1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 2 Thực trạng công tác phát triển đội ngũ giáo viên tiếng Anh trung học phổ thông quận Hà Đông thành phố Hà Nội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.7 MB, 113 trang )


bước dài về quy mô, sản lượng, có tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 3 năm

(2006-2010) đạt 17,7%. Từ tháng 8/2010 đến tháng 8/2011, Giá trị sản xuất

công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp ngoài quốc doanh của quận Hà Đông đạt

gần 1.821 tỷ đồng; tổng thu ngân sách nhà nước đạt 1.964,5 tỷ đồng.

2.1.1.3. Về đầu tư - xây dựng

Hà Đông đã và đang triển khai xây dựng nhiều khu đô thị mới: Văn

Quán, Mỗ Lao, Văn Phú, Lê Trọng Tấn, trục đô thị phía Bắc…,các trường đại

học, các bệnh viện quốc tế với số vốn huy động đầu tư hàng chục tỷ đôla.

Từ đầu năm đến nay, quận đã có 32 công trình được duyệt quyết toán, 44

công trình hoàn thành đưa vào sử dụng, 108 công trình đang thi công, 39 công

trình đã được phê duyệt đầu tư, 161 công trình đang thực hiện thủ tục chuẩn

bị đầu tư để trình duyệt.

2.1.1.4. Về làng nghề

Hà Đông có nghề dệt lụa nổi tiếng từ lâu với làng lụa Vạn Phúc nổi

tiếng. Đây là một thế mạnh của việc phát triển dịch vụ du lịch kết hợp với

tham quan các làng nghề của vùng. Ngoài ra còn có the La Khê, làng rèn Đa

Sỹ,…

2.1.1.5. Về giáo dục

Kể từ ngày 6/10/1954 Thị Xã Hà Đông (Tỉnh Hà Đông) hoàn toàn giải

phóng. Từ năm 1954 đến năm 1975, cùng với cả nước, nhân dân Hà Đông

đồng thời tiến hành hai nhiệm vụ: xây dựng và bảo vệ miền Bắc XHCN; đấu

tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Giai đoạn này Hà Đông là

thủ phủ của tỉnh Hà Tây. Từ năm 1976 đến 1991 Hà Đông là thủ phủ của tỉnh

Hà Sơn Bình. Từ tháng 10/1991 đến tháng 8/2008 Hà Đông là thủ phủ của

tỉnh Hà Tây.



ồi tháng 8/2008 đến nay, Hà Đông trở thành một Quận của



thành phố Hà Nội, trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị, trái tim của cả nước.

Cùng với bề dày của lịch sử cách mạng, Ngành Giáo dục và Đào tạo Hà

Đông được hình thành phát triển không ngừng ngày càng toàn diện, chất

lượng dạy và học được nâng cao ở các bậc học, luôn đạt được nhiều thành

42



tích cao, nhiều năm là đơn vị tiên tiến xuất sắc của tỉnh (Hà Tây cũ) Hà Nội

ngày nay. Trong những năm qua, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân quận Hà

Đông luôn coi trọng sự nghiệp trồng người, đặt nhiệm vụ Giáo dục và Đào tạo

là một nhiệm vụ quan trọng trong việc phát triển văn hoá - xã hội của Quận.

Với sự nỗ lực của các cấp Ủy đảng, Chính quyền và các ban ngành đoàn thể

của Quận, đặc biệt là sự đóng góp công sức, tâm huyết của các thầy giáo, cô

giáo, sự nghiệp giáo dục của quận Hà Đông ngày càng phát triển, Chất lượng

giáo dục đạo đức và văn hoá ngày càng được nâng lên. Cơ sở vật chất trường

học tiếp tục được đầu tư; môi trường dạy và học ngày càng được cải thiện:

xanh, sạch, đẹp. Kết thúc năm học 2010 - 2011 ngành GD&ĐT quận được

UBND Thành phố tặng Bằng khen là đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ

năm



học



2010-2011



với



những



thành



tích



đáng



ghi



nhận



Năm năm liên tục (2001–2005) ngành GD&ĐT Hà Đông luôn là đơn vị tiên

tiến xuất sắc cấp tỉnh (Trong đó có 3 năm là lá cờ đầu của tỉnh). Năm 2001

được tặng bằng khen của Thủ tướng chính phủ. Giai đoạn này các kỳ thi học

sinh giỏi, giáo viên giỏi, Hà Đông luôn luôn là đơn vị dẫn đầu (tỉnh Hà Tây).

