1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ SV NGOẠI TRÚ Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ THANH HOÁ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.5 MB, 114 trang )


“Thanh Hoá là quê hương của người anh hùng áo vải Lê Lợi vào thế

kỷ 15, đất Lam Sơn lừng danh với sự nghiệp lớn nhà Hậu Lê kéo dài mấy

trăm năm”.

“Người Thanh Hoá xưa cũng là những người tiên phong khai mở

Châu Ô, Chấu Rí lập nên Thuận Hoá tức là Huế - Thừa Thiên bây giờ.

Nhiều chi họ ở Huế ngày nay như Trần, Lê, Huỳnh, Đoàn, Phạm, Phan, Võ,

Hồ đều có tổ tiên sinh trưởng ở Thanh Hoá từ trước thế kỷ 14...”

Đất Thanh Hoá còn là quê quán hay nơi dụng võ của nhiều bậc trí

thức trổi trang như Sử gia đầu tiên của nước ta Lê Văn Hưu, nhà sử học nhà thơ Nhữ Bá Sỹ, nhà thơ Đào Duy Từ, vị thượng thư bộ lại rất mực liêm

khiết Lê Tuấn Kiệt, “Lưỡng Quốc trạng nguyên” được vua Đường phong

chức Tể tướng Khương Công Phụ (Triều Đường Đức Tông, năm 784),

Trạng nguyên Lê Quát... và cả một nhân vật văn học dân gian nổi tiếng Trạng Quỳnh (tên thật là Nguyễn Quỳnh, quê ở làng Hoàng Bột, nay là xã

Hoằng Lộc - Huyện Hoằng Hoá - Thanh Hoá).

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp mà đỉnh cao là chiến

dịch Điện Biên Phủ, Thanh Hoá là địa phương đóng góp người và của

nhiều nhất trong cuộc kháng chiến.

Đất Thanh được sử sách coi là vùng đất “Địa linh nhân kiệt”, con

người xứ Thanh vốn có truyền thống hiếu học, vượt lên gian khó để học

hành. Cho đến nay, nhiều học trò giỏi quê Thanh Hoá đã góp phần cùng

học trò cả nước làm rạng danh Việt Nam trong các kỳ thi học sinh giỏi

Quốc tế. Mỗi năm học, hàng chục học sinh Thanh Hoá đạt giải học sinh

giỏi quốc gia.

Trong xu thế chung của cả nước, những năm gần đây tình hình kinh

tế - xã hội của tỉnh Thanh Hoá đã và đang có những chuyển biến tích cực.

Song, trong những tồn tại thì vấn đề tệ nạn xã hội, nhất là tệ nạn ma tuý một tệ nạn rất nhiều cơ hội tác động vào SV nói chung và SV ngoại trú nói

riêng đang diễn biến hết sức phức tạp.

39



Về người nghiện ma tuý:

* Một trong những tệ nạn xã hội dễ tác động, ảnh hưởng và liên

quan đến SV là các tệ nạn xã hội. Theo đánh giá gần đây nhất của Ban chỉ

đạo phòng chống AIDS, ma tuý, mại dâm tỉnh Thanh Hoá (tháng 5/2004)

thì:

“Tuy công tác phòng chống các tệ nạn xã hội trong những năm qua

đã được một số kết quả nhất định, song tình hình tệ nạn xã hội ở Thanh

Hoá vẫn còn phức tạp, nhất là trọng dịp hè, lễ hội ở các khu du lịch, thị xã

Sầm Sơn, Bỉm Sơn, TP Thanh Hoá...”

Trong những năm gần đây nền kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội

trong tỉnh có bước tăng trưởng, đời sống nhân dân được cải thiện và ngày

một nâng cao, nhưng mặt khác tệ nạn xã hội đang có nguy cơ phát triển trở

lại.

* Về tình hình an ninh trật tự:

Thanh Hoá là tỉnh được Ban chỉ đạo 138 trung ương chỉ đạo điểm

thực hiện Nghị quyết 09/CP của Chính phủ và Quyết định 138/T.T.g của

Thủ tướng Chính phủ về Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm với

đề án “Phát động toàn dân tham gia phòng ngừa, phát hiện, tố giác tội

phạm; cảm hoá, giáo dục, cải tạo người phạm tội tại gia đình và cộng đồng

dân cư”. Vì vậy, có thể nói: Tình hình an ninh trật tự trên địa bàn toàn tỉnh

được giữ vững, số vụ phạm pháp hình sự giảm dần trong những năm qua.

