1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN THEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.61 MB, 125 trang )


vào quản lý đội ngũ giáo viên, đặc biệt là đội ngũ giáo viên THPT Trường

THPT Việt Bắc, Lạng Sơn.

Tiếp thu, kế thừa những thành tựu đã có, chúng tôi tiến hành nghiên

cứu đề tài “Quản lý đội ngũ giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp ở trường

trung học phổ thông Việt Bắc, tỉnh Lạng Sơn”. Đề tài này tiếp tục nghiên cứu

cơ sở lý luận, đánh giá được thực trạng đội ngũ giáo viên hiện nay của nhà

trường mà tác giả đang công tác, đưa ra các biện pháp thiết thực, khả thi

nhằm quản lý đội ngũ giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp quy định tại Thông

tư 30/2009/TT-BGDĐT ngày 22/10/2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào

tạo, chắc chắn đó là những động lực quyết định thực hiện thắng lợi các mục

tiêu của nhà trường, góp phần tích cực vào sự nghiệp giáo dục và đào tạo của

tỉnh Lạng Sơn.

1.2. Một số khái niệm cơ bản



1.2.1. Khái niệm về quản lý

Khi xã hội loài người xuất hiện, một loạt các quan hệ như quan hệ

giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên, giữa con người

với xã hội và cả quan hệ giữa con người với chính bản thân mình xuất hiện

theo. Điều này đã làm nảy sinh nhu cầu về quản lý. Ngày nay quản lý đã trở

thành một nhân tố của sự phát triển xã hội. Yếu tố quản lý tham gia vào mọi

lĩnh vực trên nhiều cấp độ và liên quan đến mọi người.

Theo từ điển Tiếng Việt: thuật ngữ “Quản lý” được xác định là:

“Trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định” [40, tr 329].

Theo quan điểm kinh tế, F.Taylor (1856-1915) cho rằng: “Quản lý là

cải tạo mối quan hệ giữa người với người, giữa người với máy móc, và quản

lý là nghệ thuật rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng

phương pháp tốt nhất và rẻ nhất” [36, tr.327].

Với quan điểm chính trị xã hội, theo tác giả Nguyễn Minh Đạo: “Quản

lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể (người quản



6



lý, tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về mặt chính trị, văn

hóa, xã hội, kinh tế… bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các

nguyên tắc, các phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và

điều kiện cho sự phát triển của đối tượng”.

Theo quan điểm Hệ thống thì “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có

định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu

quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đã đặt

ra trong điều kiện biến đổi của môi trường.” [18, tr.43].

Theo tập thể tác giả: Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị

Mỹ Lộc, Nguyễn Quang Kính và Phạm Đỗ Nhật Tiến thì định nghĩa kinh

điển và đơn giản nhất là: “Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích

của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý)

trong một tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích

của tổ chức” [5, tr.17].

Như vậy, theo quan điểm kinh tế, quản lý luôn chú ý đến vận hành,

hiệu quả kinh tế, phát triển sản xuất và sự tác động qua lại giữa các lực lượng

sản xuất. Theo quan điểm chính trị xã hội thì quản lý nhằm tạo ra môi trường

và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng. Theo quan điểm hệ thống và các

tác giả đã nêu trên, quản lý chú ý đến mục đích của chủ thể quản lý và mục

tiêu của tổ chức.

Chúng ta có thể thấy được bản chất của hoạt động quản lý là cách thức

tác động (tổ chức và điều khiển) hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách

thể quản lý bằng các chức năng quản lý nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu

của tổ chức (đơn vị) đã đề ra.

Các yếu tố của quản lý là chủ thể quản lý, khách thể quản lý và

mối liên hệ giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý bằng các chức

năng quản lý.



7



Chức năng quản lý là những nội dung, những phương thức hoạt động

cơ bản, nhờ đó chủ thể tác động lên đối tượng quản lý trong quá trình quản lý

nhằm thực hiện mục tiêu quản lý.

Có 4 chức năng cơ bản của quản lý, đó là:

+ Kế hoạch hóa

+ Tổ chức

+ Chỉ đạo thực hiện

+ Kiểm tra, đánh giá.

Và một chức năng trung tâm : thông tin quản lý.