100% trẻ trong độ tuổi được đến trường. 97,8% giáo viên giảng dạy đều đạt

chuẩn và trên chuẩn về trình độ.

Hiện quận Hà Đông có 65 trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung

học phổ thông cả công lập và tư thục, trong đó có 15 trường học đạt chuẩn

quốc gia; 11 trường cao đẳng, đại học, trung học chuyên nghịêp đóng trên địa

bàn quận.



iêng hệ thông giáo dục THPT, quận hà Đông có 8 trường với



8.692 học sinh.

2.1.1.6. Về văn hóa - xã hội

Từ năm 1990, Hà Đông là địa bàn điển hình của tỉnh Hà Tây về phong trào

xây dựng gia đình văn hóa, làng, khu phố, cơ quan, đơn vị văn hóa. Năm

2010, có 82% hộ gia đình đạt danh hiệu gia đình văn hóa; 27 làng, khu phố,

82 cơ quan đạt danh hiệu văn hóa. Mạng lưới y tế đã có 100% phường đều có



43



trạm y tế và có bác sỹ. Nhiều năm liên tục, Hà Đông giữ vững tỷ lệ phát triển

dân số tự nhiên 1%/năm.

2.1.1.7. Dân cư

Dân số khoảng 228,715 người. Thường trú 175,371 người tạm trú:

53,344 người. Quận Hà Đông có nền văn hoá truyền thống lâu đời, có nhiều

địa danh nổi tiếng gắn liền với lịch sử phát triển của đất nước.

Ngày 1/3/2008, Chính phủ ra Nghị định số 155/2006/NĐ-CP, về việc điều

chỉnh địa giới hành chính thành phố Hà Đông để thành lập các phường Văn

Quán, Mộ Lao, La Khê, Phú La thuộc thành phố Hà Đông. Theo đó:

- Phường Văn Quán được thành lập trên cơ sở một phần diện tích và nhân

khẩu của phường Văn Mỗ.

- Phường Mộ Lao được thành lập trên cơ sở diện tích và nhân khẩu còn lại

của phường Văn Mỗ.

- Phường La Khê được thành lập trên cơ sở một phần diện tích và nhân khẩu

của xã Văn Khê, xã Yên Nghĩa và phường Quang Trung.

- Phường Phú La được thành lập trên cơ sở diện tích và nhân khẩu còn lại của

xã Văn Khê; một phần diện tích và nhân khẩu của phường Quang Trung,

phường Hà Cầu; một phần diện tích và nhân khẩu của xã Phú Lãm, xã Yên

Nghĩa, Phú Lương, Kiến Hưng.

Sau khi điều chỉnh, thành phố Hà Đông có có 17 đơn vị hành chính trực

thuộc, bao gồm 10 phường: Quang Trung, Yết Kiêu, Nguyễn Trãi, Phúc La,

Vạn Phúc, Hà Cầu, Văn Quán, Mộ Lao, La Khê, Phú La và 7 xã: Kiến Hưng,

Yên Nghĩa, Phú Lương, Phú Lãm, Dương Nội, Biên Giang, Đồng Mai.

2.1.2. Tình hình phát triển giáo dục của địa phương.

2.1.2.1. Thuận lợi

Hà Đông là quận có diện tích lớn nhất của Hà Nội, có vị trí địa lí rất tiềm

năng để thu hút đầu tư trong và ngoài nước, bởi giao thông thuận lợi, là huyết

mạch để lưu thông hàng hoá từ các tỉnh phía đến Hà Nội. Việc hình thành 3

vùng trọng điểm để phát triển kinh tế theo hướng tập trung sẽ tạo điều kiện rất

44



nhiều để phát triển nhân lực. Nhu cầu nhân lực cao sẽ là mục tiêu phải hướng

tới của quận Hà Đông bên cạnh việc giải quyết lượng lao động giản đơn.

Năm năm liên tục (2005–2010) ngành GD&ĐT Hà Đông luôn là đơn vị tiên

tiến xuất sắc cấp tỉnh (Trong đó có 3 năm là lá cờ đầu của tỉnh). Năm 2001

được tặng bằng khen của Thủ tướng chính phủ. Giai đoạn này các kỳ thi học

sinh giỏi, giáo viên giỏi, Hà Đông luôn luôn là đơn vị dẫn đầu (tỉnh Hà Tây).

100% trẻ trong độ tuổi được đến trường. 97,8% giáo viên giảng dạy đều đạt

chuẩn và trên chuẩn về trình độ.