Hàng nghìn đối tượng phạm tội được cảm hoá, giáo dục, nhiều đối tượng,

kể cả đối tượng bị truy nã đặc biệt đã ra đầu thú.

* Về an ninh chính trị:

Được giữ ổn định. Tuy nhiên, có một số hiện tượng và diễn biến rất

đáng quan tâm như: việc tán phát các tài liệu của các thế lực thù địch trên

địa bàn tỉnh đã có (trước đây hầu như không có), việc truyền đạo trái phép,

lôi kéo SV sinh hoạt tôn giáo, lôi kéo di dân tự do và truyền đạo Tin Lành



40



trong đồng bào Mông ở các huyện Mường Lát, Quan Sơn, Quan Hoá đang

có những diễn biến phức tạp.

Chính điều kiện tự nhiên, truyền thống lịch sử - văn hoá, tình hình

kinh tế - chính trị - xã hội của tỉnh Thanh Hoá đã có tác động trực tiếp đến

đối tượng SV nói chung và SV trường ĐH Hồng Đức nói riêng. Nghiên

cứu về các vấn đề trên cũng chính là cơ sở khoa học cho tính cấp thiết của

đề tài và việc đánh giá thực trạng các biện pháp quản lý SV ngoại trú của

nhà trường ĐH Hồng Đức.

2.1.2. Đặc điểm về điều kiện tự nhiên - xã hội của TP Thanh Hoá

TP Thanh Hoá là đô thị lớn nhất - trung tâm kinh tế, chính trị, văn

hoá và khoa học - kỹ thuật của tỉnh Thanh Hoá từ xưa tới nay. TP Thanh

Hoá là thành phố cấp II (được Thủ tướng Chính phủ ra quyết định công

nhận năm 2005). Bắc giáp huyện Hoằng Hoá, Đông và Nam giáp huyện

Quảng Xương, Tây giáp 2 huyện Đông Sơn và Thiệu Hoá. Diện tích tự

nhiên là 58.8 km2. Tại thời điểm 30.05.2003: TP Thanh Hoá có 44.861 hộ

dân với 195.739 nhân khẩu thường trú và tạm trú trên địa bàn thành phố

(mỗi năm có khoảng 220.000 lượt người nơi khác đến tạm trú).

Với tốc độ đô thị hoá nhanh, trên toàn thành phố có 277 đường phố

(trong đó có 52 đường phố mới), có đường giao thông liên tỉnh, liên huyện,

1 nhà ga, 4 bến xe, trung tâm Thiên chúa giáo, phật giáo của tỉnh,.... TP

Thanh Hoá có 12 phường (Ba Đình, Điện Biên, Đông Sơn, Đông Thọ,

Đông Vệ, Hàm Rồng, Lam Sơn, Nam Ngạn, Ngọc Trạo, Phú Sơn, Tân Sơn,

Trường Thi) và 6 xã (Đông Hương, Đông Hải, Đông Cương, Quảng Hưng,

Quảng Thắng, Quảng Thành). Hiện có 653 cơ quan, xí nghiệp, doanh

nghiệp có trụ sở hoặc văn phòng đại diện đóng trên địa bàn TP Thanh Hoá

(khối quản lý hành chính nhà nước: 258 cơ quan, khối kinh tế xã hội 395

cơ quan), trong đó có 72 trường học (61 trường phổ thông các cấp và 11

trường chuyên nghiệp thuộc khối đào tạo) và có 12 trường chuyên nghiệp

thuộc khối đào tạo đóng trên địa bàn TP Thanh Hoá bao gồm:

41



1. Trường Đại học Hồng Đức.

2. Trường Cao đẳng Y.

3. Trường Trung học Sư phạm 12+2.

4. Trường Chính trị tỉnh Thanh Hoá.

5. Trường Thương mại TW V.

6. Trường Trung học Thuỷ sản.

7. Trường Trung học xây dựng.

8. Trường Trung học Thể dục - thể thao.

9. Trường Kỹ thuật - Công nghiệp.

10.Trường Công nhân Kỹ thuật thuỷ lợi.

11.Trường Dạy nghề Kỹ thuật nghiệp vụ Giao thông - Vân tải.

