1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Chương 3 Biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên tiếng Anh các trường trung học phổ thông quận Hà Đông thành phố Hà Nội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.7 MB, 113 trang )


giai đoạn có nhiều ý nghĩa quan trọng trong tiến trình hội nhập kinh tế thế

giới của đất nước. Điều đó có nghĩa là, các biện pháp đề ra không phải là cố

định, cứng nhắc mà có thể điều chỉnh, bổ sung để luôn luôn phù hợp với yêu

cầu đa dạng của cuộc sống, là các biện pháp thực sự cần thiết, mang tính khả

thi để không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên tiếng Anh nói

riêng và toàn thể giáo viên THPT nói chung.

- Trong nhóm giải pháp phát triển giáo dục của chiến lược phát triển

giáo dục 2010 - 2020 có các giải pháp đổi mới mục tiêu, nội dung, chương

trình giáo dục và phát triển đội ngũ nhà giáo, đổi mới phương pháp giáo dục.

Trong đó đã xác định phải” “Chú trọng trang bị và nâng cao kiến thức tin học,

ngoại ngữ cho học sinh. Dạy ngoại ngữ trên diện rộng từ lớp 6; học sinh được

học ổn định và liên tục ít nhất một ngoại ngữ để khi tốt nghiệp trung học phổ

thông có thể sử dụng được” và “Phát triển đội ngũ nhà giáo đảm bảo đủ về số

lượng, hợp lý về cơ cấu và chuẩn về chất lượng đáp ứng nhu cầu vừa tăng quy

mô vừa nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục”. [28,8,9]

Phiên họp gần đây, Bộ Chính trị vừa thông báo kết luận về phương

hướng phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2020. Theo đó, Bộ Chính trị đã

đưa ra 7 nhiệm vụ, giải pháp phát triển giáo dục để khắc phục những yếu kém

của ngành giáo dục hiện nay:

Thứ nhất: Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, coi trọng giáo dục

nhân cách, đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên, mở rộng quy mô giáo

dục hợp lý. Theo đó, cần coi trọng cả ba mặt dạy làm người, dạy chữ, dạy

nghề; đặc biệt chú ý giáo dục lý tưởng, phẩm chất đạo đức, lối sống, lịch sử,

truyền thống văn hóa dân tộc, giáo dục về Đảng

Thứ hai: Đổi mới mạnh mẽ quản lý nhà nước đối với giáo dục và đào

tạo. Theo đó, chấn chỉnh, sắp xếp lại hệ thống các trường đại học, cao đẳng,

cán bộ giảng dạy, cơ sở vật chất, trang thiết bị và đầu vào của sinh viên;

không duy trì các trường đào tạo có chất lượng kém. Thực hiện phân cấp, tạo



69



động lực và tính chủ động của các cơ sở giáo dục. Tăng quyền tự chủ và tự

chịu trách nhiệm đối với các trường…

Thứ ba: Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đủ về số

lượng, đáp ứng yêu cầu về chất lượng.

Thứ tư: Tiếp tục đổi mới chương trình, tạo chuyển biến mạnh mẽ về phương

pháp giáo dục. Theo đó, rà soát lại toàn bộ chương trình và sách giáo khoa

phổ thông. Sớm khắc phục tình trạng quá tải, nặng về lý thuyết, nhẹ về thực

hành, chưa khuyến khích đúng mức tính sáng tạo của người học; chuẩn bị kỹ

việc xây dựng và triển khai thực hiện bộ chương trình giáo dục phổ thông mới

theo hướng hiện đại, phù hợp và có hiệu quả

Thứ năm: Tăng nguồn lực cho giáo dục. Theo đó, miễn học phí cho học sinh,

sinh viên gia đình chính sách, hộ nghèo; giảm học phí cho học sinh, sinh viên

gia đình nghèo và hỗ trợ cho HS,SV các hộ có thu nhập thấp…

Thứ sáu: Đảm bảo công bằng xã hội trong giáo dục.Nhà nước tập trung đầu

tư cho các vùng khó khăn, vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số, từng bước

giảm sự chênh lệch về phát triển giáo dục giữa các vùng, miền…

Đặc biệt chú ý đến con thương binh, liệt sỹ, gia đình có công với nước, học

sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và học sinh khuyết tật thông qua phát

triển các loại quỹ khuyến học, khuyến tài trong các tổ chức xã hội, trong các

cộng đồng dân cư.