Quá trình quản lý là thực hiện các chức năng quản lý, các chức năng này

có mối quan hệ qua lại hợp thành chu trình quản lý, được mô tả bởi sơ đồ sau:

Sơ đồ 1.1: Các chức năng và chu trình quản lý

Kế hoạch hóa



Kiểm tra,

đánh giá



Thông tin

quản lý



Tổ chức



Chỉ đạo



- Lập kế hoạch: Là quá trình thiết lập các mục tiêu, hệ thống các hoạt

động và điều kiện đảm bảo thực hiện các mục tiêu. Kế hoạch là nền tảng của

quản lý.

- Tổ chức: Là quá trình sắp xếp và phân bổ công việc, phân bổ quyền

hành và các nguồn lực cho các thành viên trong tổ chức.

- Chỉ đạo: Là điều hành, chỉ dẫn, đôn đốc, giám sát, điều khiển, điều

chỉnh đối tượng quản lý hoạt động đúng kế hoạch.



8



- Kiểm tra, đánh giá: Là hoạt động của người quản lý kiểm tra và đánh

giá các hoạt động của đơn vị về việc thực hiện mục tiêu đặt ra.



1.2.2. Khái niệm quản lý giáo dục và quản lý nhà trƣờng

Theo tác giả Nguyễn Minh Đường: Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng

quan “Là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh

công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội” [24].

Ngày nay với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo

dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người, tuy nhiên trọng tâm

vẫn là giáo dục thế hệ trẻ cho nên quản lý giáo dục được hiểu là sự điều hành

hệ thống giáo dục quốc dân. Ta có thể hiểu: Quản lý giáo dục là hệ thống tác

động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm

cho hệ thống vận hành theo đường lối giáo dục và nguyên lý của Đảng, thực

hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu

điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục

tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất.

Giáo dục là một bộ phận của xã hội, nên QLGD là một loại hình quản

lý xã hội. Quản lý xã hội là tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách

thể quản lý trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật khách quan của

đối tượng nhằm đảm bảo cho nó vận động và phát triển hợp lý để đạt mục

tiêu đã định.

Hiện nay, ở nước ta các nhà nghiên cứu lý luận giáo dục cho rằng:

QLGD là sự tác động có ý thức, có mục đích của chủ thể quản lý tới khách

thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết

quả mong muốn một cách có hiệu quả nhất.

QLGD còn được hiểu một cách cụ thể là quản lý một hệ thống giáo dục,

một trường học, một cơ sở giáo dục hay trung tâm hướng nghiệp dạy nghề …

Vì vậy, “Quản lý giáo dục, quản lý trường học là một chuỗi tác động hợp

lý (có mục đích, có hệ thống, có kế hoạch) mang tính chất tổ chức sư phạm của

chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên và học sinh, đến những lực lượng giáo dục

9



trong và ngoài trường nhằm huy động họ cộng tác, phối hợp tham gia một cách

tối ưu tới việc hoàn thành các mục tiêu giáo dục” [24].

Trường học là một tổ chức GD cơ sở của hệ thống GD quốc dân, trực

tiếp làm công tác giáo dục đào tạo thế hệ trẻ và các lực lượng lao động.

Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối

giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà

trường vận hành theo nguyên lý GD để tiến tới mục tiêu GD, mục tiêu đào

tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh” [38 , tr.29].

Hoạt động dạy và học là hoạt động trung tâm của nhà trường, tất cả các

hoạt động khác trong nhà trường đều hướng vào hoạt động trung tâm này. Vì

vậy quản lý trường học nói chung và quản lý trường THPT nói riêng là quản

lý hoạt động dạy và học tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này

sang trạng thái khác để dần dần tiến tới mục tiêu giáo dục.

QLGD trong nhà trường về cơ bản là quản lý các thành tố tham gia quá

trình giáo dục bao gồm: Mục tiêu giáo dục (M); Nội dung giáo dục (N);

Phương pháp giáo dục (P); Thầy giáo (Th); Người học - Trò (Tr) và Điều

kiện, phương tiện dạy học (ĐK). Quá trình này được vận hành đồng bộ trong

sự kết hợp chặt chẽ giữa các thành tố trên, có thể mô tả theo sơ đồ sau:

Sơ đồ 1.2: Quản lý các thành tố tham gia quá trình giáo dục

M: Mục tiêu GD



M



N: Nội dung GD

P: Phương pháp GD



Tr



Th



Th: Giáo viên

Tr: Học sinh



QL



QL: Quản lý

P



N



ĐK: Điều kiện



ĐK



Người quản lý nhà trường có nhiệm vụ làm cho các thành tố trên vận

10



hành, liên kết chặt chẽ với nhau, phải có phương pháp tổ chức, quản lý, có

biện pháp cụ thể tác động vào từng thành tố để quá trình quản lý đạt chất

lượng và hiệu quả mong muốn. Biện pháp quản lý là sự tác động, chỉ huy,

điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để phát

triển hợp với quy luật, đạt mục đích đề ra và đúng với ý chỉ của người quản

lý. Trong các thành tố trên, thành tố Thầy (Th) và Trò (Tr) (là những yếu tố

con người) phải được nhận thức là những thành tố quyết định nhất đến kết

quả giáo dục và đào tạo.