12.Trường Dạy nghề Thủ - Công - Nghiệp.

Năm học 2002-2003, tổng số HSSV của 12 trường kể trên là 16.788

HSSV, trong đó chỉ có 3487 HSSV được ở nội trú (chiếm 20,77%), số còn

lại chủ yếu ngoại trú trên địa bàn TP Thanh Hoá, chưa kể số học sinh phổ

thông ở các huyện đến trọ học tại TP Thanh Hoá (chỉ có trường THPT Dân

tộc nội trú có đủ 100% số chỗ ở nội trú cho học sinh). Như vậy, việc quản

lý SV ngoại trú trên địa bàn TP Thanh Hoá thực tế không phải là vấn đề

nhỏ, đơn giản (toàn TP Thanh Hoá hiện có 603 cơ sở kinh doanh thuê trọ

dưới nhiều hình thức).

Một trong những vấn đề tác động lớn, trực tiếp đến SV các trường

chuyên nghiệp đóng trên địa bàn TP Thanh Hoá đó là an ninh trật tự.

Tình hình an ninh trật tự của TP Thanh Hoá trong những năm qua về

cơ bản được giữ ổn định, số vụ việc về an ninh trật tự giảm dần. Song, do

tốc độ đô thị hoá của TP Thanh Hoá khá nhanh, bình quân mỗi ngày, đêm

có hơn 600 lượt người nơi khác đến tạm trú và nhiều nguyên nhân khác nên

tình hình an ninh trật tự, nhất là tình hình tệ nạn xã hội có nhiều diễn biến

rất phức tạp, nhất là tệ nạn ma tuý, mại dâm, cờ bạc, gây rối trật tự công

cộng, vi phạm luật lệ an toàn giao thông,... Riêng tệ nạn ma tuý không

42



những không giảm mà ngược lại có chiều hướng gia tăng, kể cả số vụ vi

phạm và số con nghiện.

“Tình hình tội phạm có nơi, có lúc còn diễn biến phức tạp, các lực

lượng chức năng đấu tranh mạnh, một số loại tội phạm có giảm nhưng vẫn

chưa cơ bản như trộm cắp tài sản công dân, nghiện ma tuý và tội phạm ma

tuý có chiều hướng tăng, tính chất ngày càng phức tạp đang là nỗi lo của

nhân dân, tình hình tại nạn giao thông vẫn chưa giảm, số người chết do tai

nạn giao thông có chiều hướng tăng, trật tự đô thị có chuyển biến nhưng

vẫn còn nhiều tụ điểm chưa được giải quyết về tình trạng lấn chiếm vỉa hè

để kinh doanh, tập kết vật liệu xây dựng vẫn còn xảy ra gây cản trở giao

thông và ảnh hưởng đến mỹ quan đô thị”.

Riêng về tệ nạn ma tuý, theo số liệu của Ban chỉ đạo 138 tỉnh Thanh

Hoá, từ đầu năm 1998 đến 2004 trên địa bàn TP Thanh Hoá đã bắt: 1519

vụ phạm tội ma tuý với 1963 đối tượng.

Bảng 1: Thống kê vi phạm về ma tuý từ năm 1998 đến 2004 ở TP

Thanh Hoá:

Năm



1998



1999



2000



2001



2002



2003



2004



Số vụ



35



82



128



242



271



324



357



Số đối tượng



71



159



211



353



322



354



392



Các điều kiện và tình hình nêu trên của TP Thanh Hoá có tác động

trực tiếp đến SV chuyên nghiệp của các trường đóng trên địa bàn TP Thanh

Hoá nói chung và SV trường ĐH Hồng Đức nói riêng. Với thực trạng trên

càng cần có những biện pháp hợp lý cho việc quản lý SV ngoại trú trên địa

bàn TP Thanh Hoá.

2.1.3. Đ ặc điểm các phường trường Đại học Hồng Đức cư trú

Trường ĐH Hồng Đức có 3 cơ sở chính đóng trên địa bàn 3 phường:

cơ sở 1 đóng trên địa bàn phường Đông Sơn. cơ sở II thuộc địa bàn phường

Trường Thi và cơ sở III cùng Trung tâm nghiên cứu, ứng dụng kỹ thuật 43



công nghệ thuộc địa bàn phường Đông Vệ. Mỗi phường trường đóng có

những đặc điểm và điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội khác nhau, ở cách xa

nhau 3 đến 5 km. Chính sự khác nhau đó chi phối mạnh mẽ đến công tác

quản lý SV ngoại trú. Tuy nhiên cả 3 phường trường đóng đều ở những khu

đông dân cư, gần chợ, gần các trục đường giao thông chính (quốc lộ, tỉnh

lộ...), gần các bến xe..., những nơi dễ xảy ra các vụ việc về an ninh, trật tự

& tệ nạn xã hội.