Thứ bảy: Tăng cương hợp tác quốc tế về giáo dục và đào tạo. Giáo dục trong

thời kỳ hội nhập quốc tế càng cần phải bảo đảm phát triển bền vững, không

ngừng nâng cao chất lượng, phát huy tối đa nội lực, giữ vững độc lập, tự chủ

và định hướng xã hội chủ nghĩa, từng bước tiếp cận nền giáo dục tiên tiến thế

giới. Mở rộng hợp tác đào tạo đa phương gắn với việc tăng cường công tác

quản lý nhà nước.

3.1.2. Định hướng về công tác xây dựng đội ngũ giáo viên THPT

3.1.2.1. Thực hiện có hiệu quả công tác xây dựng, nâng cao chất lượng đội

ngũ nhà giáo

70



Tiêu chuẩn 1: phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của người giáo

viên, trong đó có 5 tiêu chí: phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp, ứng xử

với học sinh, ứng xử với đồng nghiệp, lối sống, tác phong. Mỗi tiêu chuẩn

kèm theo 4 mức để giáo viên tự đánh giá.

Tiêu chuẩn 2: Năng lực tìm hiểu đối tượng và môi trường giáo dục,

gồm 2 tiêu chí: tìm hiểu đối tượng giáo dục và tìm hiểu môi trường giáo dục.

Tiêu chuẩn 3: Năng lực xây dựng kế hoạch dạy học và giáo dục, gồm 2

tiêu chí: xây dựng kế hoạch dạy học và xây dựng các hoạt động giáo dục khác.

Tiêu chuẩn 4: Năng lực thực hiện kế hoạch dạy học bao gồm: đảm bảo

kiến thức môn học, đảm bảo chương trình, biết vận dụng các phương pháp

dạy học, biết sử dụng các phương tiện dạy học, có khả năng xây dựng môi

trường học tập, biết quản lí hồ sơ dạy học.

Tiêu chuẩn 5: Năng lực thực hiện kế hoạch giáo dục: có khả năng giáo

dục học sinh qua môn học, qua các hoạt động giáo dục khác, qua các hoạt

động trong cộng đồng, có khả năng vận dụng các phương pháp, hình thức tổ

chức giáo dục.

Tiêu chuẩn 6: Năng lực kiểm tra, đánh giá kết quả học tập và rèn luyện

đạo đức, gồm có: đánh giá kết quả học tập, đánh giá kết quả rèn luyện đạo đức.

Tiêu chuẩn 7: Năng lực hoạt động chính trị xã hội gồm có: phối hợp

với gia đình học sinh và cộng đồng; tham gia hoạt động chính trị xã hội.

Tiêu chuẩn 8: Năng lực phát triển nghề nghiệp: tự đánh giá, tự học và

tự rèn luyện, có khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề.

Để nâng cao chất lượng giáo dục giáo viên tiếng, việc thực hiện theo

những tiêu chuẩn trên là cần thiết, với đặc thù môn học trong điiều kiện giảng

dạy hiện tại thì các tiêu chuẩn: 4 và 8 cần được chú ý.

