1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG CẢO ĐẲNG NGHỀ CÔNG NGHỆ VÀ NÔNG LÂM PHÚ THỌ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.61 MB, 137 trang )


CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

TRONG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG CẢO ĐẲNG NGHỀ CÔNG NGHỆ

VÀ NÔNG LÂM PHÚ THỌ

2.1. Khái quát về Trường cao đẳng nghề Công nghệ và Nông lâm Phú

Thọ

2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển

Trường cao đẳng nghề Công nghệ và Nông lâm Phú Thọ được thành lập

trên cơ sở nâng cấp trường trung cấp nghề Cơ điện và Nông lâm Phú Thọ theo

Quyết định số 228/QĐ-LĐTBXH ngày 11/02/2010 của Bộ trưởng Bộ Lao

động - Thương binh và Xã hội, mà tiền thân là trường CNKT Lâm nghiệp khu

Giấy sợi được thành lập theo Quyết số 1331/QĐ-TC ngày 01/10/1974 của

Tổng Cục Lâm nghiệp. Trụ sở chính của trường đặt tại xã Hà Lộc, thị xã Phú

Thọ, tỉnh Phú Thọ.

- Tên tiếng Anh: Phu Tho Vocational College of Technology and

Agroforestry

- Điện thoại: (0210) 760.256; Fax: (0210) 760.200

- Website: www.voctech-pt.edu.vn

- E-mail: codiennonglam@voctech-pt.edu.vn

- Bộ chủ quản: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Từ 1996 đến 2007 Trường trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông

thôn, tên gọi là Trường Công nhân kỹ thuật lâm nghiệp TW4 với nhiệm vụ:

Ngày 12/4/2007 Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT đã ra Quyết định số:

1033/QĐ/BNN-TCCB về việc thành lập trường Trung cấp nghề Cơ điện và

Nông lâm Phú Thọ trên cơ sở trường CNKT Lâm nghiệp TW4.

Thực hiện nhiệm vụ của Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn giao

năm 2009 nhà trường đã xây dựng Đề án thành lập trường Cao đẳng nghề

Công nghệ và Nông lâm Phú Thọ, trên cơ sở nâng cấp trường Trung cấp nghề



Cơ điện và Nông lâm Phú Thọ trình các cấp thẩm định, và chính thức được

nâng cấp thành trường cao đẳng nghề theo Quyết định số 228/QĐ-LĐTBXH

ngày 11/02/2010 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.

Năm học 2010 – 2011, là năm đầu tiên Nhà trường tiến hành đào tạo ở cả

3 cấp trình độ gồm: Cao đẳng nghề, trung cấp nghề và sơ cấp nghề. Tính đến

10/2010 quy mô đào tạo của nhà trường đã tăng lên 1500 học sinh (tăng

11,1% so với năm 2009). Trong đào tạo nhà trường đã bám sát chủ trương,

đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về đào tạo nghề, Luật

giáo dục, Luật dạy nghề và các văn bản hướng dẫn của các Bộ, Ngành trung

ương và địa phương, nắm bắt được nhu cầu học nghề của xã hội, nhu cầu

nguồn nhân lực lao động của nhà sử dụng lao động… nhà trường đã làm tốt từ

khâu xây dựng kế hoạch, tổ chức chỉ đạo, triển khai thực hiện và kiểm tra

đánh giá trên tất cả các lĩnh vực hoạt động quản lý đào tạo, quản lý tuyển

sinh, quản lý tài chính, quản lý chất lượng, quản lý cơ sở vật chất, thiết bị dạy

nghề, quản lý cán bộ và giáo viên, quản lý đầu ra đối với học sinh tốt nghiệp.