* Cơ sở 1 của trường ĐH Hồng Đức - cơ sở trung tâm hiện nay của

trường đóng trên địa bàn phường Đông Sơn: Phường Đông Sơn nằm ở phía

Đông TP Thanh Hoá, chạy dọc theo quốc lộ 47 (trục đường TP Thanh Hoá

đi thị xã Sầm Sơn), với chiều dài 1,8 km, điện tích gần 1 km2 (0,986 km2.

Phường có 15 khối phố với 2.307 hộ và 9548 khẩu (dân “gốc” chỉ chiếm

gần 40% tổng số dân). Phường có chợ Đông Thành gần trường ĐH Hồng

Đức, sát với quốc lộ 47, có bãi đỗ xe, chợ Lâm sản phía Đông Cầu Cốc, sát

quốc lộ 47.

Trên địa bàn phường Đông Sơn có 6 trường học (trong đó có 3

trường THPT: 1 trường bán công, 1 trường dân lập và trường THPT dân

tộc nội trú của tỉnh; 1 trường THCS; 1 trường Tiểu học và cơ sở I của

trường ĐH Hồng Đức). Riêng cán bộ, giáo viên, công nhân viên và SV học

tập, công tác tại cơ sở 1 của Trường ĐH Hồng Đức đã đông tương đương

với toàn bộ số dân của phường Đông Sơn.

Với đặc điểm và điều kiện của phường Đông Sơn như đã nêu trên,

nên trên địa bàn phường hình thành các tụ điểm đông người, phức tạp cạnh

các trường... đó chính là điều kiện thuận lợi để tội phạm hình sự hoạt động.

Các hoạt động dịch vụ những năm gân đây phát triển mạnh như: Dịch vụ

cho thuê lưu trú (hiện có 320 cơ sở), dịch vụ ăn uống, karaoke, cà phê, giải

khát, trò chơi điện tử, cho thuê, mượn xe, xe “ôm”... chủ yếu phục vụ cho

đối tượng SV. Chính các dịch vụ ấy đã tạo việc làm cho một bộ phận dân

cư, góp phần cải thiện đời sống cho họ. Mặt khác, chính ảnh hưởng từ các

44



nhà trường, từ các SV tạm trú trên địa bàn phường mà ý thức và kết quả

học tập của các con em nhân dân trong phường được nâng lên đáng kể

(riêng năm 2002 có 87 em đỗ ĐH, CĐ).

Đời sống nhân dân trong địa bàn phường Đông Sơn được cải thiện

tương đối nhanh, hơn 50% hộ đều là gia đình công chức, viên chức nhà

nước. Với 320 cơ sở cho thuê trọ trên địa bàn phường, nhiều thanh, thiếu

niên ngoài tỉnh, ngoài phường, nhiều nhân viên tiếp thị, nhà hàng... trà trộn,

thuê trọ cùng SV đã gây khá nhiều phiền toái cho chính quyền và Công an

phường trong việc quản lý thuê trọ và trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn

phường (phường Đông Sơn là phường có số SV thuê trọ đông nhất so với

tất cả các phường, xã trên toàn TP Thanh Hoá).

* Cơ sở II của trường ĐH Hồng Đức đóng trên địa bàn phường

Trường Thi:

Phường Trường Thi nằm ở gần trung tâm TP Thanh Hoá, với diện tích

gần 2km2, số hộ cư trú trên địa bàn phường là: 3037 hộ với 12.846 nhân khẩu

(số liệu tại thời điểm 30.5.2003). Phường Trường Thi giáp với 4 phường

Phường Trường Thi có 17 khối phố, địa hình tương đối phức tạp bởi

có nhiều khu vực chưa được sắp xếp theo quy hoạch mới, nhiều ngõ hẻm

qua lại rất chật chội và khó khăn, cư dân đã cư trú lâu đời và 80% dân số

sống bằng nghề buôn bán.