3.1.2.2. Bổ sung, hoàn thiện các cơ chế, chính sách đào tạo, bồi dưỡng, sử

dụng nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục

- Luật Giáo dục 2005 đã quy định: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con

người Việt Nam phát triển toàn diện...”, “Phương pháp giáo dục phải phát huy

71



tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho

người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí

vươn lên”; “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí,

đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài “Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát

triển. Nhà nước ưu tiên đầu tư cho giáo dục”; “Nhà giáo giữ vai trò quyết định

trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục. Nhà giáo phải không ngừng học tập,

rèn luyện nêu gương tốt cho người học. Nhà nước tổ chức đào tạo, bồi dưỡng

nhà giáo; có chính sách sử dụng, đãi ngộ, bảo đảm các điều kiện cần thiết về

vật chất và tinh thần để nhà giáo thực hiện vai trò và trách nhiệm của mình;

giữ gìn và phát huy truyền thống quý trọng nhà giáo, tôn vinh nghề dạy học”.

[33].

Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành TƯ Đảng lần 2 (khoá VIII) đã chỉ

rõ: “Khâu then chốt để thực hiện chiến lược phát triển giáo dục là phải đặc

biệt chăm lo đến công tác đào tạo và bồi dưỡng chuẩn hoá đội ngũ giáo

viên”.

Bồi dưỡng giáo viên là một trong những công tác trọng tâm để đội ngũ

này có thể đảm đương tốt nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục ngày càng nặng nề.

Trước yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông nhằm phát triển giáo

dục trong thời kì CNH, HĐH đất nước, trình độ và năng lực của giáo viên

phải không ngừng được nâng lên bằng nhiều biện pháp, trong đó, biện pháp

bồi dưỡng và tự bồi dưỡng có ý nghĩa rất quan trọng.

Tổ chức bồi dưỡng giáo viên và động viên, khuyến khích giáo viên tự

bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ là hai biện pháp có mối quan hệ hữu cơ

với nhau, bổ sung cho nhau. Trong quá trình thực hiện, các cấp quản lí giáo

dục phải coi trọng cả hai biện pháp này.

Bồi dưỡng và tự bồi dưỡng giúp cho đội ngũ giáo viên thực hiện PCGD

THPT có đủ trình độ, năng lực hoàn thành nhiệm vụ được giao và phát triển

đội ngũ này theo yêu cầu phát triển giáo dục - đào tạo. Trình độ đào tạo giáo

viên THPT theo chuẩn cấp học chỉ là mức quy định tối thiểu, còn năng lực

72



thực tế của giáo viên mới là yếu tố quyết định đến việc thực hiện nhiệm vụ

giáo dục mà họ được giao. Do đó, mục tiêu của công tác bồi dưỡng và tự bồi

dưỡng là giúp cho giáo viên củng cố được vốn tri thức, kinh nghiệm giảng

dạy, giáo dục đã có, đồng thời bổ sung, cập nhật những tri thức mới, học tập

kinh nghiệm hay của đồng nghiệp để vận dụng vào công tác của mình, nâng

cao khả năng thích ứng với yêu cầu ngày càng cao của nền giáo dục hiện đại.

Trên cơ sở đội ngũ giáo viên đã đạt chuẩn đào tạo cao, nội dung chủ yếu của

công tác bồi dưỡng và tự bồi dưỡng là nâng cao năng lực thực tiễn của họ

trong công tác giáo dục. Nội dung bồi dưỡng và tự bồi dưỡng rất rộng, đó là

các vấn đề liên quan trực tiếp đến giảng dạy và cả những vấn đề bổ trợ cho

công tác giáo dục. Cụ thể là:

Một- Bồi dưỡng về chính trị, tư tưởng, xã hội. Đây là nội dung bồi

dưỡng và rèn luyện thường xuyên nhằm nâng cao nhận thức về chính trị, xã

hội, về đường lối, chủ trương phát triển đất nước của Đảng và Nhà nước, về

pháp luật, về văn hoá, về công tác xã hội…

Hai- Bồi dưỡng về kiến thức chuyên môn phù hợp với chuyên ngành

đào tạo và nhiệm vụ giảng dạy của giáo viên. Thực tế ở THPT, một giáo viên

không chỉ dạy một môn theo đúng chuyên ngành được đào tạo mà thường

được phân công giảng dạy thêm một môn khác để đảm bảo phân công lao

động chung toàn trường; do đó, việc bồi dưỡng phải chú trọng đến cả bồi

dưỡng theo chuyên ngành và bồi dưỡng theo thực tế công tác của giáo viên.

