1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN THEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG VIỆT BẮC, TỈNH LẠNG SƠN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.61 MB, 125 trang )


Trên địa bàn thành phố Lạng Sơn có các cộng đồng dân tộc Kinh, Tày,

Nùng, Hoa, Cao Lan, Dao, Sán Dìu, Sán Chỉ, Ngái... sinh sống với những

truyền thống văn hoá độc đáo, là điều kiện thuận lợi để thu hút khách thăm

quan du lịch trong và ngoài nước đến với thành phố Lạng Sơn.

Tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao, năm 2009 đạt 15,5%. Trong đó,

thương mại - dịch vụ tăng 17,85%, công nghiệp xây dựng tăng 11,24%, nông

– lâm nghiệp tăng 3,21%. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo chiều hướng tích

cực: nông – lâm nghiệp chỉ chiếm 3,45%, công nghiêp – xây dựng chiếm

25,79%, còn lĩnh vực dịch vụ chiếm đến 70,76%.

Hoạt động thương mại- du lịch - dịch vụ trong nhiều năm qua diễn ra

sôi động, đạt mức tăng trưởng khá. Mạng lưới chợ hạot động ổn định, sức

mua khá, tổng mức lưu chuyển hàng hoá 6 tháng đầu năm 2009 đạt 1114 tỉ

đồng tăng 24,53% so với cùng kỳ năm 2008. Ngoài ra, doanh thu du lịch trên

địa bàn đạt 500 tỉ đồng, tăng 88,84% so với năm trước.

Bên cạnh đó, giá trị sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp – xây dựng

tăng thêm. Hoạt động sản xuất công nghiệp ổn định về quy mô, số cơ sở sản

xuất, sản lượng, sản phẩm chủ yếu phục vụ nhu cầu tiêu dùng trên địa bàn.

2.1.1.3. Giáo dục

- Về quy mô:



Bảng 2.1: Số liệu về giáo dục của thành phố Lạng Sơn năm 2009

Bậc học



Số trƣờng



Số lớp



Số GV



Số HS



GV/HS



Mầm non



12



127



304



4340



0,07



Tiểu học



9



210



309



6423



0,05



THCS



8



153



346



5247



0.07



THPT



4



97



243



3878



0,06



(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Lạng Sơn năm 2009)

- Về chất lượng giáo dục:

Chất lượng giáo dục Tiểu học, THCS, THPT được nâng lên, số HSG

cấp huyện, cấp tỉnh được giữ vững. Bồi dưỡng HSG, phụ đạo giúp đỡ HS yếu



30



kém được quan tâm chỉ đạo và thực hiện có hiệu quả. Kết quả phổ cập giáo

dục tiểu học - chống mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập

giáo dục THCS được giữ vững.

Tuy nhiên chất lượng giáo dục chưa đồng đều giữa các trường, các

phường xã trên địa bàn thành phố. Số HS tốt nghiệp THPT thi đỗ vào các

trường đại học và cao đẳng hàng năm còn hạn chế [31].



2.1.2. Sơ lƣợc sự hình thành và phát triển của trƣờng THPT Việt Bắc

Trường THPT Việt Bắc được thành lập ngày 29 tháng 5 năm 1947 tại

Phia Tráng tỉnh Cao Bằng. Trải qua các thời kỳ kháng chiến, nhà trường đã

phải di chuyển địa điểm nhiều lần. Từ năm 1979 đến nay, trường được đặt tại

số 72 đường Phai Vệ - Phường Đông Kinh - TP Lạng Sơn - Tỉnh Lạng Sơn.

Ngày đầu thành lập, trường chỉ có 60 HS và 5 thầy cô giáo. Trải qua

63 năm xây dựng và phát triển, trường đã đạt được nhiều thành tích trên các

mặt hoạt động, góp phần đào tạo hàng vạn người lao động có trình độ, hàng

ngàn CB có trình độ Cao đẳng, Đại học, trên đại học.

