1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 1 Cơ sở lí luận về phát triển đội ngũ giáo viên trung học phổ thông và những yêu cầu phát triển đội ngũ giáo viên tiếng Anh 1.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu về quản lí, phát triển đội ngũ nhà giáo và đội ngũ giáo viên tiếng Anh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.7 MB, 113 trang )


- Đề án xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý

giáo dục giai đoạn 2005-2010 (QĐ số 09/2005/QĐ-TTg ngày 11 tháng 1 năm

2005 của Thủ tướng chính phủ).

- Chiến lược phát triển giáo dục 2011 – 2020 (QĐ Số: 711/QĐ-TTg, ngày 13

tháng 06 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ).

- Hướng dẫn nội dung và mức chi thực hiện Quyết định số 1400/QĐ-TTg

ngày 30 tháng 9 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về Đề án “Dạy và học

ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008 - 2020”.

- Đã có nhiều công trình nghiên cứu về xây dựng, quản lý phát triển đội

ngũ giáo viên THPT như: Với bộ môn tiếng Anh, các đề tài chủ yếu nghiên

cứu về quản lí hoạt động dạy học tiếng Anh như Tác giả Trần Thị Lan Hương

“Biện pháp quản lí dạy học môn tiếng Anh ở trường THPT huyện Thủy

Nguyên, Hải Phòng”; “Biện pháp quản lí hoạt động bồi dưỡng nâng cao

trình độ tiếng Anh cho giảng viên Học viện quốc phòng” của tác giả Võ Minh

Thúy. Đề cập đến đội ngũ giáo viên tiếng Anh có tác giả Vũ Thị Kim Tuyết

với đề tài: “Quản lí phát triển đội ngũ giáo viên tiếng Anh cấp trung học cơ

sở trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc”. “Biện pháp quản lí đội ngũ giáo viên của

hiệu trưởng trường THPT Tân Sơn, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang” của

Phạm Hồng Dương; Tác giả Nguyễn Đức Cường với nghiên cứu “Các biện

pháp quản lí đội ngũ giáo viên THPT thành phố Yên Bái trong giai đoạn hiện

nay”; Tác giả Trần Văn Thái với đề tài “Nghiên cứu cơ sở khoa học của qui

hoạch phát triển đội ngũ giáo viên THPT tỉnh Yên Bái đến năm 2015”; Tác

giả Nguyễn Thị Lệ Chung với nghiên cứu “Phát triển đội ngũ giáo viên ở

trường THPT chuyên tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay”; Tác giả

Nguyễn Công Chánh đề xuất “Các biện pháp quản lí, phát triển đội ngũ giáo

viên ở CĐSP Bạc Liêu”; Tác giả Vũ Đình Chuẩn đề cập đến “Những giải

pháp quản lí nhằm phát triển đội ngũ giáo viên THCN ở thành phố Đà

Nẵng”; Tác giả Hà Tuyết Vân, trong luận văn Thạc sĩ khoa học giáo dục đưa



15



ra “Một số biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên phục vụ PCGD THCS ở

tỉnh Sơn La”.

Những công trình bài viết trên đã phần nào làm rõ bức tranh về quản lý,

phát triển đội ngũ nhà giáo trong hệ thông giáo dục phổ thông. Đó là những tư

liệu quý báu góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo . Tuy nhiên, rất ít

công trình nghiên cứu riêng về công tác phát triển đội ngũ giáo viên THPT môn

tiếng Anh trong giai đoạn phát triển mới, đặc biệt ở Hà Nội. Còn riêng với địa

bàn Quận Hà Đông sau khi được sát nhập vào thủ đô Hà Nội thì chưa hề có một

tác giả nào đề cập đến.

Bởi vậy, chúng tôi chọn đề tài luận văn này để nghiên cứu cơ sở lý luận

về phát triển ĐNGV THPT môn tiếng Anh kết hợp với tìm hiểu thực trạng đội

ngũ giáo viên THPT môn tiếng Anh và công tác phát triển đội ngũ này trên

địa bàn quận Hà Đông. Trên cơ sở đó, đề xuất những biện pháp phát triển đội

ngũ giáo viên THPT môn tiếng Anh cho quận Hà Đông nhằm nâng cao chất

lượng ĐNGV nói chung và nâng cao chất lượng đào tạo của các trường THPT

trên địa bàn quận nói riêng, góp phần tạo nên sự đột phá cho ngành giáo dục

thủ đô trong giai đoạn phát triển mới.

