1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.7 MB, 128 trang )


Trong thời gian qua, nhiều nhà khoa học đã đầu tư công sức, trí tuệ và

tiền của vào công việc nghiên cứu HĐDH và biện pháp QL HĐDH. Các đề tài

nghiên cứu cũng hết sức đa dạng, chủ yếu các tác giả tập trung nghiên cứu về

mặt lý luận như: các chức năng của QLGD; chức năng, phẩm chất, tiêu chuẩn

của người QLGD; vai trò, công việc cuả người hiệu trưởng và đội ngũ cán bộ

QLGD trong nhà trường ... Có thể kể tên một số tác giả tiêu biểu như: Nguyễn

Văn Lê, Hồ Sĩ Thế, Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Thị Mỹ

Lộc, Đặng Bá Lãm, ….

Quản lý giáo dục và nâng cao chất lượng dạy học trong các trường học

là một vấn đề rất cần thiết và được nhiều người quan tâm. Trong quá trình

nghiên cứu đề tài, các nhà nghiên cứu đứng trên các góc độ nghiên cứu khác

nhau và bình diện khác nhau để tìm ra các biện pháp quản lý hoạt động dạy

học nhưng đều mục đích chung là nâng cao chất lượng dạy và học trong các

nhà trường. Đến nay đã có nhiều công trình, đề tài nghiên cứu khoa học, luận

án, luận văn nghiên cứu về đề tài “nâng cao chất lượng dạy học”, trong có có

các đề tài nghiên cứu về “nâng cao chất lượng dạy học” các môn học ở giáo

dục THPT. Một số luận văn về “nâng cao chất lượng dạy học” ở THPT như:

Biện pháp quản lý hoạt động dạy học của hiệu trưởng các trường THPT

huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang của Đỗ Thị Kim Thoa, 2006; Những biện

pháp quản lý dạy học môn Vật lí của Hiệu trưởng Trường THPT tỉnh Long

An theo yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông của Nguyễn Thị Ngọc Điệp,

2007; Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động dạy học môn

Toán THPT phân ban của Nguyễn Văn Nguyên, 2007; Một số giải pháp quản

lý hoạt động dạy học môn Vật lý ở trường THPT huyện Triệu Sơn, tỉnh

Thanh Hóa của Nguyễn Đình Điền, 2008; Một số giải pháp quản lý nâng cao

chất lượng dạy học môn Thể dục ở trường THCS thành phố Tam Kì, tỉnh

Quảng Nam của Nguyễn Thị Thuận, 2010; Giải pháp quản lý nâng cao chất

lượng dạy học ở các trường THPT huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa của Đặng



6



Quang Thanh, 2010; v.v… Song đối với môn Tiếng Anh ở các trường THPT

huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn thì chưa có đề tài nào được nghiên cứu.

1.2. Một số khái niệm cơ bản:

1.2.1. Quản lý, chức năng quản lý

1.2.1.1. Khái niệm Quản lý

QL xuất hiện, phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người.

Đây là một trong những loại hình lao động lâu đời và quan trọng nhất của con

người, là công vệc cần thiết trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội, có

tính chất quyết định đến sự phát triển của toàn xã hội. Song chỉ những năm

gần đây người ta mới thừa nhận tính chất khoa học của nó và QL mới được

coi là một ngành khoa học theo đúng nghĩa. Bất kì một tổ chức, một tập thể

nào cũng đều có yếu tố QL trong đó và điều đó quyết định tới hiệu qủa hoạt

động của tổ chức theo mục tiêu đề ra.

Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về QL tùy theo quan điểm và

cách tiếp cận. Có người cho rằng QL là sự chỉ huy, lãnh đạo, sự cai quản, sự

điều khiển, điều chỉnh… Tuy nhiên có thể nêu lên một số quan điểm có tính

chất cốt lõi của một số tác giả như sau:

K.Marx cho rằng: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động

chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một

sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức

năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự

vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự

điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng” [25].

Như vậy bản chất của QL là một hoạt động lao động có tính tất yếu, vô

cùng quan trọng trong quá trình lao động, phát triển của loài người.

Henry Fayol (1841 – 1925) nhấn mạnh: QL là một hệ thống phát huy

tác dụng có tính chất độc lập không thể thay thế. Theo ông: “quản lý là lập kế

hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra” [24, tr.17]



7



Mary ParKer Follett (1868 - 1933) nổi tiếng với thuyết hành vi trong

quản lý cho rằng: “Quản lý là một quá trình lao động, liên tục, kế tiếp nhau

chứ không tĩnh tại” [24, tr.24].

