1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

1 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội và giáo dục tỉnh Vĩnh Phúc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.61 MB, 121 trang )


Tiếp tục thực hiện nghị quyết 40/2000/QH10 của Quốc hội về đổi mới

giáo dục phổ thông, toàn ngành đã chủ động trong công tác bồi dưỡng giáo

viên dạy sách giáo khoa mới; tích cực và chủ động trang bị, tập huấn và khai

thác sử dụng thiết bị dạy học; tăng cường quản lý hoạt động chuyên môn theo

phương châm gắn đổi mới nội dung với đổi mới phương pháp dạy học.

Trong những năm qua, chất lượng giáo dục trong mỗi nhà trường được

nâng lên cả về đại trà và mũi nhọn. CSVC được tăng cường theo hướng đồng

bộ, cập chuẩn, trang thiết bị dạy học được quản lý, sử dụng vào nề nếp. Công

tác quản lý được đổi mới, chủ trọng tính kế hoạch, tự chủ, dân chủ trong các

đơn vị giáo dục. Đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên được tăng cường cả về

số lượng và chất lượng, giáo viên trẻ được tạo điều kiện để phấn đấu vươn lên

tự khẳng định mình, công tác đào tạo bồi dưỡng được quan tâm chú ý. Những

chỉ số phát triển giáo dục của Vĩnh Phúc, đặc biệt là chất lượng và hiệu quả

giáo dục, đào tạo đã đạt trình độ của các tỉnh, thành phố có nền giáo dục phát

triển trong cả nước.

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, Ngành giáo dục Vĩnh Phúc còn

bộc lộ nhiều thiếu sót, bất cập được đánh giá trong kết quả 10 năm thực hiện

Nghị quyết TW 2 khóa VIII về Giáo dục và Đào tạo ngày 20 tháng 07 năm

2008 của Sở Giáo dục và Đào tạo Vĩnh Phúc, đó là:

- Hoạt động quản lý chỉ đạo giáo dục ở một số đơn vị còn nặng tính

hình thức, chưa thực sự sâu sát thiết thực, chưa thể hiện chức năng quản lý

nhà nước về giáo dục. Một số cán bộ tỏ ra thiếu hụt về tri thức quản lý, yếu về

tổ chức điều hành, chưa thực hiện phát huy dân chủ trong quản lý nhà trường.

- Một số bộ phận giáo viên thiếu ý chí vươn lên, chuyên môn còn yếu,

phương pháp dạy học lạc hậu, trình độ ngoại ngữ, tin học, của một số giáo

viên còn hạn chế.

- Chất lượng tu dưỡng, học tập của không ít học sinh còn thấp so với

yêu cầu, đánh giá chưa sát với chất lượng thực… Còn không ít học sinh phổ



41



thông thiếu hụt những tri thức chung cần thiết; lúng túng, hạn chế khi tham

gia các hoạt động tập thể và hoạt động xã hội.

- Cơ sở vật chất, trang thiết bị còn trong tình trạng lạc hậu, thiếu đồng

bộ, chưa thực sự góp phần nâng cao chất lượng giáo dục…[22].

Thực tế trên đặt ra những yêu cầu hết sức cấp bách đối với công tác quản

lý giáo dục, quản lý nhà trường cho ngành Giáo dục và Đào tạo Vĩnh Phúc nói

chung và đội ngũ cán bộ quản lý các trường Trung học phổ thông trên địa bàn

tỉnh nói riêng. Cần tác động mạnh mẽ đến nhận thức, tư tưởng của đội ngũ cán

bộ quản lý các trường Trung học phổ thông về tầm quan trọng của việc đổi mới

giáo dục, từ đó có những biện pháp hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả quản lý,

nâng cao chất lượng dạy học, chất lượng giáo dục trong nhà trường.