Ngoài ra, cũng cần bồi dưỡng các kiến thức liên môn cần thiết theo hướng

tích hợp, ví dụ: Ngoại ngữ - Tin học

Ba- Bồi dưỡng về nghiệp vụ sư phạm, kinh nghiệm giáo dục: Phương

pháp giảng dạy bộ môn theo yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông, kĩ năng tổ

chức các hoạt động giáo dục.

Bốn - Bồi dưỡng về ngoại ngữ, cụ thể là tiếng Anh, và kiến thức cơ bản

về Tin học. Đây là một trong những vấn đề rất cần thiết cho mỗi giáo viên



73



trong việc tăng cường năng lực thích ứng với yêu cầu giáo dục hiện đại ngày

một nâng cao.

Năm - Bồi dưỡng về phương pháp nghiên cứu khoa học. Đây là một nội

dung thiết thực, góp phần làm cho giáo viên nâng cao trình độ nghiên cứu

các vấn đề phục vụ cho giảng dạy và giáo dục.

3.1.3. Căn cứ để phát triển đội ngũ giáo viên THPT

3.1.3.1. Quy mô học sinh

Với tốc độ đô thị hóa và sự phát triển của hệ thống dân cư, dự báo đến năm

2020 của quận Hà Đông về quy mô học sinh khối THPT là 10.350, như vậy

so với số học sinh THPT thực có tính đến năm 2012 là 8692 đến năm 2020

tăng 119%.

3.1.3.2. Tỷ lệ học sinh trên tỷ lệ giáo viên

Hiện nay, với 8692 học sinh THPT với 66 giáo viên giảng dạy, bình quân 131

học sinh/1 giáo viên, số lượng này cũng là nhiều so với thực tế.

Trong tương lai, nếu số học sinh THPT được dự báo là 10.350 thì số giáo

viên tiếng Anh sẽ cần là 80 giáo viên.

3.2. Các nguyên tắc lựa chọn biện pháp

3.2.1. Nguyên tắc tính thực tiễn

Các biện pháp quản lý được đề xuất có tính đến các điều kiện, hoàn cảnh, môi

trường khách quan, chủ quan của các trường THPT trong hiện tại và tương lai

cũng như khả năng áp dụng các biện pháp đó trong thực tiễn của các trường

THPT. Tuy nhiên, việc thực hiện các biện pháp phải đảm bảo từng bước nâng

cao chất lượng dạy học môn ngoại ngữ, không làm xáo trộn về tổ chức, không

thay đổi toàn bộ chương trình đào tạo hoặc không đảm bảo nguyên tắc dạy học.

Các biện pháp quản lý được khả thi chỉ khi có tính đến các điều kiện thực hiện.

3.2.2. Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa

Trong mọi sự phát triển, yếu tố kế thừa bao giờ cũng được xem là quan

trọng, vì rằng thế hệ đi trước đã trải qua cả một giai đoạn dài để tích lũy tri

thức, vốn sống, kinh nghiệm công tác. Với những kết quả đó, thế hệ sau,

74



những người nối tiếp với sự hỗ trợ của khoa học kỹ thuật, điều kiện xã hội

phát triển sẽ phát huy được các yếu tố tích cực trong công việc hiện tại.

3.2.3. Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ

Sự thành công của một lĩnh vực, một đơn vị là sức mạnh tổng hợp của

cả một hệ thống. Cần đảm bảo các biện pháp không mâu thuẫn nhau, không

được tách rời, riêng rẽ mà phải tạo điều kiện hỗ trợ lẫn nhau trong mối quan

hệ biện chứng chặt chẽ và tạo thành một hệ thống chỉnh thể nhằm tác động tới

nhiều mặt khác nhau của vấn đề đang được quản lý. Do vậy, các biện pháp

quản lý phải đảm bảo tính đồng bộ thì mới đem lại tính khả thi và tính hiệu

quả. Việc quản lý quá trình dạy học phải được làm tốt từ chính các GV và các

HS. Việc làm này phải có sự quản lý, giám sát chặt chẽ của tổ trưởng chuyên

môn, của Nhà trường.