Công tác xã hội hoá giáo dục phát triển, hội khuyến học hoạt động có

hiệu quả. Năm 1995 Hà Đông là đơn vị dẫn đầu (Hà Tây) hoàn thành phổ cập

giáo dục THCS. Bên cạnh đó, quận Hà Đông từ lâu đã trở thành trung tâm

giáo dục – đào tạo khoa học kỹ thuật với lực lượng cán bộ khoa học kỹ thuật,

công nhân lành nghề chiếm phần nhiều trong lực lượng lao động. Hà Đông là

nơi có nhiều học viện, nhiều trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên

nghiệp, trung tâm đào tạo nghề, trường dạy nghề của địa phương và của trung

ương, hàng năm thu hút hàng chục ngàn học sinh, sinh viên, nghiên cứu sinh

thuộc các ngành học tới để học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ nghiệp vụ

phục vụ cho hoạt động của các ngành trên khắp đất nước. Vượt lên bao khó

khăn, thách thức, ngành GD&ĐT quận Hà Đông đã phát triển không ngừng

về quy mô, đa dạng về loại hình, ngành học, bậc học đến năm 2011 có tổng số

63 trường, Gồm 26 trường mầm non, 22 trường tiểu học và 15 trường THCS.

phát triển mạng lưới trường lớp, tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục

theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa: Thực hiện sự chỉ đạo của UBND thành

phố Hà Nội, của Sở Giáo dục Hà Nội, hiện nay quận Hà Đông đang tiến hành

hoàn thành công tác qui hoạch mạng lưới trường học đến năm 2020 và tầm

nhìn đến năm 2030. Trong năm học đã cơ bản xóa phòng học cấp 4, xóa các

điểm trường lẻ; 100% các phòng học đạt chuẩn về chiếu sáng học đường; Có

thêm 06 trường được công nhận đạt chuẩn quốc gia nâng tỷ lệ trường chuẩn

đạt 36,5%. Phòng Giáo dục đã tham mưu đầu tư trang thiết bị dạy học theo

45



hướng chuẩn hóa,



hiện đại hóa



cho các



đơn vị trường học.



Công tác đào tạo, chuẩn hóa, nâng cao trình độ giáo viên: Triển khai thực

hiện Đề án số 01-ĐA/QU của Quận ủy Hà Đông về nâng cao chất lượng giáo

dục và đào tạo quận Hà Đông giai đoạn 2010 - 2015.

Nhân dân Quận Hà Đông có tinh thần cách mạng, đoàn kết, có truyền thống

hiếu học đặc biệt họ rất quan tâm đến công tác giáo dục.

2.1.2.2. Khó khăn

- Do thu nhập của nhiều gia đình còn rất thấp (chủ yếu dựa vào nghề

nông hoặc làm thuê dưới hình thức lao động giản đơn) nên khả năng đóng

góp kinh phí cho giáo dục còn rất khó khăn và hạn chế. Nhiều học sinh đã

phải tranh thủ lao động hỗ trợ gia đình ngoài giờ đến trường. Điều này rất ảnh

hưởng đến chất lượng giáo dục của địa phương.

- Do tốc độ đô thị hóa nhanh nên một bộ phận nông dân không còn đất

canh tác, chưa chuyển đổi kịp nghề nghiệp so với sự phát triển của quận nên

đã phần nào ảnh hưởng tới giáo dục của địa phương.

- Nguồn thu tài chính còn hạn hẹp và dẫn đến việc đầu tư cho giáo dục

hạn chế, mới chỉ tập trung nâng cấp cơ sở vật chất cho một sổ trường điểm và

dưới hình thức nhà nước và nhân dân cùng chung tay.

- Sự phát triển công nghiệp, thương mại du lịch, dịch vụ, và doanh

nghiệp mới đang khởi động, chưa khẳng định được hiệu quả, cho nên chưa

tạo được thu hút nhân lực tại địa phương, chưa có tác động đến động lực học

tập và rèn luyện của số đông học sinh ở mức mặt bằng.