2.2.Thực trạng hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy học ở trƣờng

Trung học phổ thông Nguyễn Viết Xuân

2.2.1. Thực trạng hoạt động dạy học của nhà trường

2.2.1.1. Đặc điểm tình hình nhà trường

Trường Trung học phổ thông Nguyễn Viết Xuân, huyện Vĩnh Tường,

tỉnh Vĩnh Phúc được thành lập ngày trên cơ sở tách ra từ trường phổ thông cấp

3 Vĩnh Tường theo quyết định 707/TCCB ngày 28/8/1972 do Sở giáo dục và

Đào tạo Vĩnh Phú ký. Gần 40 năm nhà trường đã không ngừng phấn đấu vươn

lên đạt nhiều thành tích, đóng góp xứng đáng cho sự nghiệp xây dựng và bảo

vệ tổ quốc. Nhà trường đã vinh dự nhần được nhiều danh hiệu cao quý.

+ Huân chương Độc lập hạng Ba năm 2007 và nhiều cờ thi đua xuất

sắc, bằng khen, giấy khen của các cấp, các ngành từ Trung ương tới địa

phương.

+ Tháng 9 năm 2010 nhà trường được Bộ Giáo dục và Đào toạ cấp

bằng công nhận trường Trung học phổ thông đạt chuẩn Quốc gia giai đoạn 1.

+ Học sinh của trường được tuyển từ 18 xã trong, ngoài huyện và các

vùng lân cận



42



+ Với vị trí là trường ở gần trung tâm thành phố, học sinh của nhà

strường chủ yếu là con em nhân dân lao động do đó các em rất chăm ngoan

học tập.

2.2.1.2. Thực trạng hoạt động dạy học của trường Trung học phổ thông

Nguyễn Viết Xuân.

* Về đội ngũ cán bộ quản lý

Bảng 2.1: Thống kê đội ngũ cán bộ quản lý trường THPT Nguyễn Viết Xuân

Năm

học

20082009

20092010

20102011



BGH Nữ Đảng CSTĐ

Trình độ CM Trình độ lý luận

Tuổi đời

viên

Cấp Cơ ĐH Trên Sơ Trung Cao Dƣới Trên

Tỉnh sở

ĐH cấp

cấp

cấp

40

40

3



1



4



2



1



2



1



3



3



4



2



4



3



1



2



2



3



2



2



4



2



4



3



1



2



2



3



3



1



(Nguồn: Báo cáo thống kê năm học 2008-2009,2009-2010,2010-2011)

Đội ngũ cán bộ quản lý trường THPT Nguyễn Viết Xuân hầu hết là những

thầy, cô giáo có kinh nghiệm trong giảng dạy, tận tuỵ với học sinh, tâm huyết với

nghề nghiệp, Ban giám hiệu gồm các đồng chí trưởng thành từ giáo viên giỏi cấp

tỉnh, cấp cơ sở, có tinh thần trách nhiệm cao trong công tác và có sự phối hợp,

cộng tác tốt nên có đủ khả năng dẫn dắt tập thể sư phạm phát triển đi lên.

* Về tổ trưởng chuyên môn

Tổ trưởng chuyên môn là giáo viên giảng dạy, có kinh nghiệp, được

các thành viên tổ tín nhiệm, là giáo viên có phẩm chất tốt, nhiệt tình và có

trách nhiệm trong công tác.

Tổ trưởng chuyên môn là nòng cốt, đầu đàn trong mọi hoạt động của

nhà trường.

Nguyên nhân của các hạn chế trên là:

- Một số CBQL, lãnh đạo tổ chuyên môn còn ngại học tập để nâng cao

trình độ, chưa mạnh dạn trong việc tiếp thu và vận dụng những vấn đề mới

vào công tác quản lý của mình.



43



- Phần lớn cán bộ quản lý, tổ trưởng chuyên môn chưa qua các lớp đào

tạo về quản lý, việc quản lý, chỉ đạo chủ yếu dựa trên cơ sở kinh nghiệm, nên

đôi khi chưa phát huy hết sức mạnh, tiềm năng của đội ngũ giáo viên.