3.2.4. Nguyên tắc tính khả thi

Căn cứ vào tình hình thực tế thì các việc triển khai yêu cầu đặt ra mới

có tính khả thi, điều đó phụ thuộc vào nhiều yếu tố: tài chính, nhân lực, cơ sở

vật chất, v.v...

Vì vây, cần căn cứ vào các điều kiện cụ thể có mới có thể triển khai

các hoạt động trong thực tiễn.

3.2.5. Nguyên tắc tính hiệu quả

Các biện pháp nêu ra nhằm vào mục tiêu cuối cùng là nâng cao chất

lượng và hiệu quả công tác đào tạo của các trường THPT thông qua việc tăng

cường công tác quản lý hoạt động dạy - học ngoại ngữ cho HS. Những biện

pháp nêu ra nhằm vào việc từng bước cải tiến chất lượng và hiệu quả của hoạt

động dạy - học ngoại ngữ cho HS hiện nay. Xuất phát từ nguyên tắc tính hiệu

quả, những biện pháp đề xuất cần mang lại hiệu quả trong hoàn cảnh cụ thể

và trong thời điểm nhất định.

3.3. Các biện pháp quản lý phát triển đội ngũ giáo viên tiếng Anh THPT

trên địa bàn quận Hà Đông thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay



75



3.3.1. Biện pháp về điều kiện đảm bảo phát triển đội ngũ giáo viên tiếng

Anh THPT

Kết hợp việc tham mưu cho các cấp chính quyền để có chế độ, chính sách đãi

ngộ thoả đáng đối với đội ngũ giáo viên tiếng Anh cùng với việc với việc

động viên đội ngũ GV phát huy tinh thần trách nhiệm nghề nghiệp.

Công tác giáo dục không chỉ là nghề nghiệp giáo viên chọn lựa mà còn

là công việc đem lại cho họ một vị trí xã hội nhất định, một sự đãi ngộ dành

cho công sức, sự cống hiến của họ cho nghề nghiệp và cho xã hội. Do đó, việc

phát triển đội ngũ giáo viên không chỉ quan tâm đến việc tạo điều kiện cho họ

thực hiện nghĩa vụ công tác mà còn chăm lo đến quyền lợi, đến đời sống vật

chất và tinh thần của họ. Giải quyết hài hoà hai mặt đó không chỉ động viên,

khuyến khích giáo viên hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình mà còn góp phần

làm cho tổ chức ngày càng phát triển.

3.3.3.1. Mục tiêu

Chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của giáo viên, tạo môi trường làm

việc thuận lợi cho họ để động viên, khuyến khích họ gắn bó với công việc,

với tổ chức, nỗ lực khắc phục khó khăn, phát huy cao độ công sức, tài năng,

kinh nghiệm, sáng kiến để thực hiện chương trình giảng dạy, phát triển GDĐT trên địa quận.