Quản lý trường THPT là quá trình tác động có mục đích có kế hoạch

của chủ thể quản lý (Hiệu trưởng) đến tập thể cán bộ, giáo viên để chính họ tác

động trực tiếp đến quá trình giáo dục học sinh nhằm thực hiện mục tiêu giáo

dục đối với từng độ tuổi và mục tiêu chung của bậc học.



1.2.3. Biện pháp và biện pháp quản lý

1.2.3.1. Biện pháp

Có nhiều định nghĩa khác nhau về biện pháp, nhưng nói chung biện

pháp được hiểu “là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể” [40].

Trong giáo dục, người ta thường quan niệm biện pháp là yếu tố hợp

thành của phương pháp, phụ thuộc vào phương pháp. Trong từng tình huống

sư phạm cụ thể, phương pháp và biện pháp giáo dục cụ thể có thể chuyển hóa

lẫn nhau. Điều này có nghĩa là: Một phương pháp nào đó bao giờ cũng có thể

và cần được thực hiện bằng những hành động khác nhau của GV và của HS,

theo những cách khác nhau nhưng đều có chung một chức năng và một mục

đích. Mỗi hành động như vậy là một biện pháp GD. Tùy theo từng tình huống

cụ thể trong từng quá trình GD cụ thể mà việc sử dụng PPGD nào đó sẽ được

nhà GD tiến hành bằng cách thực hiện một hay nhiều biện pháp nào đó. Ví dụ:

phương pháp khen thưởng chẳng hạn, có thể thực hiện bằng biện pháp biểu

dương trước tập thể hoặc bằng biện pháp tặng giấy khen của Ban giám hiệu.

Như thế, mỗi biện pháp GD là biểu hiện cụ thể và có tính chất bộ phận

của một PPGD, nằm trong phương pháp đó và thuộc về phương pháp đó. So

11



với phương pháp, biện pháp bao giờ cũng có tính chất cụ thể hơn, nó được

sáng tạo ra và đúc kết lại từ trong thực tiễn GD và trong tổng kết kinh nghiệm

tiên tiến của các nhà GD. Còn phương pháp so với biện pháp có tính chất

khái quát hơn, nó là kết quả của sự khái quát hóa và hệ thống hóa các biện

pháp đã có. Nói như thế không có nghĩa là biện pháp bao giờ cũng có trước

phương pháp, trái lại trên cơ sở một phương pháp đã được hình thành và

những biện pháp đã có của nó, nhưng biện pháp mới thuộc về những phương

pháp đó vẫn được các nhà giáo dục tiếp tục sáng tạo ra và làm giàu thêm một

số biện pháp trong một phương pháp, tất nhiên cũng có một số biện pháp mới

nào đó được tạo ra, nhưng đồng thời đó cũng là sự ra đời của một phương

pháp mới.

1.2.3.2. Biện pháp quản lý

Biện pháp quản lý là cách tác động của chủ thể quản lý lên khách thể

(đối tượng) quản lý (bằng các chức năng quản lý) để giải quyết một vấn đề và

để đạt mục đích đề ra.

Các biện pháp quản lý cơ bản của Nhà trường được thể hiện cụ thể ở

trong kế hoạch thực hiện nhiệm vụ năm học. Đồng thời cũng được thể ở kế

hoạch chỉ đạo, quản lý của hiệu trưởng trong từng tuần, từng học kỳ và cả

năm học.



1.2.4. Quản lý đội ngũ giáo viên

1.2.4.1. Khái niệm đội ngũ

Từ điển Tiếng Việt có ghi: “Đội ngũ là khối đông người cùng chức

năng nghề nghiệp được tập hợp và tổ chức thành một lực lượng”. Khái niệm

đội ngũ dùng cho các tổ chức trong xã hội như đội ngũ tri thức, đội ngũ công

chức viên chức… thực chất đó là một nhóm người được tổ chức và tập hợp

thành một lực lượng để thực hiện một hay nhiều chức năng, có thể có cùng

nghề nghiệp hoặc không cùng nghề nghiệp nhưng có lý tưởng, có mục đích

chung hoạt động trong một tổ chức.



