1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ SINH VIÊN NGOẠI TRÚ Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.5 MB, 114 trang )


tập chăm chỉ, ý chí vươn lên quyết liệt của người dân Hàn Quốc. Nhật Bản

cuối thế kỷ XIX, Hàn Quốc, Đài Loan những thập niên cuối thế kỷ XX là

những tấm gương về việc tập trung chăm lo cho giáo dục. Mặc dù khan

hiếm tài nguyên thiên nhiên, nhưng họ lấy nguồn lực con người làm tài sản

duy nhất thực hiện quá trình CNH. Việc gia tăng sức mạnh nguồn lực con

người được các cấp quốc gia của các nước này thực hiện bằng các cuộc

cách mạng trong GD&ĐT.

Hàng chục năm qua, Trung Quốc luôn là đất nước dẫn đầu thế giới

về tốc độ tăng trưởng GDP, có được sự tăng trưởng như vậy ở một đất

nước xấp xỷ 1,3 tỷ dân quả là thần kỳ và sự thần kỳ ấy cũng bắt đầu bởi sự

phát triển giáo dục. Ông Giang Trạch Dân – Nguyên Tổng bí thư Đảng

cộng sản, nguyên Chủ tịch nước, Chủ tịch quân uỷ quân đội nhân dân

Trung Quốc đã từng khẳng định: “Muốn chấn hưng đất nước phải chấn

hưng giáo dục, muốn chấn hưng giáo dục phải chấn hưng người thầy giáo”.

Như vậy, vai trò của giáo dục, của người thầy giáo được người đứng đầu

đất nước Trung Quốc đặt đúng vị trí của nó.

Ngày nay, việc nghiên cứu xu thế giáo dục thế kỷ XXI ở Việt Nam

chỉ rõ: “Sứ mệnh của giáo dục là phát triển toàn diện con người, đào tạo

nguồn nhân lực có đủ trình độ đáp ứng những yêu cầu của thời kỳ CNH,

HĐH đất nước và của thời đại trí tuệ, của nền kinh tế tri thức. Qua đó, giáo

dục làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Và vì vậy, Đảng và Nhà nước coi giáo dục là “Quốc sách hàng đầu”, toàn

xã hội đều có ý thức chăm lo cho sự nghiệp giáo dục, vì họ ngày càng hiểu

rằng: Giáo dục ngày nay được coi là nền tảng cho sự phát triển khoa học,

kỹ thuật, đem lại sự thịnh vượng cho nền kinh tế quốc dân.

Nhận thức được vai trò to lớn của giáo dục trong sự phát triển của

mỗi dân tộc, mỗi quốc gia. Vì thế, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước

đã có nhiều công trình đề cập đến vấn đề quản lý nói chung và QLGD nói

riêng như: Nguyễn Minh Đạo, Cơ sở của khoa học quản lý, Nhà xuất bản

14



Chính trị quốc gia, Hà Nội 1997. Chủ yếu các công trình trên nghiên cứu

về mặt lý luận quản lý, song chúng đã được ứng dụng rộng rãi và mang lại

hiệu quả nhất định trong việc QLGD, quản lý trường học.

Trong cuốn: “Những bài giảng về quản lý trường học”, tập 3, tác

giả Hà Sỹ Hồ cho rằng: “Trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo, việc quản

lý dạy và học (hiểu theo nghĩa rộng) là nhiệm vụ trung tâm của nhà

trường”, và nhấn mạnh: “Phải kết hợp một cách hữu cơ sự quản lý dạy và

học các bộ môn và các hoạt động khác hỗ trợ cho hoạt động dạy học nhằm

làm cho tác động giáo dục được hoàn chỉnh, trọn vẹn”.