- Số ít còn thiếu kinh nghiệm nên không kiểm soát được hết tình hình

hoạt động trong nhà trường.

- Hầu hết cán bộ quản lý, lãnh đạo tổ chuyên môn là nữ, điều này cũng có

những khó khăn nhất định do đôi lúc chưa quyết đoán trong việc giải quyết công

việc và phân công công tác nên ảnh hưởng một phần đến hiệu quả quản lý.

* Về đội ngũ giáo viên

+ Số lượng đội ngũ

Hoạt động dạy học ở trường THPT Nguyễn Viết Xuân những năm qua

đã có nhiều chuyển biến và đạt được kết quả cao về mọi mặt. Trong đó, đội

ngũ giáo viên là nhân tố cơ bản quyết định chất lượng giáo dục nói chung và

chất lượng dạy học nói riêng. Để đáp ứng nhu cầu phát triển giáo dục và đào

tạo trong giai đoạn hiện nay đòi hỏi đội ngũ giáo viên phải cố gắng rất nhiều

trong việc trau dồi tri thức, nâng cao trình độ, nghiệp vụ, đổi mới phương

pháp dạy học.

Bảng 2.2. Thống kê đội ngũ giáo viên ở trường THPT Nguyễn Viết Xuân

Năm

học

20082009

20092010

2010–

2011



Trình độ chuyên môn

Trên ĐH ĐH





Độ tuổi

36-45 >45



Tổng

số



Nữ



Đảng

viên



BQ/Lớp



78



50



30



2.2



8



70



66



8



4



82



55



35



2.2



9



73



71



8



3



78



52



40



2.2



10



68



68



8



2



<35



(Nguồn: Báo cáo thống kê năm học 2008-2009, 2009- 2010, 2010–2011)

Đội ngũ giáo viên phần lớn tuổi đời còn trẻ, năng động nhiệt tình, dễ

nắm vững những vấn đề mới, hiện đại, luôn say sưa, yêu nghề, ham học hỏi,

có ý thức phấn đấu vươn lên trong công tác giảng dạy cũng như các công tác

khác. Nhiều giáo viên có kiến thức vững chắc, phương pháp giảng dạy tốt,



44



luôn tích cực học tập, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp

vụ, tích cực đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động

của học sinh.

Tuy nhiên, vẫn còn một số giáo viên có trình độ Tin học và Ngoại ngữ

chưa cao, nhất là những giáo viên có tuổi, do đó việc sử dụng các thiết bị hiện

đại còn hạn chế, nhiều giáo viên chưa tích cực, chủ động tham gia đổi mới

phương pháp. Một số giáo viên trẻ mới ra trường được đào tạo cơ bản, nhiệt

tình nhưng kinh nghiệm giảng dạy, quản lý học sinh còn thiếu nên phần nào

có ảnh hưởng đến chất lượng chung.

+ Chất lượng đội ngũ

Bảng 2.3. Kết quả thanh tra chuyên môn của trường THPT Nguyễn Viết Xuân

Xếp loại Giỏi



Xếp loại Khá



Xếp loại TB



Số GV đƣợc



Tổng số



TTCM



tiết TTCM



SL



%



SL



%



SL



%



2008-2009



16



32



15



46,8



8



25



9



28,2



2009-2010



16



32



14



43,7



9



28,1



9



28,2



2010-2011



16



32



16



50



10



31,2



6



18,8



Năm học



(Nguồn: Phòng Thanh tra Sở Giáo dục & Đào tạo Vĩnh Phúc)

Thực trạng hoạt động dạy học của giáo viên được đánh giá thông qua

nhiều hình thức như kiểm tra định kỳ, kiểm tra đột xuất, dự giờ, thao giảng,

qua các cuộc thi giáo viên giỏi các cấp, qua những đợt thanh tra toàn diện của

Sở GD&ĐT…Phần lớn giáo viên có kiến thức chưa vững vàng, phương pháp

giảng dạy phù hợp với đối tượng, phù hợp đặc thù bộ môn. Song, việc đổi

mới phương pháp áp dụng chưa hiệu quả.