Tác giả H. Koontz cũng nhấn mạnh: “Quản lý là một hoạt động thiết

yếu, nó đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân nhằm đạt được mục

đích của nhóm (tổ chức). Mục đích của mọi nhà quản lý là hình thành môi

trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của mình với

thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [22, tr.33].

Các tác giả Việt Nam cũng có nhiều công trình nghiên cứu về khoa học

QL và thể hiện nhiều quan điểm về vấn đề này như sau:

Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng “Quản lý là sự tác động có mục

đích tới tập thể những người lao động nhằm đạt được những kết quả nhất

định và mục đích đã định trước” [27, tr.33].

Theo tác giả Nguyễn Văn Lê: “Quản lý với tư cách là một hệ thống xã

hội, là khoa học và nghệ thuật tác động vào từng thành tố của hệ bằng các

phương pháp thích hợp, nhằm đạt các mục tiêu đề ra cho hệ và cho từng

thành tố của hệ” [23, tr.28].

Tác giả Phạm Văn Kha khẳng định: “Quản lý là quá trình lập kế

hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên thuộc một

hệ thống đơn vị và việc sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt được các mục

đích đã định” [20, tr.6].

Theo các tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ thì: “Quản lý là một

quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý có hệ thống là quá trình

tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Những mục

tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong

muốn” [19, tr.17].

Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì hoạt

động quản lý là: “tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý



8



(người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) – trong một tổ chức –

nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [10, tr.1].

Còn tác giả Đặng Quốc Bảo thì khẳng định : Bản chất của hoạt động

QL nhằm làm cho hệ thống vận hành theo mục tiêu đặt ra và tiến đến các

trạng thái có tính chất lượng mới”.[6]

Quản lý = Quản + Lý

Trong đó : - Quản là chăm sóc, giữ gìn sự ổn định .

- Lý là sửa sang, sắp xếp, đổi mới phát triển.

Hệ ổn định mà không phát triển thì tất yếu dẫn đến suy thoái. Hệ phát

triển mà không ổn định tất yếu dẫn đến rối ren.

Vậy: Quản lý = ổn định + phát triển

Theo từ điển tiếng việt thì QL là hoạt động của con người tác động

vào tập thể người khác để phối hợp, điều chỉnh, phân công thực hiện mục tiêu

chung.

Từ rất nhiều quan điểm khác nhau nêu trên, chúng ta có thể hiểu khái

quát về QL như sau: QL là sự tác động, chỉ huy điều khiển hướng dẫn các quá

trình xã hội và hành vi hoạt động của con người, nhằm đạt được mục đích đề

ra. Sự tác động của QL bằng cách nào đó để người bị QL luôn tự giác, phấn

khởi đem hết năng lực, trí tuệ của mình tạo nên lợi ích cho bản thân, cho tổ

chức và cả xã hội. Khái niệm QL bao hàm những khía cạnh sau:

Đối tượng tác động của QL là một hệ thống xã hội hoàn chỉnh như một

cơ thể sống gồm nhiều yếu tố liên kết hữu cơ theo một quy luật nhất định, tồn

tại trong không gian, thời gian cụ thể.

Hệ thống QL gồm hai phân hệ: Chủ thể QL và khách thể QL, giữa

chúng có sự tác động tương hỗ, biện chứng với nhau.

QL bao giờ cũng là một tác động hướng đích, có mục tiêu xác định.

Tác động quản lí thường mang tính tổng hợp, bao gồm nhiều phương pháp

khác nhau.



9



QL là sự tác động mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp quy luật

khách quan. Đó là các hoạt động trí tuệ mang tính sáng tạo bằng những quyết

định đúng quy luật và có hiệu quả, nhưng cũng phải tuân theo những nguyên

tắc nhất định, hướng đến mục tiêu.

QL xét đến cùng, bao giờ cũng là QL con người. Mục tiêu cuối cùng

của QL là chất lượng, sản phẩm vì lợi ích phục vụ con người. Người QL tựu

chung lại là nghiên cứu khoa học, nghệ thuật giải quyết các mối quan hệ giữa

con người với nhau vô cùng phức tạp, không chỉ giữa chủ thể và khách thể

trong hệ thống mà còn là mối quan hệ tương tác với các hệ thống khác.

Như vậy QL thể hiện rõ bản chất khoa học ở chỗ: hoạt động này luôn

có tính tổ chức, dựa trên những quy luật, nguyên tắc và phương pháp hoạt

động nhất định. Đồng thời hoạt động QL cũng chứa đựng sự sáng tạo, mềm

dẻo, linh hoạt trong việc xử lí tình huống với các điều kiện, hoàn cảnh cụ thể,

để đạt được mục tiêu đề ra. Điều này cho thấy QL cũng có tính nghệ thuật,

đòi hỏi người QL phải không ngừng học tập, trau dồi, tích lũy kinh nghiệm,

rèn luyện các kĩ năng cần thiết.