2.1.3. Tầm quan trọng của tiếng Anh và phong trào học tiếng Anh ở thành

phố Hà Nội

Trước đây, thu nhập chủ yếu của nhiều gia đình ở Hà Đông chủ yếu

dựa vào tiểu thủ công nghiệp và buôn bán nhỏ, nghề nông. Sau khi được sáp

nhập vào thủ đô Hà Nội, nhận thức về học ngoại ngữ của phụ huynh và học

sinh có phần thay đổi. Con em của họ nếu học xong không đi làm ở thành phố

lớn thì sẽ không có nhu cầu sử dụng tiếng Anh - thứ ngoại ngữ mà họ đã đầu

46



tư cho con em mình học liên tục suốt trong 7 năm. Ít có phụ huynh đầu tư cho

con em mình học môn này và học sinh thì thờ ơ và chỉ chú trọng các môn tự

nhiên như toán, lí hoá, sinh … Song thời gian gần đây, cùng với sự đổi mới

mạnh mẽ, sự phát triển rất nhanh nhu cầu du học, học chuyên ngành do giảng

viên nước ngoài đảm nhiệm, nhất là sau khi Việt Nam ra nhập WTO, thủ đô

Hà Nội mở rộng, Hà Đông trở thành một quận của Hà Nội, nhu cầu học ngoại

ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng được coi trọng hơn. Môn tiếng Anh đã

chính thức trở thành môn học được coi trọng trong các nhà trường cũng như

nhu cầu muốn đầu tư của phụ huynh cho con em mình.

Về cơ sở vật chất: nhìn chung cả 7 trường THPT ( 01 TTGDTX), các

phòng học khang trang, đủ đáp ứng số lượng học sinh đang theo học. Nhiều

phòng học được xây mới có hệ thống chiếu sáng tốt, thoáng mát, hệ thống

quạt phục vụ mùa hè đảm bảo. Gần đây sở Giáo dục - đào tạo đã trang bị một

số trang thiết bị dạy học cho các trường THPT như máy chiếu, phòng internet

và các trường bắt đầu triển khai phòng học trình chiếu. Học sinh bắt đầu cảm

thấy thú vị học tiếng Anh hơn với những bài giảng sinh động có hình ảnh.

Mặc dù tiếng Anh đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình học tập

cũng như đánh giá kết quả của học sinh THPT, giúp các em có được cơ hội

tham gia học tập, nghiên cứu và phát triển nghề nghiệp sau này, nhưng

không phải tất cả học sinh ở các trường THPT quận Hà Đông đều nhận thức

đúng trong việc học tiếng Anh. Nguyên nhân nằm ở chỗ phần vì kiến thức

tiếng Anh bị mai một, bị rơi rụng có khi còn mất gốc từ cấp trung học cơ sở

nên rất nhiều học sinh THPT vì sợ, vì nản mà không đầu tư thời gian cho

môn học này. Bên cạnh đó cũng phải đề cập đến sự chậm trễ trong đổi mới

phương pháp dạy và hình thức đánh giá chất lượng học của bộ môn này. Do

vậy nâng cao năng lực của giáo viên tiếng Anh và chất lượng đội ngũ giáo

viên tiếng Anh giai đoạn phát triển mới này là vô cùng cần thiết.



47



2.2. Thực trạng công tác phát triển đội ngũ giáo viên tiếng Anh trên địa

bàn thành quận Hà Đông phố Hà Nội

2.2.1. Về số lượng, cơ cấu

2.2.1.1. Về số lượng

Chuyên Nguyễn Huệ: Tổ Ngoại ngữ gồm có 18 thành viên, tất cả đều có bằng

cử nhân Tiếng Anh, trong đó có 02 Thạc sỹ chuyên ngành Giảng dạy Tiếng

Anh (TESOL) và 01 đang theo học chương trình đào tạo Tiến sỹ ngành ngôn

ngữ học. Đối với các trường khác trong quận:

STT



TÊN TRƯỜNG



TRÌNH ĐỘ

ĐẠI



KHỐI



KHỐI



10



11



12



SAU ĐẠI



HỌC



KHỐI



TỔNG SỐ



HỌC



1



Chuyên Nguyễn Huệ



15



3



522



515



550



1587



2



Lê Quý Đôn



10



3



585



510



495



1590



3



Trần Hưng Đạo



7



1



545



510



513



1568



4



Quang Trung



9



1



550



542



585



1677



5



DL Phùng Hưng



3



0



135



120



120



375



6



DL Xa La



4



0



130



145



125



400



7



DL Hà Đông



8



0



500



450



385



1335



8



TTGDTX



2



0



55



51



54



160



TỔNG SỐ



66



2843



2827



8692



58 CN, 8 3022

THS



48



2.2.1.2. Về cơ cấu độ tuổi

Theo thống kê tại 07 trường THPT và 01 TT GDTX, chúng thôi nhận thấy:

- Độ tuổi từ 25 tuổi đến 45 tuổi là 36 giáo viên chiếm 54% ( trong đó 5 giáo

viên nam).