2.1.2. Nhiệm vụ của nhà trường

Trường cao đẳng nghề Công nghệ và Nông lâm Phú Thọ được thành lập

theo Quyết định số 228/QĐ-LĐTBXH ngày 11/02/2010 của Bộ trưởng Bộ

Lao động - Thương binh và Xã hội. Về chức năng nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức

của trường được quy định tại Quyết định số 792/QĐ-BNN-TCCB ngày

31/3/2010 của Bộ Nông nghiệp và PTNT. Trường có nhiệm vụ:

- Đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất dịch vụ ở các trình độ

cao đẳng nghề, trung cấp nghề và sơ cấp nghề nhằm trang bị cho người học

năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khoẻ, đạo

đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, tạo điều

kiện cho họ có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ

cao hơn, đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động.

- Tổ chức xây dựng, duyệt và thực hiện chương trình đào tạo, giáo trình,

học liệu dạy nghề đối với các ngành nghề Trường được phép đào tạo.



- Xây dựng kế hoạch tuyển sinh, tổ chức tuyển sinh học nghề.

- Tổ chức các hoạt động dạy và học, thi, kiểm tra, công nhận tốt nghiệp,

cấp bằng, chứng chỉ nghề theo quy định của Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội.

- Tuyển dụng, quản lý đội ngũ giáo viên, cán bộ, nhân viên của trường đủ

về số lượng, chất lượng, cơ cấu phù hợp với ngành nghề, quy mô, trình độ

đào tạo theo quy định của pháp luật.

- Tổ chức nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học - công nghệ, chuyển

giao các tiến bộ kỹ thuật công nghệ liên quan đến nội dung đào tạo của

trường; thực hiện sản xuất, dịch vụ khoa học, công nghệ theo quy định của

pháp luật.

- Phối hợp với các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân, gia đình người học

nghề trong hoạt động dạy nghề.

- Tổ chức cho giáo viên, cán bộ, nhân viên và người học nghề tham gia

các hoạt động xã hội.

- Thực hiện dân chủ, công khai trong việc thực hiện các nhiệm vụ dạy

nghề, các hoạt động tài chính và nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ

vào dạy nghề.

- Quản lý, sử dụng đất đai, cơ sở vật chất, thiết bị và tài chính theo quy

định của pháp luật.

2.1.3. Đội ngũ giáo viên

2.1.3.1. Về số lượng

Đội ngũ giáo viên được coi là nhân tố quan trọng nhất quyết định chất

lượng đào tạo của nhà trường, do vậy việc xây dựng và phát triển ĐNGV luôn

được nhà trường coi trọng. ĐNGV của trường được xây dựng và phát triển cả

về số lượng và chất lượng: tính đến 10/2010 nhà trường có tổng số 122 cán bộ

giáo viên bao gồm: Cán bộ quản lý các phòng, khoa, đơn vị; giáo viên và

nhân viên phục vụ.

Tổng số 93 giáo viên đang tham giảng dạy tại 08 đơn vị, khoa, tổ bộ môn



trực thuộc trường, được thể hiện qua bảng 2.1

Bảng 2.1. Thống kê số lượng giáo viên theo khoa, bộ môn từ 2008 – 2010

Năm học



2008 – 2009



2009 – 2010



2010 - 2011



10



07



06



Khoa Nông lâm



18



18



20



Khoa Điện – Điện tử



05



6



08



Khoa Cơ khí – Động lực



13



15



17



Khoa Xe, máy



20



20



19



Khoa Kinh tế



0



08



10



Bộ môn Chế biến gỗ



04



04



04



Bộ môn Mác Lê Nin



0



02



02



Trung tâm Đào tạo PTNT



07



07



07



77



87



93



Đơn vị

Khoa Khoa học cơ bản ( Tổ

cơ sở )



Tổng số



(Nguồn số liệu: Phòng Đào tạo trường CĐN Công nghệ và Nông lâm Phú Thọ)



ĐNGV nhà trường hiện có là khá đa dạng về ngành nghề, được bố trí, sắp

xếp ở các khoa, bộ môn và đơn vị tham gia đào tạo.

2.1.3.2. Về chất lượng

* Trình độ chuyên môn

Trình độ chuyên môn của ĐNGV phản ánh chất lượng đội ngũ giáo viên.

