1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TIÊNG ANH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN BẮC SƠN - LẠNG SƠN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.7 MB, 128 trang )


2005). Huyện Bắc Sơn có 4 dân tộc có số dân đông Tày, Nùng, Dao, Kinh,

ngoài ra còn có một số dân tộc khác như Mông, Mường, Hoa ... trong đó dân

tộc Tày chiếm 68,75%, dân tộc Kinh chiếm 11,49%, dân tộc Dao chiếm

10,92%, dân tộc Nùng chiếm 8,34% còn lại là các dân tộc khác (theo niên

giám thống kê năm 2005).

2.1.1.3. Về tình hình kinh tế - xã hội

Tình hình kinh tế xã hội huyện Bắc Sơn trong những năm gần đây có

nhiều chuyển biến tích cực. Tốc độ phát triển kinh tế bình quân của huyện

trong những năm qua đạt 9,53%. Hệ thống hạ tầng cơ sở như điện, đường,

trường, trạm, nước sạch ngày một phát triển. Đời sống kinh tế của người dân

ngày một tốt lên.

2.1.2. Vài nét khái quát về tình hình giáo dục THPT huyện Bắc Sơn

2.1.2.1. Quy mô trường lớp

Huyện Bắc Sơn có hai trường THPT đó là THPT Bắc Sơn và THPT

Vũ Lễ. THPT Bắc Sơn được thành lập năm 1960, là trường nằm ở trung tâm

huyện, nhằm phục vụ nhu cầu học tập chủ yếu của học sinh 12 xã và 1 thị trấn

với qui mô lớn gấp hai lần THPT Vũ Lễ. Trường THPT Vũ Lễ nằm trên địa

bàn giáp ranh với tỉnh Thái Nguyên, cách Thành Phố Lạng Sơn 120km, cách

trung tâm huyện Bắc Sơn 28km, được thành lập năm 1999, có nhiệm vụ đáp

ứng nhu cầu giáo dục THPT cho địa bàn 7 xã phía Tây Nam của Huyện Bắc

Sơn, điều kiện địa phương còn nhiều khó khăn, dân trí ở đây còn thấp, nhiều

xã “cuối Huyện”, để tham gia học tập học sinh phải đi lại rất xa và khó khăn

vì địa hình chia cách.

Qua bảng số liệu ta thấy học sinh chủ yếu là con em người dân tộc

thiểu số, điều kiện học tập còn gặp nhiều khó khăn. (số học sinh người dân

tộc của cả hai Trường THPT Bắc Sơn và THPT Vũ Lễ là 91,7% trong đó số

HS người dân tộc của THPT Vũ Lễ là 83,2% và 95,2% là số HS người dân

tộc của THPT Bắc sơn).



38



Bảng 2.1: Hệ thống, quy mô trƣờng lớp học sinh trung học

huyện Bắc Sơn năm học 2009 – 2010

Trong đó



Số



THPT Bắc Sơn

THPT Vũ Lễ

Toàn Huyện



Số



Tổng



HS



lớp



số HS



dân



Số



Dân



Số



Dân



Số



Dân



tộc



Trường



HS



tộc



HS



tộc



HS



tộc



1350

480

1830



503

219

722



477

191

668



496

178

674



469

142

611



419

180

599



404

147

551



36

19

55



1418

577

1995



K. 10



K. 11



K. 12



(Nguồn: Báo cáo tổng kết năm học 2009 - 2010 các trường THPT huyện Bắc Sơn, Vũ Lễ. )



2.1.2.2. Tình hình cơ sở vật chất phục vụ dạy học

Trong những năm qua, giáo dục trung học huyện Bắc sơn rất được Đảng,

Chính quyền huyện nhà và Sở Giáo dục quan tâm. Cả hai trường THPT trong

huyện đều được đầu tư trang thiết bị, xây dựng nhiều phòng học mới, phòng

bộ môn … . Tất cả các phòng học đều được trang bị bảng từ chống lóa. Nhìn

chung các trường có đủ phòng học để học hai ca, không có tình trạng ca ba.

Cả 2 trường THPT trong huyện đều có quy hoạch tốt, khuôn viên đẹp và luôn

được đầu tư nâng cấp cải tạo. Trang thiết bị trong các phòng chức năng nhìn

chung vẫn chưa đáp ứng yêu cầu dạy học.