Nếu mổ xẻ khái niệm QL ta cần phải thấy được đầy đủ các thành tố sau

đây:

Chủ thể quản lý: là một cá nhân, một nhóm người hay tổ chức tạo ra

những tác động quản lý. Nó trả lời câu hỏi: ai quản lý ?

Khách thể quản lý: là đối tượng tiếp nhận các tác động quản lý.

Khách thể quản lý có thể là người (trả lời câu hỏi: quản lý ai?), là vật (trả lời

câu hỏi: quản lý cái gì?) hoặc sự việc (trả lời câu hỏi: quản lý việc gì?)

Mục tiêu quản lý là quỹ đạo đặt ra cho các đối tượng và chủ thể, chính

mục tiêu là căn cứ cho chủ thể tạo ra các tác động quản lý.

Nói một cách tổng quát QL là một quá trình tác động gây ảnh hưởng

của chủ thể QL đến khách thể QL nhằm đạt được mục tiêu chung.



10



Các yếu tố trên có quan hệ tác động qua lại với nhau, ràng buộc chặt

chẽ với nhau thành một chỉnh thể toàn vẹn. Mỗi yếu tố đều giữ một vai trò

quan trọng tham gia quyết định đến hiệu quả và chất lượng của cả quá trình.

Mối quan hệ này có thể được sơ đồ hóa như sau:



CÔNG CỤ



KHÁCH THỂ

QUẢN LÝ



CHỦ THỂ

QUẢN LÝ



MỤC TIÊU



PHƢƠNG PHÁP



Hình 1.1: Quan hệ chủ thể QL, khách thể QL và mục tiêu QL

1.2.1.2. Chức năng quản lý

Chức năng của quản lí là hình thức biểu hiện sự tác động có chủ định

của chủ thể QL lên đối tượng QL. Đó là tập hợp những nhiệm vụ khác nhau

mà chủ thể QL phải tiến hành trong quá trình QL. Có thể hiểu chức năng QL

là một nội dung cơ bản trong quá trình QL, là nhiệm vụ trọng tâm của người

QL. Nói tới các chức năng chủ yếu của QL, hiện nay có nhiều quan điểm

khác nhau nhưng nhìn chung đa số các tác giả đều thống nhất ở bốn chức

năng sau:

* Kế hoạch hoá: Đây là chức năng cơ bản nhất trong các chức năng

QL. Kế hoạch hoá bao gồm việc XD mục tiêu, chương trình hành động và

quyết định cách thức, phương tiện cần thiết trong một thời gian nhất định của

một hệ thống QL để đạt được mục tiêu. Kế hoạch hoá giúp nhà QL có cái

nhìn tổng thể, toàn diện, từ đó thấy được hoạt động tương tác giữa các bộ

phận. Việc lập kế hoạch cho phép lựa chọn những phương án tối ưu, tiết kiệm

nguồn lực, tạo hiệu quả hoạt động cho toàn bộ tổ chức và có khả năng ứng



11



phó với sự thay đổi. Ngoài ra, nó còn tạo điều kiện dễ dàng cho việc kiểm tra.

Không có kế hoạch sẽ không thể xác định được tổ chức hướng đúng hay chệch

mục tiêu và không biết khi nào đạt được mục tiêu. Do đó, kiểm tra trở thành vô

căn cứ. Nhà QL thông qua kế hoạch có thể nhìn thấy tương lai, có thể điều chỉnh

những quyết định trước đó, bảo đảm hướng vào mục tiêu đã định.

* Tổ chức: Tổ chức là việc biến những ý tưởng trừu tượng của kế

hoạch thành hiện thực. Xét về mặt chức năng QL, tổ chức là quá trình hình

thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong tổ

chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục

tiêu tổng thể của tổ chức. Tổ chức làm cho các chức năng khác của hoạt động

QL thực hiện có hiệu quả. Thành tựu của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào

năng lực của người QL. Họ cần thiết kế cơ cấu các bộ phận, sử dụng các

nguồn nhân lực và vật lực sao cho phù hợp với mục tiêu của tổ chức.

* Chỉ đạo: Đây là quá trình sử dụng quyền lực QL để tác động đến đối

tượng bị QL một cách có chủ đích nhằm phát huy hết tiềm năng của họ hướng

vào mục tiêu chung. Chỉ đạo là chức năng thể hiện năng lực của người QL.