Qua kết quả thanh tra định kỳ cũng như thanh tra toàn diện của Sở Giáo

dục và Đào tạo cho thấy số tiết được đánh giá giỏi tăng dần hằng năm, số tiết

trung bình giảm dần. Nhìn chung, đội ngũ giáo viên đã đảm bảo yêu cầu vè

trình độ, có đủ khả năng đảm nhiệm công tác giảng dạy, tuy nhiên số giáo

viên giỏi trong từng tổ chưa đồng đều, đội ngũ mũi nhọn tạo sức bật cho việc



45



nâng cao chất lượng dạy học một số môn còn ít, vẫn còn GV giảng dạy chỉ

đạt yêu cầu, việc đổi mới PPDH theo hướng tích cực, lấy học sinh làm trung

tâm còn lúng túng. Do đó, việc nâng cao chất lượng dạy học là một vấn đề

khó khăn, cấp bách đòi hỏi người CBQL phải tìm ra những biện pháp mới,

khả thi, những biện pháp đã lỗi thời trong việc quản lý hoạt động dạy học của

giáo viên.

Bảng 2.4. Thống kê tập thể, cá nhân đạt danh hiệu thi đua các cấp

Chiến sĩ thi đua

Năm học



GV Giỏi



Bằng khen



Cấp tỉnh



Cấp cơ sở



Cấp tỉnh



Cấp cơ sở



2008-2009



1



2



3



1



2



2



2



2



4



Chính phủ



GD-ĐT



14



2010-2011



Bộ



15



2009-2010



Thủ tƣớng



14



1

1



(Nguồn: Báo cáo thống kê năm học 2008-2009, 2009-2010, 2010-2011)

* Về chất lượng học sinh

Những năm qua, chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường được

nâng lên rõ rệt, hầu hết học sinh đều ngoan, có nề nếp nên chất lượng đạo đức

tương đối ổn định, số học sinh đạt hạnh kiểm khá, tốt chiếm tỉ lệ khá cao, số

học sinh xếp loại đạo đức yếu vẫn còn nhưng tỉ lệ thấp.

Bảng 2.5. Kết quả xếp loại hạnh kểm và học lực của học sinh

Năm

học



Số

lớp



Số

HS



2008-



33



Hạnh kiểm

S.lƣợngTỉ lệ



Học lực



Tốt



Khá TB Yếu Giỏi Khá



TB



Yếu Kém



1466



1187



205



53



21



51



816



578



20



1



35



1532



1203



225



86



18



79



948



478



25



2



33



1465



1189



201



50



25



55



810



570



27



3



2009

20092010

20102011



(Nguồn: Báo cáo thống kê năm học 2008-2009, 2009-2010, 2010-2011)



46



Với vị trí của nhà trường là giáp danh với thành phố, chủ yếu là con em

lao động do vậy việc đầu tư cho việc học tập của các em còn nhiều hạn chế,

ngoài ra những học sinh xuất sắc lại đi các trường khác, nên nhà trường phải

khắc phục khó khăn tìm kiếm nhân tài. Đặc biệt môn Vật lý là môn học rất

khó có thể thu hút được học sinh tham gia học tập và thi học sinh giỏi. Đồng

thời luôn quan tâm, trân trọng những kết quả đạt được của thầy và trò, coi đó

không chỉ là danh dự của nhà trường mà còn là trách nhiệm và vinh dự của

mỗi giáo viên trong đó có giáo viên Vật lý nói riêng.