Bảng 2.2: Thống kê cơ sở vật chất các trƣờng THPT huyện Bắc Sơn

Phòng học Phòng theo chức năng

Phòng

Trƣờng



Tổng Kiên Phòng

số



THPT Bắc sơn

THPT Vũ Lễ

Toàn Huyện



cố tin học



24

15

39



24

15

39



3

2

5



Phòng

bộ

môn

2

0

2



Nghe Thiết

nhìn



bị



0

0

0



2

1

3



Máy

vi

tính

( cái)

47

31

78



Lap

top

( cái)

5

2

7



Máy

Đèn chiếu

chiếu đa vật

thể

3

3

6



3

2

5



(Nguồn: Báo cáo tổng kết năm học 2009 - 2010 các trường THPT huyện Bắc Sơn)



2.1.2.3. Về đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý

- Về đội ngũ giáo viên



39



Đội ngũ GV cơ bản là GV miền xuôi lên công tác, GV người địa

phương tỷ lệ thấp, phần lớn đội ngũ GV có phẩm chất đạo đức tốt, nhiệt tình

và có trách nhiệm với công việc được giao, trình độ khá đồng đều đảm bảo

chuẩn về đào tạo theo quy định của luật giáo dục.

Qua thống kê ta thấy 98,3% GV đạt chuẩn về trình độ đào tạo, nhưng

số GV có trình độ trên chuẩn đào tạo chưa có, như vậy công tác bồi dưỡng và

nâng cao trình độ cho GV chưa đạt yêu cầu do vậy đội ngũ chưa đáp ứng được

yêu cầu ngày càng cao của xã hội và đây cũng là một yếu tố quan trọng làm

ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục của các trường. Về tỷ lệ giới tính và tỷ lệ

GV là người dân tộc tương đối cân bằng, nhưng tỷ lệ GV là đảng viên còn ít.

Bảng 2.3: Thống kê số lƣợng, chất lƣợng đội ngũ GV huyện Bắc Sơn

Đảng

viên

Trường



Giới tính



Dân tộc



Trình độ chuyên môn

Đạt



SL

SL



%



Nữ



%



Nữ



%



Trên



Chưa



chuẩn



chuẩn



chuẩn



SL

THPT Bắc sơn

THPT Vũ Lễ

Toàn Huyện



74 15 20,2 49

42 4 9,5 26

116 19 16,4 75



66,2

61,9

64,7



%



40 54 73 98,6

19 45,2 41 97,6

59 50,9 114 98,3



SL



%



0

0

0



0

0

0



SL %

1

1

2



1,4

2,4

1,7



(Nguồn: Báo cáo tổng kết năm học 2009 - 2010 các trường THPT huyện Bắc Sơn)



- Về đội ngũ cán bộ quản lý

6 CBQL ở 2 trường THPT trong toàn huyện có đầy đủ phẩm chất chính

trị và trình độ chuyên môn. Tuy nhiên, số CBQL có trình độ trên chuẩn về QL

còn ít. Một điều đáng ghi nhận là 50% CBQL trong huyện có độ tuổi từ 31

đến 40 tuổi và 50% CBQL trong huyện có độ tuổi từ 41 đến 50 tuổi, là độ

tuổi còn khá trẻ vừa có tính năng động vừa có tính kinh nghiệm và còn phục

vụ nhiều năm trong ngành. Nhưng mới chỉ có 1 CBQL đã hoàn thành lớp bồi

dưỡng CBQL 4 tháng.



40



Bảng 2.4: Thống kê số lƣợng, chất lƣợng đội ngũ CBQL huyện Bắc Sơn

Trong đó

Trình độ chuyên môn

Trƣờng



Số

lượng



Đảng

viên



% Đại

học



Sau

%



đại %

học



Độ tuổi



Đã

học

QL



31

%



41



51



đến đến đến

40



50



60



0



1



2



0



GD



THPT Bắc Sơn



3



3



100,0 2 66,7



THPT Vũ Lễ



3



3



100,0 3 100,0 1 33,3 1



33,3



2



1



0



Toàn Huyện



6



6



100,0 4 66,7



16,7



3



3



0



1 33,3 0



2 33,3 1



(Nguồn: Báo cáo tổng kết năm học 2009-2010 các trường THPT huyện Bắc Sơn)