12



Theo khái niệm trên, những người cùng đội ngũ tạo thành một lực

lượng có thể tạo nên một tác động nhất định. Như vậy, đội ngũ có tổ chức là

một hệ thống được cấu thành bởi các thành tố:

- Một tập thể người;

- Cùng chung một chức năng;

- Có cùng mục đích;

- Làm theo kế hoạch;

- Gắn bó với nhau về quyền lợi.

Khi xem xét một đội ngũ, thông thường người ta quan tâm đến 3 yếu tố

cơ bản, đó là:

- Số lượng đội ngũ;

- Trình độ: Bao gồm phẩm chất và năng lực;

- Cơ cấu đội ngũ: bao gồm giới tính, độ tuổi, chuyên môn.

Đội ngũ của một tổ chức chính là nguồn lực của tổ chức đó. Vì vậy, các

đặc trưng về phát triển đội ngũ gắn liền với những đặc trưng phát triển tổ

chức nói chung và đặc trưng công tác cán bộ nói riêng.

1.2.4.2. Đội ngũ giáo viên

Khái niệm giáo viên đã được định nghĩa trong Điều 70- Luật Giáo dục:

"Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ sở

giáo dục khác. Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ

thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên"[33].

Theo Điều lệ Trường trung học, giáo viên trường trung học là người

làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường.

Đội ngũ giáo viên là nhân tố quan trọng của phát triển giáo dục - đào

tạo, thông qua hoạt động giảng dạy - giáo dục và các hoạt động khác trong và

ngoài nhà trường, đội ngũ giáo viên là người hằng ngày trực tiếp thực hiện

các mục tiêu chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo của hệ thống giáo dục

quốc dân.



13



Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh tầm quan trọng của đội ngũ giáo

viên: "Nếu không có thầy giáo thì không có giáo dục". Người cũng chỉ rõ vai

trò của nghề sư phạm: "Có gì vẻ vang hơn là đào tạo những thế hệ trẻ sau này

tích cực góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản". Giáo viên

chính là người thực hiện mục tiêu cơ bản của giáo dục và đào tạo nhằm xây

dựng con người thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã

hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Quan niệm mới về vai trò của giáo viên và về quan hệ giáo viên - học

sinh đã được thể chế hoá rất rõ trong Luật Giáo dục. Đây là quan điểm đổi

mới của Đảng và Nhà nước ta, cũng như trong ngành giáo dục và đào tạo và

đang có xu hướng phát triển nhanh, mạnh hơn. Nhiệm vụ của giáo viên ngày

nay là giúp cho người học tự học, tự xây dựng lấy phẩm chất và năng lực của

mình dưới sự tổ chức hướng dẫn tạo điều kiện và đánh giá của giáo viên.

Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng của giáo dục và được xã hội

tôn vinh. Tinh thần này chỉ được thể hiện đầy đủ trong quan niệm mới về

nhiệm vụ của giáo viên. Từ đó yêu cầu đội ngũ giáo viên phải tự nâng cao

trình độ lên ngang tầm với yêu cầu đổi mới giáo dục, phục vụ công nghiệp

hoá, hiện đại hoá đất nước.

Theo Virgil Rowland: “Đội ngũ giáo viên là những chuyên gia trong

lĩnh vực giáo dục, họ nắm vững tri thức và hiểu biết dạy học và giáo dục như

thế nào và có khả năng cống hiến toàn bộ tài năng và sức lực của họ cho giáo

dục“ Đội ngũ giáo viên là một tập hợp những giáo viên được tổ chức thành

một lực lượng, cùng chung nhiệm vụ là thực hiện các mục tiêu giáo dục đã

đặt ra cho tổ chức đó.

Đội ngũ giáo viên trường THPT là những người có bằng tốt nghiệp

đại học sư phạm hoặc có bằng tốt nghiệp đại học và có chứng chỉ bồi dưỡng

nghiệp vụ sư phạm theo đúng chuyên ngành tại các khoa, trường Đại học Sư

phạm và có thể có trình độ sau đại học.



