðào tạo là một lĩnh vực bao gồm toàn bộ các hoạt động của nhà trường

nhằm cung cấp kiến thức và giáo dục cho học sinh, sinh viên. Ðây là công

việc kết nối giữa mục tiêu đào tạo, nội dung chương trình đào tạo, tổ chức

thực hiện chương trình và các vấn đề liên quan đến tuyển sinh, đào tạo, giám

sát, đánh giá, kiểm tra, tổ chức thực tập, thi tốt nghiệp cùng các quy trình

đánh giá khác, các chính sách liên quan đến chuẩn mực và cấp bằng về lĩnh

vực đào tạo chuyên nghiệp ở các cơ sở đào tạo nghề nghiệp.



18



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (125 trang)

×