2.1.2.4. Về chất lượng giáo dục THPT

a, Điểm tuyển sinh vào các trường THPT huyện Bắc sơn

Chất lượng xếp loại học lực tuyển sinh đầu cấp ở các trường THPT

huyện Bắc Sơn là rất thấp, mặc dù trường THPT Bắc Sơn là trường ở khu vực

trung tâm của huyện nơi có những điều kiện thuận lợi hơn so với trường

THPT Vũ Lễ, song điểm tuyển sinh cũng không cao hơn nhiều, đây cũng là

một yếu tố chính dẫn chất lượng giáo dục THPT của huyện Bắc Sơn chưa

cao. Xin đưa một ví dụ: Một HS có số điểm trúng tuyển vào lớp 10 trường

THPT Vũ Lễ (năm học 2009 – 2010) là 7,5 điểm, thì theo chế độ ưu tiên

trong tuyển sinh đối với HS người dân tộc vùng cao, vùng sâu, vùng xa và

vùng kinh tế đặc biệt khó khăn được cộng 3,5 điểm, như vậy trừ điểm ưu tiên

thì còn 4,0 điểm cho ba môn thi là Toán, Văn và một môn thứ ba (Tiếng Anh,

Lý, Hóa), mà trong đó hai môn Toán, Văn tính hệ số 2. Vậy tính bình quân

mỗi môn thi chưa đến 1,0 điểm HS đã đủ điều kiện trúng tuyển vào trường

THPT Vũ Lễ (một trong các môn đó bị điểm 0,0 thì không được xét tuyển).



41



Đây là trở ngại lớn nhất đối với nhiệm vụ đổi mới phương pháp dạy học, nâng

cao chất lượng giáo dục ở các trường THPT huyện Bắc Sơn hiện nay.

Bảng 2.5: Điểm tuyển sinh vào các trƣờng THPT huyện Bắc Sơn

năm học 2008 – 2009 và 2009 – 2010

Tên trƣờng



Điểm tuyển sinh

Năm học 2008-2009



Năm học 2009-2010



THPT Bắc Sơn



9,5



9,75



THPT Vũ Lễ



8,0



7,5



b, Kết quả xếp loại 2 mặt giáo dục các trường THPT huyện Bắc Sơn

Chất lượng giáo dục THPT huyện Bắc Sơn ngày càng được khẳng định

qua các năm học. Chất lượng dạy và học đang từng bước được nâng lên, giáo

dục mũi nhọn được chú ý đầu tư nhiều hơn và gặt hái được nhiều kết quả mà

thể hiện của nó là sự thành công của HS trong huyện trong các kỳ thi học

sinh giỏi cấp tỉnh, và tỉ lệ học sinh tốt nghiệp THPT được nâng lên qua từng

năm học.

Bảng 2.6: Kết quả xếp loại 2 mặt giáo dục các trƣờng THPT huyện Bắc

Sơn năm học 2008 – 2009

Trường



Tổng số SL

HS



%



Xếp loại học lực

Giỏi Khá



Toàn

Huyện



440



Khá

1317



160



3



0,3



89,0



10,8



0,2



2



619



51



3



11,7 56,7 30,9



0,3



92



7,6



0,4



6



294 1199 648



6



1936



211



6



0,3



13,7 55,7 21,7



0,3



89,9



9,8



0,3



3

0,2



SL



3



%



Vũ Lễ



818



4



SL

%



Bắc Sơn



TB



Xếp loại hạnh kiểm

Yếu Kém Tốt, khá TB Yếu



0,4



SL

%



215



1480

14,5 55,3 29,7

79



381



208



673



2153



42



Bảng 2.7: Kết quả xếp loại 2 mặt giáo dục các trƣờng THPT huyện Bắc

Sơn năm học 2009 - 2010

Trường



Tổng số SL

HS



%



Xếp loại học lực

Xếp loại hạnh kiểm

Giỏi Khá TB Yếu Kém Tốt, khá TB Yếu



Toàn

Huyện



0,3



SL



8



%



Vũ Lễ



5



%



Bắc sơn



SL



385



13



Khá

1248



117



86



15,2 57,0 26,5



0,9



86,0



8,1



5,9



221



827



1451

118



330



121



0



547



29



1



1,4



20,5 57,2



21



0



94,8



5



0,2



SL



13



339 1157 506



13



1795



146



87



%



0,6



16,7 57,0 25,0



0,6



88,5



7,2



4,3



577



2028



(Nguồn: Báo cáo tổng kết năm học 2009-2010 các trường THPT huyện Bắc Sơn)



- Hầu hết học sinh THPT ở huyện Bắc Sơn đều có thái độ học tập tốt,

chất lượng giáo dục đại trà tương đối ổn định. Mặc dù tỉ lệ HS khá giỏi không

cao nhưng HS trên trung bình đạt bình quân 77%.