1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài

1.2.1. Khái niệm quản lý

Quản lý không phải là một khái niệm mới, khái niệm này đã xuất hiện

từ lâu và ngày càng được hoàn thiện cùng với lịch sử hình thành và phát triển

của loài người, bởi ngay từ khi xã hội loài người xuất hiện thì nhu cầu quản lý

cũng được hình thành như một tất yếu khách quan.

Peter F. Drucker (Mỹ) cho rằng: Quản lí là thực hiện mục đích và sứ mệnh

đặc thù của tổ chức đối với xã hội, làm cho công việc có sức sống, công nhân

viên có thành tích. [21, tr.16].

Theo F.W. Taylor (Mỹ): Quản lí là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái

gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất [21,

tr.17].



Trong tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội, con người muốn tồn

16



tại và phát triển đều phải dựa vào các nỗ lực của cá nhân, của tổ chức, từ một

nhóm nhỏ đến phạm vi rộng hơn ở tầm quốc gia, đều phải thừa nhận và chịu

sự quản lý nào đó. C.Mác đã viết: “Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều

khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [26, tr.1].

Quản lý là một trong những loại hình lao động hiệu quả nhất, quan

trọng nhất trong các hoạt động của con người, làm cho hoạt động tổ chức và

xã hội ngày càng có hiệu quả cao. Quản lý đúng tức là con người đã nhận

thức được quy luật và sẽ đạt được những thành công to lớn.

Ngày nay, khái niệm quản lý đã trở nên phổ biến nhưng chưa có một

định nghĩa thống nhất. Hoạt động quản lý thường được định nghĩa khác nhau,

dưới đây sẽ đưa ra một vài quan điểm có tính chất khái quát:

- Quản lý là hoạt động nhằm đảm bảo sự hoàn thành công việc thông

qua sự nỗ lực của người khác.

- Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý

đến đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ

hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của

môi trường [19, tr.42].

- Xét quản lý với tư cách một hành động, theo Vũ Ngọc Hải: Quản lý là

sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản

lý nhằm đạt mục tiêu đề ra [10, tr.1].

- Xét theo chức năng quản lý, hoạt động quản lý thường được định

nghĩa: Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng

các hoạt động kế hoạch hoá tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra [3, tr.1].

Như vậy, bản chất của hoạt động quản lý là cách thức tác động (tổ chức

và điều khiển) hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý dựa

trên các nguồn lực và điều kiện có thể có nhằm thực hiện có hiệu quả những

mục tiêu của tổ chức, đơn vị đề ra.

Qua những ý kiến trên, chúng ta có thể khái quát rằng: Quản lí là sự tổ

chức, tác động, chỉ huy, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động

17



của con người nhằm đạt tới mục đích đã đề ra của hệ thống. Quản lí là quá

trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức

năng) kế hoạch hoá, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra. Sự tác động của quản lí

phải mang tính khoa học và nghệ thuật để người bị quản lí luôn luôn tự giác,

phấn khởi đem hết năng lực và trí tuệ của mình làm tròn nhiệm vụ được giao,

đem lại lợi ích cho bản thân, cho tổ chức và cho cả xã hội.

1.2.2. Khái niệm “ Quản lí giáo dục ”

Quản lí giáo dục theo nghĩa rộng là hoạt động điều hành, phối hợp của các

lực lượng xã hội nhằm quản lí tất cả các hoạt động giáo dục và các hoạt động

mang tính giáo dục của bộ máy Nhà nước, các tổ chức xã hội và của hệ thống

giáo dục quốc dân. Xu hướng phát triển quản lí giáo dục trên thế giới là tiến

tới thực hiện quản lí giáo dục trên cơ sở của quản lí kinh tế theo mô hình các

“công ty”, “xí nghiệp”, nhất là ở bậc Đại học, như các nước tư bản phát triển

đang thực hiện rất thành công, làm cho GD-ĐT gắn bó chặt chẽ với sự phát

triển KT-XH, sản phẩm của GD-ĐT thực sự đáp ứng các yêu cầu của xã hội.

Quản lí giáo dục theo nghĩa hẹp bao gồm quản lí hệ thống giáo dục quốc

dân (quản lí các hoạt động GD-ĐT trong các đơn vị hành chính như cấp xã,

huyện, tỉnh, toàn quốc) và quản lí nhà trường (quản lí các hoạt động GD-ĐT

trong các cơ sở giáo dục).