Thực hiện cuộc vận động Hai không với bốn nội dung, cuộc vận động

"Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" gắn với vận động

“Mỗi thầy giáo, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”,

phong trào "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực", thực hiện

chủ đề năm học "Tăng cường ứng dụng CNTT, đổi mới quản lý và nâng cao

chất lượng giáo dục toàn diện", trước yêu cầu bức thiết của việc nâng cao

trình độ tin học, ứng dụng CNTT vào quản lý, soạn giảng, toàn thể CB quản

lý và GV đã tích cực học tập, nâng cao trình độ chuyên môn và khả năng ứng

dụng CNTT.

Với sự quan tâm của các cấp và sự nỗ lực của đội ngũ CB quản lý và

CBGV nhà trường, chất lượng GD toàn diện liên tục tăng, nhất là trong 10

năm trở lại đây: tỷ lệ HS đỗ tốt nghiệp luôn đạt trên 90%, tỷ lệ thi đỗ vào các

trường Cao đẳng, Đại học đạt từ 30- 40%. Từ năm 1997 đến năm 2010,

trường THPT Việt Bắc liên tục đạt danh hiệu trường tiên tiến xuất sắc cấp

31



tỉnh. Ngoài nhiệm vụ trọng tâm là dạy học những môn văn hóa cơ bản, công

tác GD hướng nghiệp, dạy nghề phổ thông được quan tâm đúng mức, các

phong trào văn hóa, văn nghệ thể thao cũng được quan tâm đẩy mạnh, nhà

trường thường xuyên tổ chức các hoạt động đa dạng, phong phú, bổ ích cho

HS góp phần đẩy lùi tiêu cực, tệ nạn xã hội. Với những thành tích đã đạt

được, nhà trường vinh dự được đón nhận những phần thưởng cao quý:

- Năm 1951: Được Bác Hồ gửi thư khen ngợi

- Năm 1958: Được UBHC khu Việt Bắc tặng Bằng khen

- Năm 1990: Được nhà nước tặng Huân chương lao động hạng Ba

- Năm 1997: Được nhà nước tặng Huân chương lao động hạng Nhì

- Năm 2002: Được nhận Huân chương lao động hạng Nhất

- Năm 2007: Ngày 02/11/2007 được Nhà nước tặng Huân chương Độc

lập hạng ba.



2.1.3. Quy mô, chất lƣợng đào tạo của trƣờng THPT Việt Bắc

2.1.3.1. Quy mô đào tạo



Bảng 2.2: Số liệu về học sinh các năm học từ 2007 – 2010

Năm học



Số lớp



Số học

sinh



Khối 12

Số

Số

lớp

HS



Khối 11

Số

Số

lớp

HS



Khối 10

Số

Số

lớp

HS



2007-2008



42



2.423



12



853



14



800



16



770



2008-2009



48



2.250



16



784



16



731



16



735



2009-2010



55



2.215



16



720



19



737



20



758



(Nguồn: Trường THPT Việt Bắc)

Là trường THPT công lập duy nhất trên địa bàn TP Lạng Sơn, nên quy

mô nhà trường tương đối lớn so với các trường THPT trong tỉnh Lạng Sơn.

Tuy nhiên CSVC còn hạn chế (số phòng học 32, phòng học bộ môn: 03;

phòng thực hành Tin: 02) nên nhà trường gặp khó khăn trong việc tổ chức



32



các hoạt động NGLL. Đây cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng tới

chất lượng giáo dục hai mặt của nhà trường.

2.1.3.2. Chất lượng



Bảng 2.3: Chất lƣợng giáo dục các năm học từ 2007-2010

Học lực



Hạnh kiểm



Khá



TB



Yếu



Tốt



Khá



TB



Yếu



2.423



14



582



1.648



179



1.605



701



99



18



24.0



68.0



7.4



66.2



28.9 40.1



0.8



22



737



1.340



151



1.625



520



89



16



0.98 32.76 59.56



2007-2008



Số học

sinh

Giỏi

0.6



Năm học



6.7



72.2



23.1



4.0



0.7



43



9



Tỉ lệ %

2008-2009



2.250



Tỉ lệ %

2009-2010



2.215



778



1.309



86



1.659



504



1.9



Tỉ lệ %



42



35.1



59.1



3.9



74.9



22.8 19.4



(Nguồn: Trường THPT Việt Bắc)