2.1.3. Đánh giá chung

Ƣu điểm

Giáo dục THPT của huyện Bắc Sơn trong những năm gần đây đã đạt

được những kết quả khả quan. Số lượng GV và CBQL tương đối đủ về cơ cấu,

đảm bảo chuẩn về trình độ đào tạo. Kỷ cương, nền nếp dạy học ngày càng được

củng cố và giữ vững. Chất lượng dạy và học từng bước khẳng định. Chất lượng

đại trà được củng cố, tiến bộ về chất lượng mũi nhọn. Ổn định chất lượng

chung. Bên cạnh đó, CSVC của các trường THPT trong huyện ngày càng được

quan tâm, xây dựng theo hướng chuẩn hoá, phần nào đáp ứng được yêu cầu

đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay.

Tồn tại

Tỉ lệ GV trên chuẩn đào tạo chưa có. Chất lượng dạy học ở hai trường

chưa cao. Cơ sở vật chất chỉ đủ để tổ chức dạy học ở mức độ tối thiểu, không



43



đồng bộ, xuống cấp. Bổ sung CSVC, phát triển ứng dụng công nghệ rất khó

khăn.Tỉ lệ duy trì sĩ số HS chưa tốt

Điều kiện KT-XH địa phương còn khó khăn, phong trào học tập và

khuyến học chưa mạnh nên chất lượng GD đại trà của các trường chưa cao, chất

lượng GD mũi nhọn chưa ổn định. Việc huy động XHH GD chưa đáp ứng, địa

bàn phân tán, chia cách nên việc quản lý và phối hợp quản lý cũng hạn chế.

Công tác QLGD trước mắt có thể gánh vác được trọng trách giáo dục

trong huyện nhưng về lâu dài cần phải đầu tư nhiều hơn, đặc biệt là nâng cao

trình độ QL của đội ngũ QL.

2.2. Thực trạng dạy học Tiếng Anh ở các trƣờng trung học phổ thông

huyện Bắc Sơn

2.2.1. Về đội ngũ giáo viên giảng dạy Tiếng Anh

Qua khảo sát về số lượng, trình độ, giới tính, độ tuổi và thâm niên công

tác của GV Tiếng Anh của 2 trường, chúng tôi nhận thấy, về trình độ đào tạo

đều đạt chuẩn theo quy định của Bộ GD&ĐT, tuy vậy chưa có GV nào đạt

trình độ trên chuẩn. Số lượng GV còn thiếu so với yêu cầu, hầu hết các GV

còn trẻ, điều này rất thuận lợi cho việc đổi mới phương pháp dạy học, trau dồi

kiến thức, nâng cao trình độ chuyên môn. Trong số 15 GV Tiếng Anh của 2

trường chưa có GV nào đạt GV giỏi cấp tỉnh và chỉ chỉ có 2/15 GV được đào

tạo chính quy, số còn lại đều là hệ không chính quy. Điều này giải thích một

phần tại sao phương pháp dạy học mới chưa thực sự hiện diện trong các

trường THPT, chất lượng dạy và học môn Tiếng Anh ở đây chưa đáp ứng

được mục tiêu đề ra của giáo dục phổ thông.

Qua khảo sát thực tế ta thấy trình độ GV Tiếng Anh ở các trường

THPT huyện Bắc Sơn chưa đồng đều, tỷ lệ GV nam và nữ chênh lệch quá lớn,

nhiều GV không thể giao tiếp dù là giao tiếp thông thường bằng Tiếng Anh.

Trình độ tiếng (lý thuyết) và kỹ năng thực hành chưa tốt, hầu như không có

cơ hội để giao tiếp Tiếng Anh với người nước ngoài, ít có điều kiện để cập



44



nhật với những phát triển mới trong dạy và học ngoại ngữ.

Qua tìm hiểu, tiếp xúc, trao đổi với GV Tiếng Anh và CBQL của 2

trường, chúng tôi nhận thấy, bên cạnh số GV rất tâm huyết với nghề dạy học,

phát huy tốt các kết quả đạt được, gương mẫu trong công tác, còn một bộ

phận sa sút về ý chí, giảng dạy thiếu nhiệt tình, ít đọc sách, không đổi mới

phương pháp dạy học, đổi mới cách làm, nên số GV này chưa có cách tiếp

cận tốt với sự thay đổi của nội dung, chương trình, và sự phát triển của xã hội.