- “Quản lí giáo dục” theo quan niệm của các tác giả nước ngoài:

P.V. Khuđôminxki (Nga) cho rằng: “QLGD là tác động có hệ thống, có kế

hoạch, có ý thức và mục đích của các chủ thể quản lí ở các cấp khác nhau đến

tất cả các khâu của hệ thống (từ Bộ Giáo dục đến các nhà trường) nhằm mục

đích bảo đảm việc giáo dục cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, đảm bảo sự

phát triển toàn diện, hài hoà của họ”.

Theo M.M.Mechiti Zade thì: “QLGD là tập hợp những biện pháp (tổ chức,

phương pháp, cán bộ giáo dục, kế hoạch hoá, tài chính, cung tiêu...) nhằm

đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục,



18



đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng

như chất lượng”.

- “Quản lí giáo dục” theo quan niệm của các tác giả trong nước:

PGS, TS Trần Kiểm cho rằng: “QLGD là hệ thống những tác động có mục

đích, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lí ở các cấp khác nhau

nhằm mục đích đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở

nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như các quy

luật của quản lí giáo dục, của sự phát triển tâm lí và thể lực của trẻ em”.

Theo TS. Phạm Khắc Chương, Trường ĐHSP Hà Nội, trong Bài giảng

Cao học 2004, thì: “QLGD theo nghĩa rộng là quá trình hình thành và phát

triển nhân cách con người trong các chế độ chính trị khác nhau mà trách

nhiệm là của Nhà nước và hệ thống giáo dục đa cấp từ TƯ đến địa phương,

trong đó đơn vị cơ sở là nhà trường. Quản lí giáo dục trên cơ sở quản lí nhà

trường … tăng cường phân cấp quản lí nhằm phát huy tối đa năng lực, trách

nhiệm, quyền hạn của các chủ thể quản lí trực tiếp thực hiện yêu cầu của mục

tiêu GD-ĐT”.[ 22]

Từ những quan niệm trên, có thể rút ra nhận định: Quản lí giáo dục là quá

trình tác động có tổ chức và mang tính hệ thống của chủ thể quản lí lên đối

tượng quản lí nhằm đưa hoạt động của mỗi cơ sở giáo dục cũng như toàn bộ

hệ thống giáo dục đạt tới mục tiêu xác định. Đó là những tác động phù hợp

quy luật khách quan, hướng tới việc thực hiện các mục tiêu phát triển KT-XH.

Chủ thể quản lí ở các cấp là bộ máy quản lí giáo dục từ trung ương đến cơ

sở được phân công, phân cấp rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ chuyên môn;

đối tượng quản lí là nguồn nhân lực, cơ sở vật chất, trang thiết bị và các hoạt

động GD-ĐT.

Những nội dung cơ bản của công tác quản lí giáo dục là:

+ Xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách, chiến lược, quy hoạch và kế

hoạch phát triển GD-ĐT.



19



+ Xây dựng và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về GDĐT; ban hành điều lệ nhà trường.

+ Quy định mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục, tiêu chuẩn nhà

giáo, cơ sở vật chất phục vụ công tác giáo dục.

+ Tổ chức bộ máy quản lí giáo dục các cấp.

+ Tổ chức thực hiện việc đào tạo, sử dụng, bồi dưỡng cán bộ quản lí và

giáo viên.

+ Huy động, quản lí và sử dụng các nguồn lực phục vụ phát triển GD-ĐT.

1.2.3. Các yếu tố quản lý

- Chủ thể quản lý: Chủ thể quản lý chỉ có thể là người hoặc tổ chức do

con người cụ thể lập nên;

- Khách thể quản lý:

Là đối tượng quản lý, đối tượng này có thể là người, vật hay sự việc.

Cũng có khi khách thể là con người, tổ chức được con người đại diện

trở thành chủ thể quản lý cấp dưới thấp hơn.

Giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý có mối quan hệ tác động qua

lại tương hỗ nhau. Chủ thể làm nảy sinh các tác động quản lý, còn khách thể

thì nảy sinh các giá trị vật chất và tinh thần có giá trị sử dụng, trực tiếp đáp

ứng nhu cầu của con người, thoả mãn mục đích của chủ thể quản lý.

1.2.4. Cơ chế quản lý

Cơ chế quản lý là phương thức nhờ nó hoạt động quản lý được thực

hiện và quan hệ qua lại giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý.