Giáo viên giỏi về chuyên môn là nhân tố quyết định đến chất lượng giảng dạy

nói riêng, chất lượng đào tạo của nhà trường nói chung. Trình độ chuyên môn

được thể hiện qua hệ thống kiến thức lý thuyết và kỹ năng nghề.Vì vậy, muốn

nâng cao chất lượng đào tạo thì trước hết cần phải quan tâm đến chuẩn trình

độ chuyên môn của ĐNGV. Đào tạo bồi dưỡng là biện pháp tốt để chuẩn hóa

ĐNGV.



Đến 10/2010, tổng số 93 giáo viên. Trong đó: Thạc sĩ có 10 người

(chiếm 10,8%); Đại học 61 người (chiếm 65,6%), trong đó đang học cao học

09 người; Cao đẳng 04 người (chiếm 4,3%), trong đó đang học đại học 03

người; Trung cấp 01 người (chiếm 1,1%), trong đó đang học đại học 01người;

CNKT là 17 người (chiếm 18,3%), trong đó đang học đại học 08 người. Như

vậy, trình độ chuyên môn của ĐNGV nhà trường trong những năm qua đã

được cải thiện rõ rệt. Tuy nhiên đối chiếu với qui định thì tỷ lệ giáo viên có

trình độ sau đại học vẫn chưa đạt chuẩn qui định.

Thực trạng trình độ chuyên môn của ĐNGV trường cao đẳng nghề Công

nghệ và Nông lâm Phú Thọ từ 2008 – 2010 được thống kê ở bảng 2.2 dưới

đây:

Bảng 2.2. Thống kê trình độ chuyên môn giáo viên theo khoa, bộ môn

(Năm học 2010 – 2011)

Trình độ

Đơn vị



Tổng số

giáo viên



Thạc sĩ



Đại

học



Cao

đẳng



CNKT

Trung (thợ

cấp

bậc

cao)



Khoa Khoa học cơ bản



06



Khoa Nông lâm



20



Khoa Điện – Điện tử



08



Khoa Cơ khí – Động lực



17



Khoa Xe, máy



19



Khoa Kinh tế



10



01



09



Bộ môn Chế biến gỗ



04



01



01



Bộ môn Mác Lê Nin



02



Trung tâm Đào tạo



07



03



04



Tổng số



93



10



61



04



01



17



Tỷ lệ (%)



100



10,8



65,6



4,3



1,1



18,3



06

04



16

06

12



01



03



05



01



01



01



02



12



02



02



PTNT



(Nguồn số liệu: Phòng HC-TC trường CĐN Công nghệ và Nông lâm Phú Thọ)



Kết quả khảo sát trình độ về kỹ năng nghề năm 2010 của ĐNGV cho

thấy:

- Khối nông lâm: Tổng số 27 GV; trong đó 9 GV đạt bậc 3/6; 10 GV đạt

bậc 4/6; 8 GV đạt bậc 5/6.

- Khối cơ khí động lực: Tổng số 25 GV; trong đó 8 GV đạt bậc 3/7; 13

GV đạt bậc 4/7; và 4 GV đạt bậc 5/7.

Theo chuẩn qui định thì số giáo viên đạt chuẩn kỹ năng dạy cao đẳng

nghề còn ở mức rất thấp. Kỹ năng nghề là rất quan trọng đối với dạy nghề,

cho nên kết quả trên sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng dạy nghề của

nhà trường.

* Trình độ sư phạm

Trình độ về sư phạm của giáo viên có sự ảnh hưởng lớn đến chất lượng

giảng dạy của người thầy giáo. Người giáo viên không những chỉ giỏi về

chuyên môn mà lại còn phải có kỹ năng về giảng dạy thì việc truyền thụ kiến

thức và kỹ năng cho người học.

Thực trạng trình độ sự phạm ĐNGV nhà trường từ 2008 – 2010 được

thống kê như bảng 2.3.