Trước đây, do phần lớn SV học tại các trường ĐH đều có nơi ở trong

ký túc xá, nên những nghiên cứu toàn diện về quản lý SV ngoại trú hầu như

không được đề cập; có chăng cũng chỉ là những nghiên cứu liên quan đến

việc tổ chức giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các bậc học khác nhau như:

Nguyễn Hữu Hợp (chủ biên), Nguyễn Dục Quang, Công tác giáo dục

ngoài giờ lên lớp ở trường Tiểu học (giáo trình dành cho hệ đại học tại

chức đào tạo giáo viên tiểu học), Trường ĐHSP Hà Nội I, Hà Nội 1995; Hà

Thế Ngữ (chủ biên) và nhiều tác giả: Giáo dục đạo đức và giáo dục công

dân qua các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, NXB Giáo dục 1996;

Huỳnh Lâm Anh Chương, Nghiên cứu thực trạng một số hoạt động ngoài

giờ lên lớp của sinh viên nội trú trường ĐHSP TP Hồ Chí Minh, Luận văn

thạc sỹ Tâm lý học, Trường ĐHSP Hà Nội 1999...

Gần đây, ở hầu hết các trường ĐH, CĐ, THCN và DN do cơ sở vật

chất hạn hẹp, ký túc xá của trường chỉ đủ sức chứa khoảng 20% tổng số

HSSV, còn 80% HSSV phải ở ngoại trú tại gia đình, tại các nhà trọ, công

tác HSSV ngoại trú của các trường đang trở thành vấn đề bức xúc, lo lắng

và quan tâm của nhà trường, gia đình và xã hội. Tuy vậy, cũng chưa có

những nghiên cứu sâu sắc, toàn diện về công tác quản lý SV ngoại trú. Trên

các mặt báo, mà chủ yếu là Báo GD&TĐ, chỉ có những bài viết ngắn đề

cập đến một số thực trạng của công tác SV ngoại trú và SV ngoại trú như:

15



Vài lời khuyên khi ở nhà trọ, Báo GD&TĐ số 110 (12.9.2002); Đoàn Minh

Dưỡng, Long đong tìm nhà trọ, Báo GD&TĐ số 113 (19.9.2002); Lê Xuân

Hoài, Sinh viên Huế tìm nhà trọ, Báo GD&TĐ số 122 (10.10. 2002); Công

tác quản lý SV nội, ngoại trú, phòng chống ma tuý trong học đường, Báo

GD&TĐ số 137 (14.11.2002); Phương Ngọc, Quản lý HSSV ngoại trú: Từ

thực trạng đến quy chế, Báo GD&TĐ số 150 (14.12.2002)... Các bài viết

này cũng có đề cập đến một vài biện pháp quản lý SV ngoại trú, song lại

tập trung ở các Thành phố lớn như: Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Huế ... trong

khi công tác SV ngoại trú lại rất phụ thuộc đặc thù của từng nhà trường ở

từng địa phương khác nhau. Cho đến nay, chưa có một nghiên cứu chính

thức, có hệ thống nào về các biện pháp quản lý SV ngoại trú ở các trường

ĐH ở nước ta.

1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài nghiên cứu

Người ta quan niệm, quản lý là một hiện tượng xuất hiện rất sớm, là

một phạm trù tồn tại khách quan, được ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi

chế độ xã hội, mọi quốc gia, dân tộc, trong mọi thời đại. Quản lý là một

thuộc tính lịch sử, vì nó phát triển theo sự phát triển của xã hội loài người,

thường xuyên biến đổi, nó là nội tại của mọi quá trình lao động.

Theo quan điểm điều khiển học thì: Quản lý là chức năng của những

hệ thống có tổ chức, với bản chất khác nhau (xã hội, kỹ thuật, sinh học,...)

nó bảo toàn cấu trúc các hệ, duy trì chế độ hoạt động. Quản lý là tác động

hợp quy luật khách quan, làm cho hệ vận động, vận hành và phát triển.

Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống: Quản lý là: “Phương thức

tác động có chủ đích của chủ thể quản lý lên hệ thống, bao gồm hệ các quy

tắc, các ràng buộc về hành vi đối với mọi đối tượng ở các cấp trong hệ

thống nhằm duy trì tính trồi hợp lý của cơ cấu và đưa hệ thống sớm đạt tới

mục tiêu” [16. tr25]

Taylor (1856 - 1915) định nghĩa: “Quản lý là biết được chính xác

điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành

16



công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”. Đó cũng là tư tưởng cơ bản của

Taylor về quản lý theo khoa học, gồm 4 điểm chính:

- Phát triển khoa học để thay thế những thao tác cũ.

- Lựa chọn công nhân một cách khoa học.

- Gắn công nhân được chọn với tổ chức lao động khoa học.

- Phân đều công việc giữa người quản lý và công nhân, phải có “cách

mạng trí tuệ” cả phía người quản lý lẫn phía công nhân nhằm tạo ra những

sự gắn bó công việc cả hai phía.

Tư tưởng quản lý cốt lõi của Taylor là đối với mỗi loại công việc dù

nhỏ nhặt nhất đều có một “khoa học” để thực hiện nó, Ông đã liên kết các

mặt kỹ thuật và con người trong tổ chức.

Theo C. Mác (C. Mark 1818-1883): Bất cứ lao động xã hội hay cộng

đồng trực tiếp nào được thực hiện ở quy mô tương đối lớn đều cần ở chừng

mực nhất định đến sự quản lý. Quản lý là xác lập sự tương hợp giữa các

công việc cá nhân và hình thành những chức năng chung xuất hiện trong

toàn bộ cơ thể sản xuất, khác với sự vận động của bộ phận riêng lẻ của nó.

Như vậy, C. Mác đã lột tả được bản chất quản lý là một hoạt động

lao động tất yếu vô cùng quan trọng trong sự phát triển của xã hội loài

người.

Phrêdrick Ăngghen (Fredrick Engels 1820-1895) – Người thầy vĩ đại

của giai cấp vô sản, người bạn chiến đấu gần nhất của Mác đã phân tích

tính tất yếu khách quan của quyền uy trong tự nhiên, trong kỹ thuật và

trong xã hội, Ông viết: “Như thế, chúng ta vừa thấy được rằng một mặt,

một quyền uy nhất định, không kể quyền uy đó đã được tạo ra bằng cách

nào, và mặt khác, một sự phục tùng nhất định, đều là những điều kiện mà

trong bất cứ một tổ chức xã hội nào cũng đều do những điều kiện vật chất,

trong đó tiến hành sản xuất và lưu thông sản phẩm, làm cho trở thành tất

yếu đối với chúng ta” tr18, tr 421). Phải chăng đó là một nguyên tắc cơ bản

của quản lý.

17



Ở nước ta, nhiều nghiên cứu về quản lý, về khoa học quản lý đã góp

phần làm sáng tỏ những khái niệm này, như:

- GS. Đặng Vũ Hoạt và GS. Hà Thế Ngữ cho rằng: Quản lý là một

quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt

được những mục tiêu nhất định.

- Theo Nguyễn Minh Đạo thì: Quản lý là sự tác động liên tục, có tổ

chức, có định hướng của chủ thể lên khách thể về các mặt: Chính trị, văn

hoá, kinh tế, xã hội, giáo dục,... bằng một hệ thống các định luật, chính

sách, nguyên tắc, phương pháp, biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường

và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng.

- PGS, TS Đặng Quốc Bảo, Trường CBQL GD&ĐT cho rằng: “Hoạt

động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động. Chính sự phân

công, hợp tác lao động nhằm đến hiệu quả nhiều hơn, năng suất cao hơn

trong việc đòi hỏi phải có sự chỉ huy phối hợp, điều hành, kiểm tra, chỉnh

lý, ... phải có người đứng đầu. Đây là hoạt động để người thủ trưởng phối

hợp nỗ lực các thành viên trong nhóm, trong cộng đồng, trong tổ chức đạt

được mục tiêu đề ra”.