Việc chỉ đạo không chỉ bắt đầu sau việc lập kế hoạch và cơ cấu tổ chức đã

hoàn tất, mà nó hoà quyện và ảnh hưởng đến hai chức năng kia.

* Kiểm tra: Đây là chức năng quan trọng xuyên suốt quá trình QL. Mục

đích của KT nhằm bảo đảm các kế hoạch thành công, phát hiện kịp thời

những sai lệch, tìm nguyên nhân và biện pháp điều chỉnh các sai lệch nhằm

làm cho toàn bộ hệ thống đạt mục tiêu đã định. KT là một quá trình bao gồm

các bước: xây dựng các tiêu chuẩn; đo lường việc thực hiện; đánh giá các tiêu

chuẩn so với các kế hoạch. KT là “tai mắt” của QL, là việc làm bình thường,

không được cản trở đối tượng thực hiện mục tiêu.

Tất cả các chức năng trên đều cần đến yếu tố thông tin. Thông tin đầy

đủ, kịp thời, chính xác là một căn cứ để hoạch định kế hoạch. Thông tin cũng

cần cho các bộ phận trong cơ cấu tổ chức, nó tạo nên mối quan hệ giữa các bộ



12



phận trong tổ chức. Nó giúp truyền tải mệnh lệnh chỉ đạo và phản hồi hai

chiều trong một tổ chức, giúp người QL thực hiện các chức năng của mình

nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức.



Lập kế hoạch



Kiểm tra



Thông tin



Tổ chức



Lãnh đạo/Chỉ đạo



Hình 1.2: Mối quan hệ giữa thông tin với các chức năng trong chu trình QL

1.2.2. Quản lý giáo dục và quản lý nhà trƣờng

1.2.2.1. Quản lý giáo dục

Đã có nhiều tác giả nghiên cứu về lí thuyết QLGD và thực tế cho

thấy cũng có nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này, có thể kể đến một số

quan điểm chủ yếu sau :

Theo P.V.Khuđôminxki (nhà lý luận của Liên xô trước đây) thì:

QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và có mục đích của

chủ thể QL ở các cấp khác nhau đến các khâu của hệ thống GD (từ bộ đến

trường) nhằm mục đích đảm bảo việc GD Chủ nghĩa cộng sản cho thế hệ trẻ,

đảm bảo phát triển toàn diện và hài hoà cho thế hệ trẻ.

Tác giả M.I.Kônđacốp, một chuyên gia GD khác của Liên xô cũ cho

rằng: QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích

của chủ thể QL ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ

bộ đến trường) nhằm mục đích đảm bảo việc hình thành nhân cách cho thế hệ



13



trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những qui tắc chung của xã hội cũng như

những quy luật của quá trình GD, của sự phát triển tâm thế và tâm lý trẻ em.

Ở Việt Nam, QLGD cũng là một lĩnh vực được Đảng và Nhà nước đặc

biệt quan tâm. Nghị quyết Hội nghi lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương Đảng

khóa VIII khẳng định: “Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể

quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa ra hoạt động sư phạm của hệ thống giáo

dục đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất‟‟ [5, tr.50].

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang thì: “Quản lý giáo dục thực chất là

tác động đến nhà trường, làm cho nó tổ chức tối ưu được quá trình dạy học,

giáo dục thể chất theo đường lối, nguyên lý giáo dục của Đảng, quán triệt

được những tính chất trường THPT xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bằng cách đó

tiến tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái chất lượng mới‟‟ [27, tr.32].

Tác giả Đỗ Hoàng Toàn lại nhấn mạnh: „Quản lý giáo dục là tập hợp

những biện pháp tổ chức, phương pháp giáo dục, kế hoạch hóa tài chính,

cung tiêu ... nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong

hệ thống giáo dục, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về

mặt số lượng cũng như về chất lượng‟‟ [26, tr.29].

Tác giả Phạm Minh Hạc cũng khẳng định: “QLGD là tổ chức các

HĐDH. Có tổ chức được các HĐDH, thực hiện được các tính chất của nhà

trường Việt Nam xã hội chủ nghĩa, mới quản lý được GD, tức là cụ thể hoá

đường lối GD của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng nhu

cầu của nhân dân, của đất nước” [15, tr.9].