Bảng 2.3. Thống kê trình độ sư phạm của giáo viên từ 2008 – 2010

Năm học

Trình độ

Chuyên ngành sư phạm (ĐH,



2008 – 2009



2009 – 2010 2010 - 2011



13



15



14



37



41



79



Sư phạm bậc 1



21



23



Chưa có nghiệp vụ sư phạm



06



08



77



87



CĐ, SPKT)

Sư phạm bậc 2 (sư phạm

nghề)



Cộng



93



(Nguồn số liệu: Phòng Đào tạo trường CĐN Công nghệ và Nông lâm Phú Thọ)



Sau 2 năm thực hiện, đến nay 100% ĐNGV nhà trường đều đạt chuẩn về

trình độ sư phạm theo quy định của Nhà nước về dạy nghề. Nhưng đây chưa

phải là điều kiện đủ, mới chỉ là điều kiện cần. Để chất lượng giảng dạy của

giáo viên được nâng cao, đồng nghĩa là chất lượng đào tạo của nhà trường

được nâng lên thì việc bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm và kinh nghiệm thực tế

trong giảng dạy đối với ĐNGV cần phải được duy trì thường xuyên, liên tục,

nhất là ĐNGV trẻ, giáo viên mới được tuyển dụng.

Mặc dù trình độ sư phạm ĐNGV ở các khoa, bộ môn cơ bản đã đảm bảo

đủ tiêu chuẩn theo qui định của giáo viên dạy nghề. Tuy nhiên, sự phân bổ

đồng đều về năng lực thực tế giữa các đơn vị còn chưa cân đối, một số giáo

viên mới vào nghề, nhất là những nghề mới mở còn thiếu kinh nghiệm thực

tế, sự tiếp cận với tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới còn hạn chế,

việc vận dụng các phương pháp vào dạy học còn thụ động, đối với người học

lại không đồng đều về trình độ và nhận thức dẫn đến chất lượng giảng dạy của

một bộ phận giáo viên còn bất cập, phần nào còn ảnh hưởng đến chất lượng

đào tạo của nhà trường. Đây là vấn đề mà nhà trường cần phải quan tâm và có

những biện pháp cụ thể để cải thiện tình hình tồn tại trên. Chỉ khi nào giải

quyết được yếu kém đó thì mới nói đến chất lượng đào tạo được nâng lên.

*Trình độ tin học

Với sự phát triển của khoa học và công nghệ hiện nay thì việc vận dụng

kiến thức, kỹ năng tin học vào giảng dạy hết sức có ý nghĩa, giúp giáo viên và

học sinh khai thác thông tin được thuận tiện và đầy đủ hơn, sử dụng các

phương tiện, thiết bị trong quá trình dạy và học được tốt hơn.

Từ thực tế trên, trong những năm qua nhà trường đã luôn coi trong việc

ứng dụng tin học vào giảng dạy và có kế hoạch bồi dưỡng cho ĐNGV về tin

học được thường xuyên và đầy đủ hơn. Thực trạng trình độ tin học ĐNGV

nhà trường từ 2008 – 2010 được thống kê ở bảng 2.4 dưới đây:



Bảng 2.4. Thống kê trình độ tin học của giáo viên từ 2008 – 2010

Năm học



2008 – 2009



2009 – 2010



2010 - 2011



Chuyên ngành tin (ĐH, CĐ)



01



01



01



Trình độ C



03



05



05



Trình độ B



43



49



50



Trình độ A



21



27



36



Chưa có trình độ



09



05



01



77



87



93



Trình độ



Cộng



(Nguồn số liệu: Phòng HC-TC trường CĐN Công nghệ và Nông lâm Phú Thọ)



Từ bảng thống kê (2.4) trình độ tin học ĐNGV nhà trường từ 2008-2010

cho thấy:

- Năm 2008, tổng số 77 giáo viên. Trong đó: Trình độ Đại học có 01

người (chiếm 1,3%); Trình độ C có 03 người (chiếm 3,9%); Trình độ B có 43

người (chiếm 55,8%); Trình độ A có 21 người (chiếm 27,3%); Chưa có trình

độ 09 người (chiếm 11,6%).