Tình hình an ninh trật tự của phường Trường Thi trong những năm

qua được giữ ổn định. Song đáng lưu ý là toàn phường còn có 62 con

nghiện ma tuý,



Hiện tượng người ngoài phường, ngoài thành phố, các



tiếp viên nhà hàng, gái hoạt động mại dâm ... trà trộn, thuê trọ lẫn lộn với

SV cũng diễn ra như ở địa bàn phường Đông Sơn.

* Cơ sở III và Trung tâm nghiên cứu ứng dụng khoa học - công nghệ

của trường ĐH Hồng Đức đóng trên địa bàn phường Đông Vệ:



45



Phường Đông Vệ nằm ở phía nam TP Thanh Hoá, có diện tích 4.88

km2 với 4163 hộ dân, 17874 nhân khẩu, đăng ký thường tú và tạm trú (số

liệu tại thời điểm 30.6.2003) ở 15 khối phố

Phường Đông Vệ nguyên là xã Đông Vệ trước đây, là phường mà số

dân làm nông nghiệp chiếm tương đối đông (gần 25% số hộ), sống xen lẫn

trong các hộ gia đình công chức. Gần 8% số hộ của phường thuộc diện hộ

dân nghèo thành thị. Tình hình kinh tế - văn hoá của phường tuy phát triển

nhưng với tốc độ chậm hơn so với các phường khác của TP Thanh Hoá.

Tình hình an ninh trật tự của phường Đông Vệ tuy vẫn được giữ ổn

định, song cũng có nhiều diễn biến khá phức tạp mà phức tạp nhất là tệ nạn

ma tuý, trộm cắp và cưỡng đoạt tài sản công dân, gây rối trật tự công cộng,

tai nạn giao thông ...

* Với tình hình như sơ lược nêu trên ở các phường mà trường ĐH

Hồng Đức có cơ sở đóng quân, quả tình nhà trường đã phải đối phó rất vất

vả để giữ vững an ninh trật tự, phòng chống tội phạm, phòng chống tệ nạn

xã hội, phòng chống AIDS.

2.1.4. Đặc điểm tình hình của trường Đại học Hồng Đức

+ Trường ĐH Hồng Đức được thành lập theo quyết định số 797/

TTg, ngày 24.9.1997 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở 3 trường: CĐ

Kinh tế - Kỹ thuật, CĐ Sư phạm, CĐ Y tế Thanh Hoá. Trường ĐH Hồng

Đức là mô hình mới trong hệ thống giáo dục đại học của cả nước: là trường

Đại học công lập, trực thuộc UBND tỉnh Thanh Hoá, chịu sự quản lý nhà

nước của Bộ GD&ĐT và các Bộ, ngành trung ương có liên quan; nhiệm vụ

của trường ĐH Hồng Đức gồm:

- Đào tạo cán bộ các ngành khoa học và công nghệ có trình độ đại

học và thấp hơn, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc

phòng của tỉnh Thanh Hoá.

- Đào tạo đa lĩnh vực, đa cấp.



46



- Nghiên cứu khoa học, ứng dụng khoa học và công nghệ phục vụ

các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

- Chuẩn bị các điều kiện để đào tạo cán bộ có trình độ sau đại học.

- Xây dựng nhà trường thành trung tâm văn hoá - khoa học - kỹ thuật

của tỉnh Thanh Hoá.

+ Hiện nay trường ĐH Hồng Đức có 24 đơn vị trực thuộc gồm: 10

khoa, 8 phòng, 1 ban, 2 trung tâm, 3 bộ môn trực thuộc với 747 cán bộ

(chưa kể cán bộ hợp đồng), trong đó có 252 cán bộ giảng dạy, 427 đảng

viên (25 chi bộ) 33,13% cán bộ có trình độ thạc sỹ trở lên.



47



Bảng 2: Quy mô đào tạo từ năm học 1997-1998 đến 2003-2004 của ĐH

Hồng Đức:

TT



Năm học



CQTT



Tại chức



Tổng



1.



1997-1998



6161



3714



9875



2.



1998-1999



4249



3885



8134



3.



1999-2000



5466



3977



9443



4.



2000-2001



4847



3968



8815



5.



2001-2002



4441



3991



8432



6.



2002-2003



4842



5185



10.027



7.