Các tác giả tuy có nhiều cách diễn đạt khác nhau, nhưng đều giúp ta có

cách hiểu thống nhất rằng khái niệm QLGD có nội hàm rất linh hoạt, nếu hiểu

GD là các hoạt động GD diễn ra trong nhà trường hay ngoài xã hội thì QLGD

là quản lý mọi hoạt động GD trong xã hội, lúc đó QLGD được hiểu theo

nghĩa rộng nhất. Còn chỉ nói đến hoạt động GD trong ngành giáo dục đào tạo

thì QLGD được hiểu là QL một số cơ sở GD&ĐT (là quản lý nhà trường) và



14



quản lý một số cơ sở GD&ĐT ở một bộ phận hành chính nào đó (huyện, tỉnh,

toàn quốc) ta gọi là quản lý một hệ thống GD. Nghĩa là khái niệm QLGD

được hiểu theo nghĩa hẹp hơn. Nhưng rõ ràng là, dù được hiểu theo nghĩa

rộng hay nghĩa hẹp thì mục đích cuối cùng của QLGD vẫn là nâng cao chất

lượng GD. Qua các định nghĩa trên chúng ta có thể rút ra những kết luận:

QLGD là những tác động có hệ thống, có khoa học, có ý thức và có

mục đích của chủ thể QL lên đối tượng QL là quá trình DH và GD diễn ra ở

các cơ sở GD.

QLGD được hiểu một cách cụ thể là quản lý một hệ thống giáo dục đó

có thể là một trường học, một trung tâm khoa học kỹ thuật, hướng nghiệp, dạy

nghề, một tập hợp các cơ sở phân bố trên địa bàn dân cư.

QL một cách có khoa học (là việc tối ưu) trong đó chủ thể QL phải nắm

được các quy luật khách quan đang chi phối sự vận hành của đối tượng QL.

1.2.2.2. Quản lý nhà trường

Nhà trường là một tổ chức chuyên biệt trong hệ thống tổ chức xã hội

thực hiện chức năng tái tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự duy trì và phát

triển xã hội. Nhà trường với tư cách là một tổ chức giáo dục cơ sở, vừa mang

tính giáo dục, vừa mang tính xã hội, trực tiếp tham gia vào quá trình đào tạo

thế hệ trẻ, nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho

đất nước. Vì vậy trường học vừa là thành tố khách thể cơ bản của tất cả các

cấp QLGD, vừa là hệ thống độc lập, tự quản của xã hội. Bởi vậy QL nhà

trường vừa có tính chất nhà nước, vừa có tính chất xã hội. Nhà nước và cả xã

hội đều phải cùng chăm lo xây dựng và QL nhà trường.

Theo Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường ở Việt Nam là thực hiện

đường lối GD của Đảng trong phạm vi trách nhiệm, đưa nhà trường vận

hành theo nguyên lý GD để tiến tới mục tiêu GD, mục tiêu đào tạo với thế hệ

trẻ và với từng học sinh” [15, tr.71].



15



Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo

dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận

hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối

với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh” [21, tr.29].

Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cũng cho rằng: “Quản lý trường là tập hợp

những tác động tối ưu (cộng tác, tham gia, hỗ trợ, phối hợp, huy động, can

thiệp) của chủ thể quản lý đến tập thể cán bộ, GV và HS. Nhằm tận dụng nguồn

lực dự trữ do nhà nước đầu tư, các lực lượng xã hội đóng góp và do lao động

xây dựng vốn tự có, hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường và

tiêu điểm hội tụ là đào tạo thế hệ trẻ, thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế

hoạch đào tạo đưa nhà trường tiến lên một trạng thái mới”[27, tr.13]

Bản chất của việc QL nhà trường là QL hoạt động giảng dạy, QL hoạt

động học tập và các hoạt động GD khác trong nhà trường. Thông qua quá

trình QL làm sao đưa các hoạt động từ trạng thái này sang trạng thái khác để

dần đạt được các mục tiêu GD. Các hoạt động trong nhà trường bản thân nó

đã có tính GD song cần có sự QL, tổ chức chặt chẽ mới phát huy được hiệu

quả của bộ máy.

Các nội dung chủ yếu của QLGD trên cơ sở QL nhà trường bao gồm:

- Nhà trường là thực thể trung tâm của bất kỳ sự biến đổi nào trong hệ

thống GD.

- Nhà trường tự chủ giải quyết những vấn đề sư phạm - kinh tế - xã hội

của mình với sự tham gia tích cực và trách nhiệm của những thực thể hữu

quan ngoài nhà trường.

- Nâng cao trách nhiệm và tính tự quản của mỗi GV.

- Hình thành các cơ cấu cần thiết để các thực thể hữu quan ngoài nhà

trường có thể thực sự tham gia vào việc điều phối công việc nhà trường. Đồng

thời, tăng cường trách nhiệm và quyền hành của GV tham gia vào quá trình ra

quyết định QL trong nhà trường.



16



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (128 trang)

×