- Đến 10/2010, tổng số 93 giáo viên. Trong đó: Trình độ Đại học có 01

người (chiếm 1,1%); Trình độ C có 05 người (chiếm 5,4%); Trình độ B có 50

người (chiếm 54,8%); Trình độ A có 36 người (chiếm 38,7%); Chưa có trình

độ 01 người (chiếm 1,1%).

Sau 2 năm bồi dưỡng thì đến nay cơ bản ĐNGV nhà trường đều có trình

độ tin học từ A trở lên, trừ 01 giáo viên do tuổi đã cao, sắp nghỉ hưu nên

không tham gia. Đối chiếu với chuẩn qui định thì cơ bản ĐNGV đều đạt, song

việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học là không đồng đều và còn khó

khăn do điều kiện trang bị thiết bị còn chưa đầy đủ và đồng bộ.

2.1.4. Về tình hình cơ sở vật chất của trường

2.1.4.1.Về cơ sở vật chất trường học/ Cơ sở vật chất sư phạm

Hiện nay Trường được Nhà nước giao quyền sử dụng lâu dài 338,2 ha

đất. Trong đó cơ sở chính tại xã Hà Lộc, Thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ có



diện tích đất sử dụng 5,7ha; Trung tâm đào tạo phát triển nông thôn tại xã Phù

Ninh, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ có diện tích 17,8 ha đất, Trại thực

nghiệm lâm sinh tại xã Quế Lâm, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ có diện

tích 314,7 ha đất rừng.

+ Diện tích xây dựng:

Diện tích xây dựng 26.750m2. Các công trình xây dựng cơ bản được xây

dựng từ những năm 1995 - 2001 cho đến nay đã được nâng cấp và cải tạo lại.

Nhà trường hiện có 2534 m2 phòng học; 3.184 m2 xưởng thực hành thực tập;

3.600 m2 ký túc xá; 150 m2 thư viện; 13000 m2 vườn ươm; 600 m2 nhà làm

việc, trong đó:

Phòng học lý thuyết : 32 phòng tổng số 2534 m2

+ Xưởng, phòng thực hành: 5 nhà xưởng Tổng số diện tích là 3.814 m2

Dành cho các nghề Công nghệ ô tô , Cơ điện, Nông lâm, Mộc dân dụng, Lâm

sinh.

+ Khu sân bãi thực hành giáo dục thể chất:

- Sân bóng đá, sân thể dục dụng cụ, cầu lông: 11.600 m2

+ Thư viện: Diện tích 150 m2; ngoài tài liệu giảng dạy còn có 12.000 đầu

sách.

+ Ký túc xá: Nhà trường có 03 nhà KTX, diện tích 3.600 m2 với 94

phòng khép kín.

- Nhà ăn diện tích 730 m2 kiên cố, đủ chỗ ăn cho 1.400 HS.

- Trạm y tế được xây dựng năm 2004 diện tích 48 m2

2.1.4.2.Về thiết bị dạy học

Trong 3 năm gần đây nhà trường đã đầu tư có tính đột phá cho các nghề

mũi nhọn để chuẩn bị đào tạo cao đẳng nghề như nghề Lâm sinh ( Công

nghệ sinh học), Điện Công nghiệp, Hàn, Công nghệ ô tô. Các trang thiết bị

được đảm bảo đủ về chủng loại, đặc biệt là mang tính hiện đại về kỹ thuật.