1.2.5. Chức năng quản lý

Henri Fayol (Pháp) cho rằng: “Quản lí tức là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy,

phối hợp và kiểm tra” [ 21, tr 55].

Chức năng quản lí biểu thị sự tác động có mục đích của chủ thể quản lí

lên đối tượng và khách thể quản lí. Hoạt động quản lí chỉ thực sự tồn tại khi

chủ thể quản lí thực hiện các chức năng quản lí. Tuy nhiên, hoạt động của chủ

thể quản lí không phải đơn thuần thể hiện ý chí chủ quan mà còn phải tuân

20



theo các quy luật của tự nhiên và xã hội. Hoạt động quản lí là một thể thống

nhất của các mặt đối lập: Nó vừa mang tính tất yếu khách quan vừa mang

đậm dấu ấn chủ quan; vừa là một khoa học vừa là một nghệ thuật; vừa có tính

pháp luật nhà nước vừa có tính xã hội.

4 chức năng cơ bản của quản lí là:

+ Chức năng lập kế hoạch: Xác định mục tiêu của tổ chức; tìm ra con đường,

bước đi thực hiện các mục tiêu đó.

Một kế hoạch tốt phải dựa trên những dự báo khoa học; kết hợp kế hoạch dài

hạn, trung hạn và ngắn hạn; thường xuyên được xem xét, bổ xung, điều chỉnh.

Kế hoạch phải vừa mang tính ổn định tương đối vừa có tính linh hoạt để luôn

luôn phù hợp với yêu cầu của thực tiễn.

+ Chức năng tổ chức: Thiết lập và vận hành bộ máy do mình quản lí thông

qua việc bố trí, sắp xếp con người vào các vị trí công tác cụ thể. Để có một tổ

chức tốt, hoạt động hiệu quả, bên cạnh việc sắp xếp theo yêu cầu chung của tổ

chức, của công việc, phải chú ý đến các yếu tố cụ thể thuộc về nhân sự như

sức khoẻ, giới, trình độ, năng lực, khí chất, tình cảm; hướng hoạt động của cá

nhân vào thực hiện mục tiêu chung của tổ chức.

+ Chức năng chỉ đạo: Chỉ đạo là dẫn dắt (chỉ huy, sai khiến) các thành viên

của tổ chức thực hiện kế hoạch, theo các cách thức do người quản lí trù liệu,

hướng tới mục tiêu xác định. Trong chỉ đạo, phải kết hợp hài hoà cả quyền

(quyền lực) và uy (uy tín) để tác động có hiệu quả, làm cho mỗi người ý thức

được trách nhiệm của mình trong việc góp phần vào hoạt động chung của cả

bộ máy.

+ Chức năng kiểm tra: Kiểm tra là việc làm thường xuyên, thực hiện trước,

trong và sau khi bộ máy tổ chức đã vận hành nhằm xác định xem các điều

kiện và thực tế hoạt động của tổ chức và mỗi thành viên có phù hợp với mục

tiêu, yêu cầu của kế hoạch hay không. Kiểm tra sẽ giúp chỉ ra những sai sót,

vi phạm, lệch lạc trong qua trình thực hiện kế hoạch; từ đó điều chỉnh, uốn



21



nắn để guồng máy hoạt động thông suốt, đúng hướng, hướng tới việc hoàn

thành sứ mạng của tổ chức.

Các chức năng quản lí có mối quan hệ mật thiết với nhau, luôn luôn có

sự tương tác, đan xen với nhau, thúc đẩy lẫn nhau, tạo thành một quá trình

quản lí mang tính hệ thống chặt chẽ, có đủ khả năng dẫn dắt tổ chức đạt tới

mục tiêu xác định, để lại dấu ấn quản lí ở tất cả các giai đoạn phát triển của tổ

chức và mỗi thành viên.

1.2.6 Khái niệm phát triển

Phát triển là thuộc tính của vật chất. Theo Từ điển Tiếng Việt: “Phát triển là

mở mang từ nhỏ thành to, từ yếu thành mạnh” [ 51]

Đặc trưng của sự phát triển là hình thức phát triển xoáy trôn ốc và theo các

chu kì. Phát triển là một quá trình nội tại, biến chuyển từ thấp lên cao, trong

cái thấp đã chứa đựng dưới dạng nền tảng những khuynh hướng dẫn đến cái

cao, còn cái cao là cái thấp đã phát triển.

Phát triển làm cho sự vật, hiện tượng biến đổi từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng,

từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Trong quá trình phát triển, cái mới,

cái tiến bộ sẽ hình thành thay thế cái cũ, cái lạc hậu.