Biểu đồ 2.1: Kết quả học tập của học sinh

70

60

50

Học lực Giỏi



40



Học lực Khá

Học lực TB



30



Học lực Yếu



20

10

0

2007-2008



2008-2009



2009-2010



Kết quả HSG toàn diện còn rất ít (chưa đạt 3%), vẫn còn khá nhiều học

sinh học lực yếu (7.4%). Để tiến tới đạt trường chuẩn quốc gia nhà trường



33



0.4



cần cải thiện 2 chỉ số trên: tăng số học sinh khá, giỏi đặc biệt là học sinh giỏi

toàn diện lên trên 3% và giảm số học sinh yếu xuống dưới 2%.

Biẻu đồ 2.2: Kết quả rèn luyện của học sinh

Biểu đồ 2 : Kết quả rèn luyện của học sinh



80

70

60

50



Hạnh kiểm Tốt



40



Hạnh kiểm Khá



30



Hạnh kiểm TB

Hạnh kiểm Yếu



20

10

0

2007-2008



2008-2009



2009-2010



Qua kết quả thống kê và nghiên cứu thực tế tại nhà trường cho thấy: đa

số học sinh nhà trường đã có nhận thức tốt (Hạnh kiểm Khá Tốt chiếm trên

95%). Tuy nhiên vẫn còn một bộ phận học sinh chưa có ý thức tự giác cao,

do đó còn thờ ơ xem thường kỷ cương nề nếp nhà trường dẫn tới vi phạm nội

quy, quy chế (HK yếu 0,4 %). Nhà trường đã có nhận thức khá cao về vai trò

và tầm quan trọng của công tác giáo dục đạo đức cho học sinh, đã tích cực

thực hiện các biện pháp nhằm giáo dục học sinh phát triển toàn diện đáp ứng

yêu cầu của xã hội. Tuy nhiên, công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức

cho học sinh của nhà trường do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan

còn bộc lộ nhiều hạn chế và bất cập chưa đáp ứng yêu cầu giáo dục đạo đức

trong giai đoạn hiện nay [39].

Song song với việc duy trì chất lượng đại trà, chất lượng đào tạo của

nhà trường còn thể hiện qua kết quả thi HSG các cấp, qua số lượng học sinh

thi đỗ các trường ĐH-CĐ. Là một tỉnh miền núi còn nhiều khó khăn về kinh

tế, trình độ phát triển giáo dục còn thấp nhưng trường THPT Việt Bắc đã quan

tâm, chỉ đạo và tạo mọi điều kiện để học sinh tích cực học tập và giáo viên làm



34



tốt công tác bồi dưỡng HSG và ôn luyện thi ĐH-CĐ nên số lượng đạt học sinh

giỏi các cấp và học sinh thi đỗ ĐH-CĐ đều tăng thể hiện sự nỗ lực học tập của

học sinh, sự tận tuỵ và trách nhiệm của các thày cô giảng dạy. Tuy nhiên chất

lượng giải không cao, số giải nhất-nhì rất thấp (cao nhất trong năm học 2008 –

2009 là 14.2%) và tập chung chủ yếu là giải khuyến khích (trên 50%).



Bảng 2.4: Số HSG giỏi và đỗ ĐH - CĐ

Năm học



HS toàn Số HS lớp Đỗ ĐHtrường

12





20072008

20082009

20092010



HSG cấp tỉnh



HSG

QG



Nhất



Nhì



Ba



KK



2.423



853



302



1



0



03



11



14



2.250



784



324



0



0



08



26



22



2.215



720



334



2



0



07



31



35



(Nguồn: Trường THPT Việt Bắc)