- Quản lý là khoa học vì nó là lĩnh vực tri thức được hệ thống hoá và

là đối tượng nghiên cứu khách quan đặc biệt. Quản lý là khoa học phân loại

kiến thức, giải thích các mối quan hệ - đặc biệt là mối quan hệ giữa chủ thể

quản lý và khách thể quản lý.

- Quản lý còn là một nghệ thuật, bởi lẽ nó là hoạt động đặc biệt đòi

hỏi sự khéo léo, tinh tế và linh hoạt trong những kinh nghiệm đã quan sát

được, những tri thức đã đúc kết được, người quản lý qua đó để áp dụng

những kỹ năng tổ chức con người và công việc. Xôcrat – Nhà triết học cổ Hy

Lạp đã nói: “Những người biết cách sử dụng con người sẽ điều khiển công

việc hoặc cá nhân một cách sáng suốt. Trong khi những người không biết

cách làm như vậy sẽ mắc sai lầm trong việc điều hành cả hai công việc này”.



18



Quản lý là hoạch định, tổ chức, bố trí nhân sự, lãnh đạo và kiểm soát

công việc và những nỗ lực của con người nhằm đạt được những mục tiêu

đã



đề ra.

Ngày nay, trước sự phát triển phức tạp của khoa học kỹ thuật và



những biến động không ngừng của nền kinh tế xã hội, công tác quản lý

ngày càng trở thành nhân tố quan trọng trong sự thành bại của đơn vị, thậm

chí ảnh hưởng đến cả vận mệnh quốc gia. Vì thế, những người làm công tác

quản lý hôm nay không những phải có trình độ văn hoá, trình độ chuyên

môn, có phẩm chất đạo đức tốt, mà còn phải là người được bồi dưỡng về

khoa học quản lý, nghệ thuật quản lý, năng lực tổ chức và có lòng tận tâm

với công việc.

Thực chất của hoạt động quản lý là việc xử lý mối quan hệ giữa chủ

thể quản lý và khách thể quản lý. Chủ thể quản lý luôn là con người và có

cơ cấu tổ chức phụ thuộc vào quy mô, độ phức tạp của khách thể quản lý.

Khách thể quản lý là đối tượng chịu sự điều khiển, tác động của chủ thể

quản lý, bao gồm con người, các nguồn tài nguyên, tư liệu sản xuất,... Tư

tưởng chỉ đạo xuyên suốt lịch sử, khoa học quản lý: Con người thực sự là

yếu tố quan trọng nhất trong khách thể quản lý. Bản chất của hoạt động

quản lý là việc phát huy được nhân tố con người trong tổ chức.

Hoạt động quản lý chỉ phát huy được nhân tố con người và đạt được

hiệu quả cao khi nó tạo ra được cái toàn thể – chỉnh thể từ nhiều cá nhân và

tư liệu sản xuất của tổ chức, xã hội. Yêu cầu về tính toàn thể của tổ chức

mang tính khách quan, nó đòi hỏi các nhà quản lý phải xác lập được mục

tiêu rõ ràng và biết điều hành hệ thống của mình tới đích. Hoạt động quản

lý có những yêu cầu khách quan, phổ biến đối với những người làm quản

lý, đó là những chức năng chung và cơ bản của hoạt động quản lý.

Chức năng quản lý:



19



Các chức năng QL là biểu hiện cụ thể của các hoạt động QL, là một

phạm trù chiếm vị trí then chốt trong các phạm trù cơ bản của khoa học

QL, là những hoạt động bộ phận tạo thành hoạt động QL.



20



Kế hoạch

Kiểm tra



Thông tin



Tổ chức



Chỉ đạo

Hình 1.1. Mô hình của chu trình quản lý

Trong đó:

+ Chức năng kế hoạch là quá trình xác định các mục tiêu, hệ thống

các hoạt động và quyết định các biện pháp tốt nhất để thực hiện được mục

tiêu đó.