- Độ tuổi từ 45 tuổi đến 60 tuổi là 30 giáo viên chiêm 46% ( trong đó 4 giáo

viên nam).

Từ bảng số liệu trên cho chúng ta thấy:

Thứ nhất, số lượng giáo viên trong độ tuổi từ 45 đến 60 chiếm gần 50 %,

trong đó số giáo viên nữ là 25 người, số cán bộ này sẽ nghỉ hưu trong vòng 5

đến 10 năm tới. Như vậy có thể thấy, công tác bố trí, tuyển dụng, đào tạo cán

bộ kế cận là điều phải triển khai ngay đối với lãnh đạo Phòng Giáo dục, Quận

Hà Đông.

Thứ hai, tính theo tỷ lệ ( 66 giáo viên/8692 học sinh, tính bình quân 1 giáo

viên sẽ phụ trách 131 học sinh, trung bình là 3,5 lớp), nếu tính cả số giáo viên

đi học, bồi dưỡng nâng cao trình độ thì số giờ trên đây là nhiều. Vì vây, cần

có chính sách tuyển dụng thêm giáo viên để đảm bảo chất lượng các giờ dạy.

49



2.2.1.3. Về cơ cấu giới tính

Tổng số 66 giáo viên đang giảng dạy THPT: 57 giáo viên nữ, 9 giáo viên

nam.

Với tỉ lệ trên, chúng ta thấy, số lượng giáo viên nữ chiếm đa số ( 57/66), trong

đó nữ giới có độ tuổi sinh nở, nuôi con nhỏ khá cao ( 36 giáo viên) chiếm

54%, điều đó ít nhiều ảnh hưởng tới tổng thể bức tranh về cán bộ giảng dạy

trong toàn Quận Hà Đông. Như vây, cần bổ sung thêm đội ngũ cán bộ giảng

dạy là nam giới để góp phần khắc phục những hạn chế, khó khăn như hiện

nay.

2.2.2. Về chất lượng

2.2.2.1. Phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp

Công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng trong ngành GD-ĐT

được chú trọng, bản thân mỗi cán bộ, giáo viên tự giác tu dưỡng, rèn luyện,

nâng cao trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp, do đó, phẩm chất đội ngũ giáo

viên THPT Quận Hà Đông đã được giữ vững. Ngành GD-ĐT hoàn thành

nhiệm vụ chính trị được giao, các thầy cô giáo được nhân dân tin yêu, quý

trọng. Bên cạnh việc xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng vững mạnh, nhiều

chi bộ đảng trong ngành giáo dục đã làm tốt nhiệm vụ phát triển đảng viên

mới. Nhiều thầy cô giáo đã phấn đấu trở thành đảng viên, giáo viên giỏi, công

đoàn viên gương mẫu.

Theo báo cáo tổng kết các năm học từ 2007 đến 2011 của các trường

THPT ở quận Hà Đông thì đội ngũ giáo viên tiếng Anh ở đây là những người

có phẩm chất chính trị, có đạo đức tốt, luôn chấp hành tốt mọi chủ trương

đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước. Gương mẫu trong

các hoạt động đời sống, sinh hoạt và hoạt động xã hội ở khu dân cư. Có tác

phong đúng mực, lối sống lành mạnh, văn hoá giao tiếp thanh lịch, cởi mở,

chan hòa và trang nhã. Có tinh thần trách nhiệm với công việc, có ý thức tự

rèn luyện, có quyết tâm vươn lên, khắc phục khó khăn để hoàn thành nhiệm

vụ. Ý thức tổ chức kỉ luật tốt.

50



Từ năm 2007 đến nay: 100% giáo viên THPT môn tiếng Anh các

trường đều hoàn thành nhiệm vụ; Trong đó có 40% đạt danh hiệu lao động

tiên tiến, 35% đạt lao động tiên tiến xuất sắc và có khoảng 15% đạt danh hiệu

chiến sĩ thi đua cấp cơ sở.

2.2.2.2. Trình độ được đào tạo chuyên môn.

Tính đến tháng 9 năm 2012, tổng số giáo viên đang giảng dạy tiếng Anh tại

các trường THPT tại Hà Đông: 66 giáo viên, số có trình độ NCS 01, 7 ths, 54

cử nhân.