2003-2004



5324



6273



11.597



+ Kết quả phân loại SV trong các năm qua (tính trung bình): Loại

khá giỏi: 30%; loại trung bình và trung bình khá: 65%; loại yếu kém: 5%.

Từ khi thành lập trường đến nay đã có 85 SV được kết nạp vào Đảng cộng

sản Việt Nam.

+ Tuyển sinh hệ chính quy tập trung từ có nhiều SV là người dân tộc

thiểu số (Mường, Thái, Thổ, Dao, Mông… Do được mở rộng vùng tuyển nên

hiện nay có 652 SV thuộc 19 tỉnh, thành ngoài Thanh Hoá đang được đào tạo

tại trường. Đặc biệt, thực hiện chương trình hợp tác hữu nghị giữa Thanh Hoá

và Hủa Phăn (Lào) trường ĐH Hồng Đức đã đào tạo cho Hủa Phăn 17 giáo

viên Tiếng Anh (đã tốt nghịêp) và hiện nay có 14 SV Lào đang học các ngành:

Sư phạm, Công nghệ thông tin, Kinh tế tại ĐH Hồng Đức.

+ Từ tháng 4/2002, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt dự án tổng thể xây

dựng cơ bản nhà trường với tổng số vốn 419 tỷ đồng (tài khoán 2003-2010). Như

vậy, nhà trường vừa thực hiện nhiệm vụ đào tạo, vừa quy hoạch xây dựng cơ

bản, tổ chức hoạt động trên địa bàn rộng, nên có ảnh hưởng trực tiếp đến công

tác quản lý, đào tạo và an ninh trật tự, an toàn xã hội của nhà trường.

+ Điều rất đáng lưu tâm là đối tượng đào tạo của nhà trường hết sức

đa dạng, trình độ và nhận thức rất khác nhau, mặt khác các cơ sở của

48



trường lại đóng trên những địa bàn mà tình hình an ninh trật tự khá phức

tạp, SV lại là đối tượng rất dễ bị tác động, lôi kéo bởi những phần tử xấu

ngoài xã hội và của các tệ nạn xã hội. Chính đặc điểm và tình hình trên đã

đặt nhiệm vụ quản lý SV ngoại trú thành một trong những nhiệm vụ hàng

đầu trong quá trình đào tạo của nhà trường.

+ Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt và ban hành Điều lệ trường đại

học, Quy chế công tác HSSV ngoại trú mới được Bộ trưởng Bộ GD&ĐT

ban hành từ tháng 10/2002, đang trong giai đoạn triển khai mang tính “thử

nghiệm”, riêng đối với các trường chuyên nghiệp, UBND tỉnh Thanh Hoá

và UBND TP Thanh Hoá chưa có một văn bản riêng nào cho công tác quản

lý SV ngoại. Chính những điều bất cập ấy có tác động trực tiếp đến công

tác quản lý SV ngoại trú của trường ĐH Hồng Đức.

+ Sự lôi kéo của một vài tổ chức lợi dụng tôn giáo, sự tác động từ âm

mưu diễn biến hoà bình vào đối tượng SV của trường ĐH Hồng Đức đã bắt

đầu xuất hiện, trong khi diễn biến tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ

phận SV của trường, theo xu thế thời cuộc đang có những biểu hiện rất

đáng lo ngại. Đây cũng là một trong những vấn đề rất đáng quan tâm trong

công tác SV nói chung và việc quản lý SV ngoại trú nói riêng.

+ Công tác quản lý SV ngoại trú của trường cũng có thuận lợi là

được lãnh đạo nhà trường khá quan tâm, đa số SV có thành phần xuất thân

là con em nông dân, công nhân và những người lao động chân chính, thuần

khiết.

+ Một số đặc điểm, tình hình được coi như một khó khăn cho công

tác quản lý SV ngoại trú của trường ĐH Hồng Đức hiện nay là: Địa bàn mà

SV ngoại trú rất rộng, SV thay đổi nơi ngoại trú khá tuỳ tiện (vì cũng chẳng

ai ngăn cấm được họ), công tác quản lý SV ngoại trú chưa được sự quan

tâm đồng bộ, cơ chế quản lý chưa thực sự rõ ràng, Phòng Quản lý SV của

trường gần như được “giao khoán” đặc trách công tác này với một lực

lượng quá mỏng, trang thiết bị và kinh phí thiếu thốn, nghèo nàn. Với tình

49



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (114 trang)

×