Bảng 2.6: Kết quả thi học sinh giỏi cấp tỉnh của trường THPT Nguyễn Viết Xuân

Giải

Môn

Toán



Hóa

Sinh

Tin

Văn

Sử

Địa

T.Anh

Tổng



Năm học 2008 - 2009

Nhất

0

0

0

0

0

0

0

0

0

0



Nhì

1

0

1

1

0

1

1

1

2

8



Ba

2

2

2

1

0

3

2

2

2

16



KK

5

2

3

4

0

4

2

3

3

26



Năm học 2009 - 2010

Nhất

0

1

0

0

0

0

0

0

0

1



Nhì

1

2

1

1

0

1

1

1

2

10



Ba

2

2

2

1

0

3

2

2

2

16



KK

5

2

3

4

0

4

2

3

3

26



Năm học 2010 – 2011

Nhất

2

0

1

1

0

0

0

0

0

4



Nhì

1

0

1

1

0

1

1

1

2

8



Ba

2

2

2

1

0

3

2

2

2

16



KK

5

2

3

4

0

4

2

3

3

26



(Nguồn: Báo cáo thống kê năm học 2008-2009, 2009-2010, 2010-2011)

Tuy nhiên, qua thống kê đã bộc lộ một số vấn đề còn tồn tại, đó là chất lượng

mũi nhọn chưa thật vững chắc và đồng đều. Một số môn đạt giải còn ít, chất

lượng giải còn thấp, vẫn có những giáo viên chưa thật sự đầu tư nghiên cứu

chuyên sâu bồi dưỡng đội tuyển.

Qua đó đặt ra cho nhà trường cần có kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ giáo

viên cốt cán từng môn học, tạo điều kiện về cơ sở vật chất và thời gian cho

giáo viên bồi dưỡng đội tuyển. Đồng thời giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ

môn, đội ngũ giáo viên được phân công bồi dưỡng đội tuyển cần quan tâm

động viên khuyến khích học sinh tham gia đội tuyển, lập cho các em có

phương pháp học tập, tổ chức việc tự học trên lớp và ở nhà.



47



Những năm qua, do làm tốt công tác quản lý các lớp học chuyên đề,

hướng dẫn học sinh ôn thi đại học nên những năm gần đây, tỉ lệ học sinh trúng

tuyển vào các trường ĐH, CĐ ngày một tăng. Tuy nhiên, việc trau dồi kiến

thức sâu, rộng và giúp học sinh linh hoạt, nhạy bén hơn trọng việc giải quyết

những bài tập khó, những yêu cầu nâng cao để các em đạt điểm tối đa các môn

thi Đại học vẫn đang còn là mục tiêu phấn đấu của nhà trường, đòi hỏi không

chỉ CBQL mà đội ngũ giáo viên cũng cần hết sức quan tâm giải quyết.

Bảng 2.7. Kết quả học sinh trường THPT Nguyễn Viết Xuân trúng tuyển ĐH, CĐ

Năm học



Đại học



Cao đẳng



Đại học-Cao đẳng



Tổng số



Tỉ lệ (%)



Tổng số



Tỉ lệ (%)



Tổng số



Tỉ lệ (%)



2008-2009



178



42



85



20



363



62



2009-2010



225



50



99



22



324



72



2010-2011



230



51



95



21



325



72



(Nguồn: Thống kê của Phòng Giáo dục Trung học Sở GD&ĐT Vĩnh Phúc)

2.2.2. Đặc điểm học sinh

Đối tượng giáo dục và đào tạo của nhà trường đều là HS đã tốt nghiệp

ở các trường THCS trong Huyện . Môi trường xã hội nông thôn tương đối

thuần nhất, nhịp sống khẩn trương, náo nhiệt của nền kinh tế thị trường chưa

thâm nhập sâu và tác động đến nhà trường. Đa số các em đều ngoan, chăm

học, động cơ học tập nghiêm túc. Cùng với đặc điểm tâm lý của lứa tuổi từ 15

đến 18 nên các em rất ham học hỏi cái mới, nhiệt tình học tập. Điều này rất

thuận lợi cho việc học tập các môn nói chung cũng như môn .