Mỗi giáo viên là một thành viên của tập thể nhà trường, là một nhân tố quan

trọng của đội ngũ giáo viên. Do đó, việc chăm lo thực hiện chế độ, chính sách

động viên và đãi ngộ cho họ phải chú ý đến từng con người, từng cá nhân cụ

thể. Người làm công tác quản lí giáo dục cần tìm hiểu, nắm bắt tâm tư, tình

cảm, động cơ công tác, nhu cầu làm việc và hưởng thụ, hoàn cảnh gia đình

của họ để có cách thức tác động cụ thể và hiệu quả. Cần tôn trọng nhân cách

mỗi giáo viên đồng thời hướng họ vào mục tiêu chung của tập thể để họ đồng

cảm, tôn trọng đồng nghiệp và chia sẻ hoàn cảnh, nguyện vọng của các giáo

viên khác trong nhà trường. Mỗi giáo viên tự giác phấn đấu làm tốt nhiệm vụ

của mình sẽ góp phần làm cho tổ chức hoàn thành nhiệm vụ chung và khi tổ

76



chức nhà trường vững mạnh, hoàn thành tốt nhiệm vụ công tác thì sẽ có tác

động tích cực trở lại đối với mỗi giáo viên. Mục tiêu của công tác này là đảm

bảo sự hài hoà giữa việc động viên về tinh thần và chăm lo thiết thực về vật

chất cho giáo viên.

3.3.3.2. Nội dung

Thực hiện đúng, đủ, kịp thời các chính sách, chế độ đãi ngộ hiện hành

của Nhà nước đối với người lao động về lương, phụ cấp, về các chế độ đãi

ngộ khác theo đặc thù nghề nghiệp dạy học. Tuỳ theo điều kiện của mỗi cơ

sở, có biện pháp để có thể cải thiện và nâng cao thu nhập cho giáo viên, nâng

cao mức sống của gia đình họ.

Thực hiện việc chăm sóc sức khoẻ, khám, chữa bệnh, vệ sinh môi

trường, tổ chức các hoạt động văn hoá thể thao, vui chơi giải trí, nghỉ ngơi,

tham quan du lịch để giáo viên có đủ sức khoẻ, thoải mái về thể chất và tinh

thần, đảm đương nhiệm vụ công tác lâu dài.

Thực hiện chế độ học tập, bồi dưỡng và tự bồi dưỡng thường xuyên về

chuyên môn, nghiệp vụ; tạo thuận lợi cho những giáo viên có nhu cầu và điều

kiện học tập nâng cao.

Quan tâm chăm lo nâng cao cơ sở vật chất, phương tiện dạy học, giáo

dục, điều kiện hoạt động xã hội của giáo viên.

Thực hiện việc xây dựng tập thể giáo viên đoàn kết, thân ái, tôn trọng

và tạo điều kiện để phát huy quyền công dân, quyền của giáo viên trên lĩnh

vực công tác. Đảm bảo nguyên tắc công bằng, công khai trong thi đua, khen

thưởng, kỉ luật, tránh tình trạng cào bằng trong đánh giá giáo viên, trong khen

thưởng và thực hiện đãi ngộ vật chất. Giải quyết hợp lí, hợp tình các vướng

mắc giữa các giáo viên trong đội ngũ, xây dựng bầu không khí tập thể sư

phạm lành mạnh, có tác dụng thúc đẩy cả tập thể cùng phát triển.

Phát huy tinh thần dân chủ trong công tác xây dựng đội ngũ của mỗi

giáo viên, mục đích là để mỗi người ý thức được vai trò, vị trí, nhiệm vụ của

mình trong tập thể, biến yêu cầu xây dựng tổ chức vững mạnh của nhà quản lí

77



thành nhu cầu của mỗi thành viên; đề cao vai trò tự quản lí của mỗi giáo viên

với tư cách là một nhà giáo, người tổ chức hoạt động dạy học và giáo dục trên

một lớp học, trong một trường học. Phân công công các cho giáo viên cần chú

ý đến cả điều kiện, hoàn cảnh gia đình và bản thân họ; có thể xem xét để giáo

viên được chuyển đến nơi có điều kiện công tác tốt hơn theo yêu cầu công

việc hoặc hoàn cảnh gia đình, nhu cầu hợp lí của cá nhân.

3.3.3.3. Phương thức thực hiện

Sở GD-ĐT kết hợp với các ban, ngành hữu quan như phòng Nội vụ,

phòng Tài chính - Kế hoạch, phòng Y tế, phòng Văn hóa - Thông tin… triển

khai và tổ chức thực hiện các văn bản hướng dẫn thực hiện chế độ, chính sách

hiện hành đối với nhà giáo; tham mưu với các cấp lãnh đạo để có chế độ,

chính sách đãi ngộ thoả đáng đối với đội ngũ giáo viên.