2.2.3. Công tác qui hoạch, tuyển chọn, tuyển dụng

Khi sáp nhập về Thủ đô, công tác tuyển dụng vẫn được tiến hành đúng

các bước theo qui định của Sở GD-ĐT, đúng theo Nghị định số

116/2003/NĐ-CP của Chính Phủ, Công văn số 308/TCCB ngày 01/06/2004

và QĐ 62/ Bộ GD-ĐT

Hàng năm, căn cứ vào nhu cầu công việc; kế hoạch biên chế và nguồn tài chính

được phê duyệt, sở Giáo Dục- Đào tạo thực hiện kế hoạch tuyển dụng giáo viên

theo các quy định hiện hành của Nhà nước.

Tuy nhiên, nhiều người được đào tạo chính quy, đạt chuẩn giáo viên cấp

THPT nhưng không được hoặc chưa được tuyển dụng, nhiều người phải chờ

đợi 3 năm mới được hợp đồng giảng dạy, một số xin đi giảng dạy ở ngoài,

một số chuyển sang làm công việc khác. Tình trạng “đóng cửa” trong tuyển

dụng rõ rệt nhất ở môn tiếng Anh vì biên chế giáo viên môn này ở tất cả các

trường THPT trong quận Hà Đông đều đã đủ hoặc dư thừa. Mâu thuẫn ở đây

là: Đội ngũ giáo viên tiếng Anh hiện tại còn rất nhiều hạn chế, yếu kém

nhưng lại không thể hoặc khó bổ sung vì quy định về biên chế đội ngũ; hoặc

khả năng có hạn của ngân sách trong việc chi trả cho đối tượng giáo viên hợp

đồng mới. Đó là khó khăn, thách thức đối với việc bổ sung, nâng cao chất

lượng đội ngũ giáo viên.

Thực trạng về sử dụng giáo viên: Nơi trực tiếp sử dụng giáo viên là

trường THPT nhưng không có quyền tuyển chọn đội ngũ (việc tuyển chọn và

51



phân bổ giáo viên do Sở GDĐT), vì thế, chất lượng đội ngũ rất khó đảm bảo

theo yêu cầu của nhà trường.

2.2.4. Phân công, sử dụng, kiểm tra, đánh giá giáo viên

2.2.4.1. Phân công, sử dụng

Cũng giống như các trường THPT khác Ở các trường THPT quận Hà Đông

Hiệu trưởng thường kết hợp với phó Hiệu trưởng chuyên môn tham mưu và

tổ trưởng chuyên môn để đánh giá chính xác chất lượng giảng dạy của giáo

viên, từ đó phân công hợp lí. Tính hợp lí của phân công phụ thuộc vào sự

hiểu biết chính xác đối tượng được phân công. Kết quả giảng dạy của tập thể

giáo viên phụ thuộc vào quyết định phân công của Hiệu trưởng.

2.2.4.2. Kiểm tra, đánh giá

Kiểm tra là một trong bốn chức năng của công tác quản lí. Đó cũng là

một nội dung quan trọng của công tác xây dựng, phát triển đội ngũ giáo viên.

Bộ Giáo Dục và đào tạo đã có nhiều quyết định, chính sách trong kiểm tra –

đánh giá để tăng cường chất lượng giáo dục trong đó đã ban hành “luật giáo

dục”năm 2005, “Điều lệ trường trung học” năm 2000 và các qui định về

quyền hạn và nhiệm vụ của giáo viên. Trong quá trình giảng dạy, giáo viên

được kiểm tra và đánh giá theo chu kì 2 lần trong một năm học. Tiêu chí để

áp dụng trong kiểm tra đánh giá là: chấp hành tốt nội qui qui định của nhà

trường, qui chế chuyên môn, có tinh thần trách nhiệm với công việc được

giao, có thái độ hợp tác với đồng nghiệp, quan hệ ứng xử với phụ huynh, học

sinh đúng mực. Việc kiểm tra đánh giá mức độ thực hiện công việc trong nhà

trường phần lớn là nhằm mục đích thi đua, khen thưởng và đào tạo đội ngũ

giáo viên, sau đó là bổ nhiệm vào các vị trí quan trọng hay điều chỉnh, sắp

xếp lại nhân sự của nhà trường và cả để thưởng tăng lương trước kì hạn .

Tuy nhiên, nội dung kiểm tra khá phong phú, bao quát toàn bộ các hoạt

động chuyên môn đối với giáo viên, việc đánh giá chưa đồng bộ giữa các trường,

các tổ chuyên môn và chưa đạt được sự thuyết phục cao do thiếu thời gian, hoặc

người kiểm tra, đánh giá chưa đủ năng lực và trình độ chuyên môn. Do vậy đôi

52



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (113 trang)

×