Tuy nhiên cũng phải kể đến một số khó khăn khi giáo dục học sinh. Số

HS tham gia học tập tại trường phân bố rộng khắp nhiều xã, thị trấn trong

toàn huyện. theo thống kê có năm lên tới 14 xã, thị trấn trong đó có cả những

xã cách trường hơn 15 Km đời sống kinh tế khó khăn. Các em thậm chí còn

chưa được học đủ chương trình . Điều này gây khó khăn cho việc học tập vì

sách giáo khoa môn Vật lý được liên thông từ lớp 6 đến lớp 12. Hàng năm tỉ



48



lệ bỏ học vẫn còn ở mức cao so với toàn tỉnh một phần cũng là do Huyện

đang chuyển đổi từ sản xuất nông nghiệp sang các thành phần kinh tế đặc thù

là các khu công nghiệp thu hút nhiều lao động phổ thông , không cần tốt

nghiệp THPT. Mặt khác môi trường văn hóa gia đình, xã hội chưa cho các em

thấy được tầm quan trọng của học tập. Việc huy động cộng đồng tham gia vào

công tác giáo dục còn nhiều hạn chế. Một bộ phận cha mẹ HS còn ỷ lại,

khoán trắng cho nhà trường, chưa thực sự quan tâm đến việc học tập của con

em. Nhận thức của một bộ phận cán bộ và nhân dân còn bất cập so với yêu

cầu cấp thiết của sự nghiệp giáo dục và đào tạo.

* Về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy học

Trong xu thế đỏi mới giáo dục hiện nay, phương tiện dạy học đóng vai

trò rất quan trọng nhằm tạo sự đổi mới mạnh mẽ về PPDH, đặc biệt là ứng

dụng CNTT hiện đại. Người quản lý cần nhận thức rõ vai trò hỗ trợ quan

trọng của cơ sở vật chất – kỹ thuật trong dạy học và nâng cao chất lượng hoạt

động dạy học. Đặc biệt là dạy học Vật lý

Cùng với các trường trong tỉnh, trường THPT Nguyễn Viết Xuân được

chú trọng đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác dạy và học.

Nhà trường đã đề ra những biện pháp quản lý chặt chẽ nhằm nâng cao hiệu

quả sử dụng cơ sở vật chất hỗ trợ cho hoạt động dạy học. Xây dựng nội qui,

qui trình sử dụng một cách hợp lý, có kế hoạch đề nghị bổ sung, trang bị các

phương tiện kỹ thuật phục vụ việc dạy và học của nhà trường.

Bảng 2.8. Thống kê cơ sở vật chất, thiết bị dạy học (Năm học 2010 - 2011)

Phòng học bộ môn



Phòng chức

năng



Thiết bị dạy

học



1



Vật



02



Hóa

học

01



Sinh

học

01



Tin

học

02



01



Máy

chiếu

02



Máy

tính

01



5



1



02



01



01



02



01



02



01



5



1



02



01



01



02



01



02



01



Phòng

kiên

cố



Phòng

cấp 4



2008-2009



30



5



2009-2010



30



2010-2011



30



Năm học



Thƣ

viện



Lab



(Nguồn: Báo cáo thống kê năm học 2008-2009, 2009-2010, 2010-2011)



49



Qua bảng 2.8 cho thấy, số phòng học kiên cố, phòng chức năng, phòng

học bộ môn, trang thiết bị đã đảm bảo được yêu cầu cơ bản cho việc dạy và học.

Tuy nhiên, việc khai thác chưa thật hiệu quả do một số giáo viên nhận

thức chưa đúng về tầm quan trọng của thiết bị dạy học hỗ trợ trong giảng dạy,

chưa đầu tư nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin vào đổi mới phương pháp

dạy học đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp phát triển giáo dục.