Đặc biệt đội ngũ giáo viên trẻ với thâm niên giảng dạy chưa nhiều, cần thiết

phải có kế hoạch thường xuyên bồi dưỡng năng lực GV nhằm không ngừng

cập nhật thông tin và phương pháp giảng dạy mới, từ đó nâng cao chất lượng

dạy học môn Tiếng Anh.

Bảng 2.8: Thống kê đội ngũ giáo viên Tiếng Anh THPT Huyện Bắc Sơn

Trình độ



Trường



Tổng

Số



Số

lượng

&%



chuyên Giới tính



11



Vũ Lễ



4



Toàn Huyện



15



SL

%

SL

%

SL

%



công tác (năm)



môn

Đại Trên

học ĐH



Bắc Sơn



Thâm niên



Độ tuổi



11

100

4

100

15

100



Nam Nữ



Dưới 30 – 41- 5130



0 3 8

3

0 27,3 72,7 27,3

0 0 4

2

0 0 100 50

0 3 12 5

0 20 80 33,3



Dưới

5



5 Trên



40



50



60



-10



10



8

72,7

2

50

10

66,7



0

0

0

0

0

0



0

5

5

1

0 45,5 45,5 9,1

0

2

2

0

0 50 50 0

0

7

7

1

0 46,7 46,7 6,7



2.2.2. Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh về vai trò của bộ

môn Tiếng Anh

Tiếng Anh là một môn học đặc thù. Để dạy và học tốt môn học này,

ngoài nội dung học tập, phương pháp dạy học và các điều kiện hỗ trợ học tập

thì điều quan trọng hơn cả là nhận thức của CBQL, GV và cả HS về vai trò, vị



45



trí của nó. Bởi vì, phải hiểu đúng bản chất của nó và thấy được tầm quan

trọng của nó trong đời sống thì mới tạo động cơ dạy học Tiếng Anh được.

- Nhận thức của cán bộ quản lý:

Qua khảo sát CBQL, giáo viên và học sinh trong huyện (gồm 2 Hiệu

trưởng, 4 Phó hiệu trưởng, 2 tổ trưởng chuyên môn của 2 trường THPT, 15

GV Tiếng Anh THPT và 70 học sinh THPT), kết quả như sau:

Bảng 2.9: Nhận thức của học sinh, giáo viên và CBQL huyện Bắc Sơn

Lạng Sơn về vai trò của Tiếng Anh

Ý kiến HS

Học Tiếng Anh để :



SL Tỉ lệ



Ý kiến GV



Ý kiến CBQL



Thứ

Thứ

Thứ

SL Tỉ lệ

SL Tỉ lệ

tự

tự

tự

1



3



8 100,

0

7 87,5



12 80,0



2



5 62,5



4



5



7 46,7



4



5 62,5



4



15 21,4 4



15 100



1



6 75,0



3



Thi đỗ tốt nghiệp THPT



70 100



1



15 100



1



Sử dụng Internet một cách dễ dàng



25 35,7 2



8 53,3



Có cơ hội tìm được một việc làm

tốt sau này



18 25,7 3



Làm cơ sở để thi vào đại học



6 8,6



Giao tiếp tốt hơn với người nước

ngoài



38,3



76,0



2



77,5



Qua kết quả khảo sát trên ta thấy việc nhận thức về vai trò của Tiếng

Anh của CBQL và GV là khá tốt, nhưng nhận thức của HS về vai trò của

Tiếng Anh chủ yếu chỉ để thi đỗ tốt nghiệp. Chính điều này đã ảnh hưởng lớn

đến cách học của HS.

Chúng tôi còn hỏi thêm giáo viên và CBQL một số nội dung có liên quan

đến hoạt động dạy học Tiếng Anh trong giai đoạn hiện nay, kết quả như sau:

Các kết quả điều tra cho thấy, trong 5 vai trò mà bộ môn Tiếng Anh

mang lại cho HS, CBQL có số X  77,5% , GV có số X  76% , điều đó cho

thấy cả CBQL và GV đánh giá rất cao vai trò của bộ môn Tiếng Anh trong

nhà trường. Trong đó, vai trò thứ 5 “Giao tiếp tốt hơn với người nước ngoài”



46



được đánh giá rất cao (75% và 100%), chứng tỏ rằng, CBQL và GV vẫn nhận

thức được rằng học Tiếng Anh mục đích cuối cùng là giao tiếp. Thấp nhất là

vai trò thứ 5 “Làm cơ sở để thi vào đại học”, cho thấy Tiếng Anh còn là một

trở ngại lớn đối với HS muốn vào đại học bằng môn Tiếng Anh.