2.2. Thực trạng về đội ngũ giáo viên năm học 2009 - 2010



2.2.1. Số lƣợng, trình độ đào tạo

Bảng 2.5 : Cơ cấu và trình độ chuyên môn của đội ngũ giáo viên

Nữ



Dân

tộc



Đảng

viên



Trình độ chuyên môn

Chưa đạt

Đạt

Trên

chuẩn

chuẩn chuẩn



STT



Môn



Số

lƣợng



1



Văn



19



16



7



7



0



19



2



Sử



8



7



4



4



0



8



3



Điạ



9



7



3



3



0



8



1



4



Anh văn



14



12



9



5



0



13



1



5



GDCD



4



4



2



2



0



4



6



Toán



21



17



10



9



0



20



7







13



11



2



5



0



13



8



Hoá



10



9



3



4



0



10



35



1



9



Sinh



8



7



6



4



0



7



10



TD



8



5



3



2



0



8



11



Tin



6



5



6



0



3



3



12



Kỹ CN



1



1



0



0



0



1



13



Kỹ NN



1



1



0



0



0



1



122



102



55



44



03



105



04



83.6



45.1



36.1



2.45



86.1



3.3



Tổng

Tỉ lệ %



1



(Nguồn: Trường THPT Việt Bắc)

Số lượng giáo viên đạt tỉ lệ 2.22 GV/lớp, chưa đủ so với quy định tại

TT 35/2006/ TTLT-BGD&ĐT-BNV, ngày 23/8/2006 là 2.25 GV/lớp, vì vậy

khó khăn cho việc bố trí GV đi học nâng cao trình độ.

Qua thống kê về giới tính của giáo viên trong 03 năm học trở lại đây,

số lượng giáo viên nữ nhiều hơn nam, năm học 2009 -2010, nữ : 83.6%, sự

chênh lệch về giới tính khiến công việc quản lý gặp khó khăn trong duy trì

thời gian, thời khóa biểu, do phụ nữ thường nghỉ chế độ như thai sản, ốm

hoặc theo thiên chức người vợ, người mẹ trong gia đình nên việc tự đào tạo,

bồi dưỡng chưa cao. Điều này đòi hỏi công tác quản lý đội ngũ giáo viên của

nhà trường cần quan tâm chú ý đến các điều kiện, khả năng của giới tính để

tìm ra những biện pháp quản lý, bố trí nhiệm vụ phù hợp và thuận lợi cho đội

ngũ giáo viên.

Về trình độ đào tạo còn 3 giáo viên Tin (2.45%) chưa đạt chuẩn đào

tạo và số lượng giáo viên đạt trình độ đào tạo trên chuẩn còn quá ít (3.3%)

do đi đào tạo về thường chuyển công tác đến các vị trí thuận lợi hơn. Để đáp

ứng yêu cầu đổi mới, nâng cao năng lực đội ngũ và yêu cầu đạt trường chuẩn

Quốc gia, trong thời gian tới nhà trường cần tạo điều kiện, khuyến khích và

có kế hoạch đào tạo bồi dưỡng, có chính sách đãi ngộ hợp lý nhằm xây dựng



36



đội ngũ ổn định về nhân sự, phát triển về chất lượng chuyên môn, năng lực

nghề nghiệp.



2.2.2. Độ tuối

Bảng 2.6 : Thống kê độ tuổi của đội ngũ giáo viên

STT



Độ tuổi



Số lượng



%



1



Dưới 30



34



27.8



2



Từ 30 đến 45 tuổi



59



48.4



3



Trên 45 tuổi



29



23.8



Tổng



122



Ghi chú



(Nguồn: Trường THPT Việt Bắc)

Nhìn vào cơ cấu theo độ tuổi của đội ngũ giáo viên của trường THPT

Việt Bắc trong năm học 2009 – 2010 ta có nhận xét sau: về mặt mạnh của đội

ngũ giáo viên: Giáo viên dưới 30 tuổi có 34 người, chiếm tỷ lệ 27.8%, đây

là lực lượng giáo viên có sức khỏe tốt, được đào tạo cơ bản, có kiến thức về

chuyên môn tốt, có khả năng nhận thức tiếp thu cái mới nhanh, năng nổ, nhiệt

tình với công việc. Giáo viên từ 30 đến 45 tuổi có 59 người, chiếm tỷ lệ

48.4%. Giáo viên ở độ tuổi này có độ chính chắn nhất định về nhận thức xã

hội và về nghề nghiệp, tự tin, có bản lĩnh nghề nghiệp, đã tích lũy được

những vốn kiến thức và kinh nghiệm thực tế. Giáo viên trên 45 tuổi có 29

người, chiếm tỷ lệ 23.8%. Số giáo viên ở độ tuổi này họ được rèn luyện, phấn

đấu với thời gian tương đối dài, có kinh nghiệm trong công tác, có uy tín

trong đồng nghiệp, phụ huynh và học sinh.