2.3.Thực trạng về hoạt động dạy học môn Vật lý ở trƣờng THPT Nguyễn

Viết Xuân- tỉnh Vĩnh Phúc

2.3.1.Thực trạng hoạt động giảng dạy môn Vật lý của giáo viên

2.3.1.1. Đội ngũ GV Vật lý:

Bộ môn Vật lý của nhà trường hiện nay gồm có 8GV, trong đó có 4 GV

là nam. Số GV trong độ tuổi 25- 30 là 5 người, độ tuổi 30- 40 là 03 người, 1

GV có trình độ thạc sỹ.

Qua các số liệu đã điều tra ở trên và trao đổi với lãnh đạo nhà trường,

tôi nhận thấy đội ngũ giáo viên môn Vật lý của nhà trường đều là những giáo

viên còn trẻ, nhiệt tình, có trách nhiệm, yêu nghề, ham học hỏi và thích tìm tòi

những kiến thức và phương pháp giảng dạy mới; gắn bó với nhà trường mong

muốn nhà trường phát triển; chất lượng chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm đa

số đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục.

2.3.1.2. Hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm của giáo viên

Một đội ngũ GV giảng dạy tốt không chỉ có đủ bằng cấp mà phải là

những người giảng dạy có hiệu quả. việc sử dụng công nghệ tin học trong quá

trình giảng dạy môn Vật Lý theo PPDH tích cực là rất cần thiết. Đa số các GV

Vật Lý đều nhận thức rõ vấn đề này nhưng không phải ai cũng có khả năng sử

dụng tin học vào giảng dạy. Có thể nói hiện nay vẫn còn một số GV Vật lý

chưa nắm vững kỹ năng chuẩn bị bài, kỹ năng đứng lớp, kỹ năng thiết kế các

hoạt động giảng dạy... số GV trẻ kinh nghiệm giảng dạy chưa nhiều vì thế

nghiệp vụ sư phạm của họ chưa dành được sự đánh giá cao từ phía HS cũng



50



như từ phía các GV. Phương pháp chủ đạo vẫn là lấy người dạy làm trung

tâm, Một số giáo viên còn ngại sử dụng TBDH, đạt tỷ lệ rất thấp so với yêu

cầu. Như vậy trang thiết bị vừa thiếu chưa được sử dụng có hiệu quả, phương

pháp bộ môn chưa được giáo viên quan tâm hợp lý. Thậm chí phòng thí

nghiệm có những thiết bị thí nghiệm biểu diễn nhưng không được giáo viên

sử dụng, chỉ với lý do đơn thuần là mất thời gian, dẫn đến không khai thác

triệt để số thiết bị được giao

Để khảo sát hiện trạng các hoạt động giảng dạy của giáo viên tác giả đã

tiến hành xin ý kiến của 300 HS trường THPT Nguyễn Viết Xuân. Kết quả

thể hiện ở bảng 2.9 sau đây.

Bảng 2.9: Kết quả khảo sát thực trạng các hoạt động giảng dạy của GV

Đánh giá mức độ thực hiện (%)



TT

Nội dung hoạt động



1

2

3

4

5

6

7

8



9



10



Thƣờng

xuyên



Đôi khi



Không bao

giờ



Chuẩn bị bài soạn kỹ trước lên lớp

Cập nhật mở rộng bài giảng với

nhưng kiến thức mới

Sử dụng phương tiện dạy học tích

cực

Thay đổi phương pháp giảng dạy

khi HS không hứng thú học tập

Trao đổi với HS về phương pháp

học tập

Yêu cầu và hướng dẫn HS chuẩn

bị bài ở nhà

Kiểm tra việc tự học của HS

Lấy ý kiến phản hồi của HS sau

khi kết thúc môn học, rút kinh

nghiệm để điều chỉnh phương

pháp dạy học

Chú ý tìm hiểu những khó khăn

HS gặp phải trong quá trình học

tập

Thực hiên kiểm tra, thi nghiêm

túc, đánh giá đúng kết quả học tập

của HS



80



18



2



55



36



9



23



50



27



18



60



22



5



50



45



70



20



10



62



24



14



3



20



77



8



13



79



88



12



0



51



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (121 trang)

×