Thiết bị dạy học đã được đầu tư theo nguồn mục tiêu chương trình hàng

năm của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, nguồn của Chương trình



Voctech và nguồn vốn tự có của trường tính đến tháng 12 năm 2010 đáp ứng

được công tác đào tạo cho các nghề của trường hiện nay qua bảng thống kê

dưới đây:

Bảng 2.5. Thống kê TBDH của trường (Tại thời điểm 6/ 2011)

CSVC – TBDH hiện đại



Đơn vị tính



Số lượng

Phòng

Máy



Phòng học ĐPT



Phòng



0



0



Phòng máy vi tính



Phòng



2



45



Phòng thư viện điện tử



Phòng



0



Phòng truy cập Internet cho GV



Phòng



1



Bảng kỹ thuật số



Chiếc



0



Máy chiếu đa năng



Chiếc



06



Đài Cassette



Chiếc



2



2



Máy quét ảnh – Scaner

Máy ảnh kỹ thuật số



Chiếc



0



03



Chiếc



0



04



Máy quay phim kỹ thuật số



Chiếc



01



Máy tính xách tay (Laptop)



Chiếc



20



Đường truyền Internet



Đường



1



Bộ



02



SONY



Tăng âm, loa



Qua bảng thống kê cho thấy Trường đã đầu tư phòng máy vi tính. Tuy

nhiên so với nhu cầu thực tế để tạo điều kiện cho GV chủ động giảng dạy ứng

dụng CNTT trong dạy học thì rõ ràng chưa đáp ứng được. Trường chưa có

phòng học ĐPT, phòng thư viện điện tử . Vì vậy giáo viên còn gặp nhiều khó

khăn trong những giờ dạy có ứng dụng CNTT.

Năm học 2008 – 2009 với chủ đề ứng dụng CNTT trong dạy học thì

trường đã được đầu tư thêm máy móc, TBDH, nhưng mới chỉ được trang bị



thêm máy tính, máy Cassette. Số lớn GV chưa có máy tính riêng để nghiên

cứu, thiết kế GADHTC có ứng dụng CNTT và truy cập mạng phục vụ tra cứu

thông tin, tải dữ liệu, tham khảo các trang giáo dục, các bài giảng mẫu của các

đồng nghiệp trong cả nước.

Nhìn chung các TBDH hiện đại, đặc biệt là số lượng máy tính, số

lượng máy chiếu đa năng trường đã có nhưng số lượng còn ít chưa đáp

ứng được nhu cầu sử dụng trong dạy học của các khoa trong trường.

Cho nên đã dẫn đến thực trạng tỉ lệ các giờ dạy có ứng dụng CNTT ở

các khoa trong trường còn thấp. Điều này được thể hiện quá mức độ ứng

dụng CNTT trong dạy học của GV trong trường

2.1.5. Thực trạng dạy học ở trường

Kể từ năm 2007 khi nhà trường đào tạo nghề trình độ trung cấp quy mô

tuyển sinh tăng dần, riêng tuyển mới được 527 học sinh, năm 2008 được 625

học sinh, năm 2010 được 736 học sinh. Như vậy, nhu cầu học sinh học nghề

trình độ trung cấp trong 3 năm qua liên tục tăng. Quy mô đào tạo trung cấp

nghề năm 2010 là 1350 học sinh, tăng 11,3% so với năm 2006. Về trình độ

tay nghề, kiến thức, kỹ năng của học sinh được nâng lên. Học sinh tốt nghiệp

ra trường được các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất chấp nhận, tỷ lệ học sinh

có việc làm sau tốt nghiệp đạt trên 85%.

Tính đến hết năm 2010, Trường đã đào tạo được 34.831 học viên. Trong

đó: 592 trung cấp nghề, 16.107 công nhân kỹ thuật dài hạn, 18.132 lượt học

viên ngắn hạn và bồi dưỡng thường xuyên. Liên kết đào tạo 3.827 trung cấp

kỹ thuật và đại học. Số học sinh được đào tạo đã trở thành những công nhân,

cán bộ kỹ thuật, một số là những nhà quản lý, chủ trang trại của nhiều cơ sở

sản xuất tại các địa phương, góp phần cung cấp có hiệu quả nguồn nhân lực

cho sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn các tỉnh trung du miền núi

Bắc Bộ.

Qua thực tế khi đi kiểm tra và nghe lãnh đạo của các khoa, bộ môn báo

cáo về tình hình bài soạn của giáo viên tác giả nhận thấy:



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (137 trang)

×