Mọi sự vật, hiện tượng chỉ có tính ổn định tương đối; chúng luôn luôn vận

động, biến đổi và phát triển. Phát triển là tất yếu.

- Phát triển là một quá trình vận động từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức

tạp theo đó cái cũ biến mất và cái mới ra đời…Phát triển là một quá trình nội

tại: bước chuyển từ thấp đến cao, xảy ra bởi vì trong cái thấp đã chứa đựng

dưới dạng tiềm tàng những khuynh hướng dẫn đến cái cao, còn cái cao là cái

thấp đã phát triển. Theo quan điểm triết học thì phát triển được hiểu là khái

niệm biểu hiện sự thay đổi tăng tiến cả về chất, cả về lượng, là sự tăng trưởng,

chuyển biến theo chiều hướng đi lên, tích cực. Như vậy tất cả mọi sự tăng

tiến, sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất hoặc do sự vận động

nội tại trong chính bản thân sự vật, hoặc dưới tác động của tác nhân bên ngoài



22



làm cho sự vật, hiện tượng biến đổi tăng tiến về số lượng và chất lượng đều

được coi là phát triển.

- Theo tác giả David Korten: “Phát triển là một tiến trình qua đó các thành viên

của xã hội tăng được những khả năng của cá nhân và định chế của mình để huy

động và quản lí các nguồn lực nhằm tạo ra những thành quả bền vững…nhằm

cải thiện chất lượng cuộc sống phù hợp với nguyện vọng của họ”.

- Nói một cách khái quát, phát triển là sự vận động đi lên của mọi sự vật và

hiện tượng tuân theo những quy luật nội tại khách quan của chúng. Mọi sự vật

hiện tượng, con người, xã hội hoặc là biến đổi để tăng tiến về số lượng, thay

đổi về chất lượng hoặc dưới tác động bên ngoài làm cho biến đổi tăng tiến

đều được coi là sự phát triển.

1.2.7. Khái niệm đội ngũ giáo viên và đội ngũ giáo viên tiếng Anh

1.2.7.1. Đội ngũ giáo viên

Về thuật ngữ “đội ngũ”, theo Từ điển Tiếng Việt, thì: “Đội ngũ là số đông

người sắp xếp có thứ tự” [ 51].

Từ điển Giáo dục học định nghĩa: “Đội ngũ giáo viên là tập thể những

người đảm nhiệm công tác giáo dục và dạy học có đủ tiêu chuẩn đạo đức,

chuyên môn và nghiệp vụ quy định. Đây là lực lượng quyết định hoạt động

giáo dục của nhà trường, cho nên cần được đặc biệt quan tâm xây dựng mọi

mặt, phải có đủ số lượng phù hợp với cơ cấu giảng dạy của các bộ môn, phải

đảm bảo tỉ lệ cân đối giữa nam với nữ, giữa lớp già với lớp trẻ. Muốn có đội

ngũ giáo viên mạnh cần có chế độ, chính sách thoả đáng, nhất là ở các

trường thuộc những vùng khó khăn, để phát huy hết tiềm năng của từng

người, để đoàn kết gắn bó mọi người thành một khối thống nhất của những

nhà sư phạm”. [ 51].

Từ những ý kiến trên, chúng ta có thể đi đến cách hiểu đội ngũ giáo viên

như sau: Đội ngũ giáo viên là tập hợp những người được đào tạo chuyên

nghiệp, làm nghề dạy học và làm công tác giáo dục theo các mục tiêu của

ngành giáo dục phục vụ cho công cuộc phát triển kinh tế-xã hội.

23



Đối với cấp THPT, đội ngũ giáo viên THPT là tập hợp những người làm

công tác giảng dạy ở cấp THPT; họ phối hợp với nhau và phối hợp với các

lực lượng giáo dục để giáo dục học sinh, phát triển nhận thức, năng lực mà

các em đã đạt được ở cấp tiểu học lên một tầm cao mới, giúp cho các em có

đủ trình độ, năng lực để tiếp tục học lên trung học phổ thông hoặc đi vào học

tập nghề nghiệp.

Đội ngũ giáo viên chính là nguồn nhân lực quan trọng trong lĩnh vực giáo

dục. Đội ngũ đó được xác định qua ba tiêu chí cơ bản là số lượng, cơ cấu và

chất lượng. Đó là ba yếu tố có liên quan mật thiết với nhau, tác động lẫn nhau

để tạo nên đội ngũ giáo viên có chất lượng, đáp ứng yêu cầu giáo dục.