Phòng GD-ĐT với chức năng quản lí trực tiếp các trường THPT cần

chỉ đạo các nhà trường thực hiện đúng các văn bản hướng dẫn của nhà nước

về chính sách, chế độ đối với nhà giáo. Chú ý đến việc thực hiện ở tất cả các

trường để đảm bảo công bằng xã hội trên bình diện chung cả về quyền và

nghĩa vụ của mỗi giáo viên.

3.3.2. Nâng cao nhận thức về vai trò, tầm quan trọng của công tác phát triển

đội ngũ giáo viên tiếng Anh trên địa bàn quận Hà Đông thành phố Hà Nội

3.3.2.1. Mục tiêu của biện pháp

Phát triển giáo viên tiếng Anh THPT là một bộ phận hết sức quan trọng

gắn bó hữu cơ với công tác xây dựng và phát triển toàn thể đội ngũ giáo viên,

cán bộ quản lý, và nhân viên của các trường THPT trên địa bàn quận Hà

Đông.

Nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác phát triển ĐNGV tiếng

Anh, góp phần nâng cao uy tín, thương hiệu và tạo bước đột phá về chất

lượng giáo dục của các trường THPT.

Tăng cường đổi mới tư duy về công tác phát triển ĐNGV tiếng nước

ngoài trong toàn bộ cán bộ, giáo viên, nhân viên nhà trường để mọi thành viên

78



trong nhà trường hiểu rõ, hiểu đúng về vai trò, tầm quan trọng của công tác

phát triển ĐNGV tiếng Anh trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao chất

lượng, hiệu qủa của công tác quản lý phát triển nhân lực lao động trong thời

kì hội nhập.

3.3.2.2. Nội dung của biện pháp

Cần cập nhật thường xuyên các quy định của ngành và của Nhà nước

về giáo dục, đặc biệt việc cập nhật những thông tin mới liên quan tới chuyên

môn. Từ đó có các hình thức tuyên truyền để ĐNGV tiếp cận tri thức mới ,

tiếp thu chủ trương, chính sách của Nhà nước.

3.3.2.3. Phương thức thực hiện

Tổ chức các buổi tọa đàm ( hội thảo) phạm vi tùy thuộc điều kiện các

trường để bàn, trao đổi các nội dung.

Việc triển khai công tác này cần có lộ trình, có các bước đi thích hợp

thực hiện kế hoạch từng bước, từng giai đoạn, đảm bảo chất lượng đem lại

hiệu quả cao.

Sau các buổi thảo luận cần điều tra, phỏng vấn để biết được nhận thức

của đội ngũ giáo viên tiếng Anh, từ đó có điều chỉnh cho các bước đi tiếp

theo.

3.3.3. Xây dựng quy hoạch phát triển đội ngũ giáo viên tiếng Anh theo đặc

thù của bộ môn

3.3.3.1. Mục tiêu

Lập quy hoạch, kế hoạch đào tạo, phát triển đội ngũ giáo viên thực hiện tiếng

Anh THPT của quận là tạo điều kiện để kiện toàn tổ chức, tăng cường công

tác quản lí đội ngũ giáo viên làm công tác này một cách thường xuyên, có

hiệu quả. Thực hiện tốt việc lập quy hoạch, kế hoạch đào tạo đội ngũ là tạo ra

cơ sở vững chắc giúp cho việc đảm bảo tính kế thừa và tính liên tục của quá

trình phát triển đội ngũ giáo viên.

Hoạch định kế hoạch ngắn hạn, từ năm 2010 đến năm 2015, và kế

hoạch trung hạn, từ 2015 đến 2020. Ngành GD-ĐT tăng cường vai trò chủ

79



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (113 trang)

×