+ Chức năng tổ chức là quá trình thu nhận, sắp xếp, phân bổ công

việc quyền hành và các nguồn lực cho các thành viên của tổ chức để họ có

thể đạt được các mục tiêu của tổ chức một cách có hiệu quả. ứng với

những mục tiêu khác nhau đòi hỏi cấu trúc đơn vị cũng khác nhau. Nhờ tổ

chức có hiệu quả mà người QL có thể phối hợp điều hành tốt hơn nguồn

nhân lực và các nguồn lực khác. Một tổ chức được thiết kế phù hợp sẽ phát

huy được năng lực nội sinh và có ý nghĩa quyết định đến việc chuyển hoá

kế hoạch thành hiện thực.

+ Chức năng chỉ đạo là quá trình tác động, ảnh hưởng tới hành vi và

tháI độ của các thành viên của tổ chức nhằm hiện thực hoá với chất lương

cao. Chỉ đạo là quá trình tác động, liên kết các thành viên trong tổ chức, tập

hợp, động viên họ hoàn thành những công việc nhất định để đạt được mục

tiêu của tổ chức.

+ Chức năng kiểm tra là quá trình đánh giá và điều chỉnh nhằm giúp

cho các đối tượng hoàn thành nhiệm vụ và đạt tới mục tiêu đã đặt ra. Chức

năng kiểm tra là chức năng quan trọng trong quá trình quản lý. Quản lý mà



21



không kiểm tra thi coi như không quản lý. Nhờ có hoạt động kiểm tra mà

người cán bộ quản lý đánh giá được kết quả công việc và uốn nắn, điều

chỉnh một cách đúng hướng nhằm đạt mục tiêu đề ra.

Thông tin là tin tức được chuyển giao, lưu trữ trong các bộ máy

quản lý, giúp nhà QL vận hành bộ máy, thiếu tin tức nhà QL không thể

thực hiện được các hoạt động quản lý có hiệu quả. Thông tin là nguyên liệu

của nhà QL để đề ra các quyết định QL. Thông tin là mạch máu của hoạt

động QLvà nó có quan hệ hai chiều với các chức năng quản lý. Quyết định

là sản phẩm lao động của các nhà quản lý.

Các nguyên tắc quản lý:

Trong việc quản lý các tổ chức (kinh tế, chính trị, văn hoá, giáo

dục...) mà yếu tố chủ yếu là con người, các nhà lãnh đạo quản lý thường

vận dụng những nguyên tắc sau:

+ Nguyên tắc đảm bảo tính Đảng:

Đảng cộng sản Việt Nam là Đảng duy nhất cầm quyền, vì thế trong

quản lý phải bám sát đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng trong

hoạt động của bộ máy.

+ Nguyên tắc tập trung dân chủ:

Đây là nguyên tắc quan trọng tạo khả năng quản lý một cách khoa

học, có sự kết hợp chặt chẽ của các cơ quan quyền lực với sức mạnh sáng

tạo của quảng đại quần chúng trong việc thực hiện mục tiêu quản lý.

Tập trung trong quản lý được hiểu là toàn bộ các hoạt động của hệ

thống tập trung vào cơ quan quyền lực cao nhất, cấp này có nhiệm vụ vạch

đường lối, chủ trương, phương hướng mục tiêu tổng quát và đề xuất các

giải pháp cơ bản để thực hiện. Nguyên tắc tập trung được thể hiện thông

qua chế độ một thủ trưởng.

Dân chủ trong quản lý được hiểu là: Phát huy quyền làm chủ của mọi

thành viên trong tổ chức, huy động trí lực của họ. Dân chủ được thể hiện ở



22



chỗ: Các chỉ tiêu, kế hoạch hành động đều được tập thể tham gia, bàn bạc,

kiến nghị các biện pháp trước khi quyết định.