Đối với HS, số X  38,3% đã thể hiện rằng, các em chưa chú trọng môn

Tiếng Anh. Các em đã đánh giá chưa đúng vai trò của TTiếng Anh trong cuộc

sống của các em. 21,4% cho rằng mục đích của việc học Tiếng Anh là để giao

tiếp, 25,7% cho rằng nó sẽ giúp các em có cơ hội tìm được việc làm tốt hơn,

35,7% khẳng định nó giúp các em truy cập Internet dễ dàng hơn và có 100%

cho rằng nó giúp các em thi đỗ tốt nghiệp THPT. Trong những vai trò đó,

thấp nhất vẫn là chọn môn Tiếng Anh làm môn thi vào đại học.

Nhận thức về tầm quan trọng của môn học Tiếng Anh trong nhà trường

THPT hiện nay, 62,5% CBQL và 80% GV TTiếng Anh trong huyện cho rằng nó

rất quan trọng. Về đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc

dân giai đoạn 2008 - 2020”, có 33,3% GV TTiếng Anh và 62,5% CBQL nắm

rất rõ, thể hiện rằng cả GV và CBQL trong huyện chưa thực sự quan tâm đến các

chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển khả năng ngoại ngữ

trong HS, sinh viên Việt Nam.

2.2.3. Về thực trạng các hoạt động giảng dạy Tiếng Anh của giáo viên

Để nhận định đúng thực trạng dạy học Tiếng Anh ở các trường THPT

huyện Bắc Sơn - Lạng Sơn, chúng tôi đã tiến hành khảo sát 15 GV Tiếng Anh

trong huyện. Với những nội dung điều tra, kết quả như sau:



47



Bảng 2.11: Kết quả khảo sát hiện trạng các hoạt động giảng dạy của giáo viên

T

T



Các biện pháp dạy học



1 Chuẩn bị kỹ bài trước khi đến lớp

Cập nhật, mở rộng bài giảng với những kiến

2

thức mới

3 Sử dụng các phương pháp dạy học tích cực

4



Thay đổi phương pháp giảng dạy khi HS

không hứng thú học



5 Trao đổi với HS về phương pháp học tập

6

7

8



9

10



Yêu cầu và hướng dẫn HS chuẩn bị bài mới ở

nhà

Kiểm tra việc tự học của HS

Lấy ý kiến phản hồi của HS sau khi kết thúc

môn học để rút kinh nghiệm và sử dụng kết

quả kiểm tra , đánh giá để điều chỉnh phương

pháp dạy học

Chú ý tìm hiểu những khó khăn HS gặp phải

trong quá trình học tập

Thực hiện kiểm tra, thi nghiêm túc, đánh giá

đúng kết quả học tập của HS



Đánh giá mức độ thực hiện

(%)

Thường Thỉnh

Không

xuyên thoảng

bao giờ

60

33,3

6,7

40



13,3



46,7



13,3



66,7



20



20



40



40



0



26,7



73,3



66,7



33,3



0



13,3



20



66,7



0



0



100



0



13,3



86,7



40



60



0



Qua bảng số liệu ta thấy đa số GV thực hiện tốt nhiệm vụ chuẩn bị bài

trước khi lên lớp, việc này có quyết định nhiều đến chất lượng giờ dạy, nhưng

vẫn còn không ít GV chưa chú trọng việc chuẩn bị bài lên lớp, thêm vào đó

hơn 50% GV chưa thường xuyên cập nhật và mở rộng bài giảng cho HS.

Nhiều GV chỉ đơn thuần lo hoàn thành việc truyền đạt kiến thức để theo kịp

với chương trình đã đề ra mà chưa quan tâm đến làm thế nào cho HS cảm

thấy hứng thú học tập, chưa thường xuyên sử dụng các phương tiện dạy học

tích cực, không trao đổi với HS về phương pháp học tập. chỉ có 13,3% GV

thường xuyên sử dụng các phương tiện dạy học tích cực và 20% GV thường

xuyên thay đổi phương pháp giảng dạy khi HS không hứng thú học. Điều này

chứng tỏ rằng còn nhiều tồn tại trong việc giảng dạy của GV. Qua bảng khảo



48



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (128 trang)

×