14



Ngày nay ĐNGV được hiểu cụ thể hơn, đó là: “Tập thể những người

đảm nhiệm công tác giáo dục và dạy học, có đủ tiêu chuẩn đạo đức, chuyên

môn và nghiệp vụ quy định. Đây là lực lượng quyết định hoạt động giáo dục

của nhà trường, cho nên cần được đặc biệt quan tâm xây dựng mọi mặt, phải

có đủ số lượng phù hợp với cơ cấu giảng dạy của các bộ môn, phải đảm bảo

tỷ lệ cân đối giữa nam, nữ, giữa lớp già và lớp trẻ”.

ĐNGV mạnh là đội ngũ có đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu và có

trình độ cao về chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng được nhiệm vụ, đáp ứng đổi

mới giáo dục.

Để có ĐNGV mạnh về chuyên môn nghiệp vụ, biện pháp tốt nhất là

đẩy mạnh công tác ĐT-BD cùng với chính sách, chế độ thỏa đáng thì mỗi

GV mới phát huy được hết tiềm năng và nhiệt tình của họ cho sự nghiệp GD.

1.2.4.3. Nội dung quản lý đội ngũ giáo viên

Theo W. L. French định nghĩa: "Quản trị tài nguyên nhân sự (quản

lý phát triển- tài nguyên nhân sự) là việc tuyển mộ, tuyển chọn, duy trì,

phát triển, sử dụng động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tài nguyên

nhân sự thông qua tổ chức, nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức".

Như vậy, quản lý đội ngũ giáo viên tức là quản lý phát triển nhân sự

mà ở đó xảy ra quá trình tác động có mục đích của chủ thể quản lý tới

người lao động như tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, đánh giá

năng lực thực hiện và đãi ngộ nhằm đạt được mục đích phát triển nhân sự

của tổ chức.

Với quan niệm về quản lý đội ngũ giáo viên như trên, và theo nghiên

cứu của Fred C. Lunenburg và Allan C. Ornstein (Mỹ) trong quá trình

quản lý nhà trường, chúng ta có thể chỉ ra các bước trong quá trình quản lý

đội ngũ giáo viên: Hoạch định nguồn nhân lực, tuyển chọn, lựa chọn và sử

dụng, đào tạo và phát triển, đánh giá thực hiện và đãi ngộ.

Theo Luật Viên chức, giáo viên trong các trường công lập được gọi là

viên chức: “Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc

15



làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc,

hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của

pháp luật”[34].

Việc quản lý giáo viên trong các trường công lập là quản lý viên chức.

Nội dung quản lý viên chức bao gồm:

a) Xây dựng vị trí việc làm;

b) Tuyển dụng viên chức;

c) Ký hợp đồng làm việc;

d) Bổ nhiệm, thay đổi chức danh nghề nghiệp;

đ) Thay đổi vị trí việc làm, biệt phái, chấm dứt hợp đồng làm việc, giải

quyết chế độ thôi việc;

e) Bổ nhiệm, miễn nhiệm viên chức quản lý; sắp xếp, bố trí và sử dụng

viên chức theo nhu cầu công việc;

g) Thực hiện việc đánh giá, khen thưởng, kỷ luật viên chức;

h) Thực hiện chế độ tiền lương, các chính sách đãi ngộ, chế độ đào tạo,

bồi dưỡng viên chức;

i) Lập, quản lý hồ sơ viên chức; thực hiện chế độ báo cáo về quản lý

viên chức thuộc phạm vi quản lý.[34]

* Hoạch định nguồn nhân lực

Hoạch định nguồn nhân lực là nội dung chủ yếu của hoạch định tài

nguyên nhân sự. Có nhiều định nghĩa khác nhau về hoạch định tài nguyên

nhân sự. Tuy nhiên, tất cả đều có một điểm chung là hoạch định nguồn

nhân lực liên quan đến xác định nhu cầu nhân lực, dự báo nhân lực hiện có

và xác định những bổ sung thay thế để duy trì đội ngũ cả về chất và lượng

nhằm đáp ứng nhiệm vụ của tổ chức và vấn đề ra các kế hoạch cụ thể để

có nguồn tài nguyên nhân sự đó.

Theo các nghiên cứu của Fred C. Lunenburg và Allan C. Ornstein:

Hoạch định nguồn nhân lực tốt liên quan đến đáp ứng nhu cầu nhân sự

hiện tại và tương lai. Trong công tác quản lý nhà trường, để đảm bảo

16



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (125 trang)

×