Trong thực tiễn người quản lý phải biết kết hợp hài hoà giữa tập

trung và dân chủ, tránh tập trung dẫn đến quan liêu, độc đoán. Song, cũng

phải biết sử dụng quyền lực tập trung một cách đúng lúc, đúng chỗ, phải

dám quyết đoán và dám chịu trách nhiệm.

1.2.1. Quản lý giáo dục

Giáo dục là một hiện tượng xã hội, Nhà nước XHCN có trách nhiệm

quản lý về mọi mặt hoạt động trong cuộc sống xã hội.

Quản lý giáo dục đối với nhà nước là: Tập hợp những tác động hợp

quy luật, được thể chế hoá bằng pháp luật của chủ thể quản lý đến tất cả

các phân hệ quản lý, nhằm làm cho hệ thực hiện được mục tiêu giáo dục,

mà kết quả cuối cùng là chất lượng và hiệu quả của quá trình đào tạo.

Khoa học QLGD ra đời sau khoa học quản lý kinh tế. Do cách nhìn

nhận giáo dục ở những mức độ khác nhau, nên những khái niệm QLGD có

nội dung rộng, hẹp khác nhau. Các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã

đưa ra một số định nghĩa về QLGD như:

Ở Việt Nam theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang thì: “Quản lý giáo dục

là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch hợp với quy luật của

chủ thể quản lý, nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý

giáo dục của Đảng. Thực hiện được các tính chất của nhà trường XHCN

Việt Nam. Mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ,

đưa hệ giáo dục đến mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất”. [25.

tr12]

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo thì: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng

quát là hoạt động điều hành phối hợp của các lực lượng xã hội nhằm thúc

đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu xã hội”. [2. tr31]

Giáo sư Phạm Minh Hạc cho rằng: “Việc quản lý nhà trường phổ

thông (có thể mở rộng ra là việc quản lý giáo dục nói chung) là quản lý

23



hoạt động dạy – học, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này

sang trạng thái khác để dần dần tiến tới mục tiêu giáo dục”. [15. tr71]

Theo tác giả M.I Kônđacốp thì: “Quản lý giáo dục là tập hợp các

biện pháp tổ chức cán bộ, giáo dục, kế hoạch hoá, tài chính... nhằm đảm

bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục để

tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất

lượng” [16. tr22]

Như vậy, các định nghĩa trên đều đề cập đến dạy và học. Trong đó,

các định nghĩa của Việt Nam đều đề cập đến đường lối giáo dục của Đảng,

do giáo dục chịu sự chi phối của Đảng, đây là nét đặc trưng của giáo dục

XHCN. Tập trung mục tiêu giáo dục là con người: Tạo điều kiện cho

HSSV phát triển toàn diện và hoàn thiện nhân cách cho mọi công dân.

Quản lý Giáo dục như sau:

+ QLGD là một hệ thống tác động có kế hoạch, có ý tưởng, có mục

đích của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý.

+ QLGD là sự tác động lên tập thể giáo viên, học sinh và các lực

lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường, nhằm huy động họ cùng phối

hợp, tác động, tham gia vào các hoạt động giáo dục của nhà trường để đạt

mục đích đã định.

+ Trên cơ sở lý luận, chúng ta thấy rằng: Thực chất của nội dung

QLGD là nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong việc hình thành nhân cách của

người học.

1.2.2. Quản lý trường học

Trường học là đơn vị cơ sở mà ở đó tiến hành quá trình GD&ĐT.

Nhà trường là một thiết chế đặc biệt của xã hội, thực hiện chức năng kiến

tạo các kinh nghiệm xã hội cho một nhóm dân cư nhất định của xã hội đó.

Nhà trường tổ chức cho việc kiến tạo xã hội nói trên đạt được các mục tiêu

xã hội và đặt ra cho nhóm dân cư được huy động vào sự kiến tạo này một

cách tối ưu theo quan niệm xã hội.

24



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (114 trang)

×