1.2.7.2. Đội ngũ giáo viên tiếng Anh

Đội ngũ giáo viên tiếng Anh là những người đã tốt nghiệp cao đẳng, đại

học hoặc có trình độ sau đại học, là những người lao động có nghiệp vụ sư

phạm, được xã hội phân công làm nhiệm vụ đào tạo thế hệ trẻ đang lớn lên.

Họ là những người đang giảng dạy trong các truờng học, là nguồn nhân lực

quan trọng của nhà trường. Đội ngũ giáo viên tiếng Anh là đội ngũ trí thức, là

tập hợp những người lao động trí óc, sáng tạo theo thiên hướng cá nhân. Họ là

những người hiểu biết, có tinh thần trách nhiệm với cộng đồng, với xã hội, có

lòng yêu trẻ, có nhiệt huyết với nghề.

1.2.7.3. Phát triển đội ngũ

- Phát triển đội ngũ chính là việc tạo ra các giá trị mới cho đội ngũ, để đội ngũ

đó thay đổi, ngày càng hoàn thiện theo một chiều hướng tích cực. Phát triển

đội ngũ giáo viên môn tiếng Anh tức là nhằm vào hoàn thiện kết quả lao động

tổng thể của người thầy trong việc đảm bảo và nâng cao chất lượng dạy - học

môn tiếng Anh trong các nhà trường.

- Phát triển đội ngũ giáo viên là phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực

GD-ĐT, tạo ra một đội ngũ (tổ chức) giáo viên đủ về số lượng, đồng bộ về cơ

cấu (tổ chức, độ tuổi, giới, dân tộc), đảm bảo về chất lượng (trình độ chuẩn,



24



phẩm chất, năng lực) đảm bảo thực hiện tốt các yêu cầu phát triển GD-ĐT

trong từng thời kì phát triển của đất nước.

- Phát triển đội ngũ giáo viên tiếng Anh là một bộ phận của hệ thống phát

triển nhân lực. Là một khái niệm tổng hợp bao gồm cả đào tạo, bồi dưỡng,

phát triển nghề nghiệp nhằm tăng tiến cả về mặt số lượng, chất lượng và sử

dụng hiệu quả đội ngũ này.

1.2.7.4. Biện pháp phát triển

Biện pháp phát triển: Theo Từ điển tiếng Việt, biện pháp là cách làm, cách

giải quyết một vấn đề cụ thể. Từ khái niệm trên ta có thể hiểu: Biện pháp phát

triển đội ngũ giáo viên tiếng Anh là cách làm, cách giải quyết về nhân sự, về

tổ chức của các cấp cán bộ quản lý để phát triển đội ngũ cán bộ quản lý đáp

ứng yêu cầu của nhiệm vụ chính tri [41, tr.4].

Theo lý thuyết hệ thống trong quản lý, bất kỳ một sự thay đổi nào về

lượng cũng như về chất của một phân tử đều có thể làm ảnh hưởng đến các

phần tử khác của hệ thống và bản thân hệ thống đó. Ngược lại mọi sự thay đổi

nào về lượng cũng như về chất của hệ thống đều có thể làm ảnh hưởng đến

các phần tử của hệ thống.

Có thể nói, đội ngũ giáo viên tiếng Anh THPT là một hệ thống, mỗi giáo

viên là một phần tử trong hệ thống đó. Đội ngũ này khi được bổ sung theo định

biên, nâng cao về mặt chất lượng sẽ trở nên “mạnh” đồng bộ và vững vàng trong

chuyên môn, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy.

1.3. Cơ sở lí luận về phát triển đội ngũ giáo viên giáo viên tiếng Anh

1.3.1. Lí luận về phát triển đội ngũ giáo viên tiếng Anh

Thời đại ngày nay là thời đại khoa học kỹ thuật và công nghệ, đặc biệt là

công nghệ thông tin với nền kinh tế tri thức, đã dẫn đến xu hướng toàn cầu

hoá. Xu hướng này đòi hỏi phải thay đổi nhiều lĩnh vực. Đối với giáo dục đổi

mới và phát triển đội ngũ nhà giáo nói chung và đội ngũ giáo viên tiếng Anh

THPT nói riêng là một yếu tố cần thiết cho việc đảm bảo chất lượng giáo dục

trong thời gian tới.

25



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (113 trang)

×