Về mặt hạn chế của đội ngũ GV: Trước thực tế nhìn vào tuổi đời của

GV ta có thể nhận thấy rằng, giáo viên có tuổi đời trẻ, thâm niên giảng dạy

còn mới, vốn sống thực tiễn chưa nhiều thiếu kinh nghiệm trong việc xây

dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục học sinh, yếu về kỹ

năng quản lý lớp học và cách ứng xử với các đồng nghiệp, phụ huynh. Còn số



37



GV có tuổi đời ngoài 45 tuổi do thâm niên công tác nên một số GV hay dựa vào

kinh nghiệm, thiếu sự năng động trong việc tiếp nhận, chọn lọc những tri thức

mới, năng lực tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ.



2.2.3. Thực trạng chất lƣợng đội ngũ giáo viên

2.2.3.1. Về phẩm chất chính trị, đạo đức

Kết quả đánh giá phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống của đội ngũ

giáo viên trong các năm học từ 2007 đến 2010 như trong bảng 2.7.



Bảng 2.7: Tổng hợp đánh giá xếp loại phẩm chất chính trị, đạo đức,

lối sống của giáo viên trƣờng THPT Việt Bắc

Năm học



Tổng số

GV



2007 2008

2008 2009

2009 2010



Xếp loại phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống

Tốt



Khá



TB



Kém



94



62



27



5



0



Tỷ lệ %



66.0



28.7



5.3



0.0



104



78



25



1



0



Tỷ lệ %



75.0



24.04



0.96



0.0



122



96



24



2



0



Tỷ lệ %



78.7



19.7



1.6



0.0



(Nguồn: Trường THPT Việt Bắc)

Biểu đồ 2.3: Xếp loại phẩm chất chính trị, dạo đức của giáo viên

100

90

80

70

60



Tốt



50



Khá



40



TB



30

20

10

0



2007 - 2008



2008 - 2009



38



2009 - 2010



Đội ngũ giáo viên của trường THPT Việt Bắc được đánh giá có lập

trường tư tưởng vững vàng, phần lớn an tâm công tác, chấp hành tốt mọi chủ

trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Có tinh

thần trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ được giao, thực hiện tốt nề nếp kỷ

cương trong nhà trường, có đạo đức tác phong, lối sống chuẩn mực. Đội ngũ

giáo viên thể hiện khá rõ nét lòng yêu nghề, tinh thần hợp tác với đồng

nghiệp, tận tuỵ với học sinh, bao dung và cư xử công bằng với học sinh, quan

tâm giúp đỡ học sinh trong sinh hoạt và học tập, tạo được niềm tin yêu của

học sinh và quí cha mẹ học sinh [39].

Tuy nhiên qua số liệu thống kê vẫn còn số ít GV bị đánh giá là TB do

chưa chấp hành đúng quy chế chuyên môn, tắc trách, bê trễ trong công việc.

2.2.3.2. Về trình độ năng lực chuyên môn và nghiệp vụ

Việc đánh giá xếp loại chuyên môn nghiệp vụ chủ yếu được đánh giá

qua kết quả các giờ thao giảng, qua kết quả thi GV dạy giỏi hoặc giờ thanh

tra với các tiêu chí đánh giá giờ dạy tại hướng dẫn số 10227/THPT ngày

11/9/2001 của Bộ GD&ĐT hướng dẫn đánh giá và xếp loại giờ dạy ở bậc

THPT. Kết quả đánh giá tiết dạy của giáo viên được chia theo 4 loại: Tốt,

Khá, Trung bình (đạt yêu cầu) và Kém (chưa đạt yêu cầu). Mỗi giáo viên

được tổ chuyên môn, trường hoặc thanh tra dự giờ ít nhất hai tiết trong một

học kỳ, trong trường hợp vẫn chưa quyết định được việc xếp loại thì dự tiết

thứ ba để đánh giá xếp loại.



Bảng 2.8 : Tổng hợp kết quả đánh giá xếp loại chuyên môn

Năm học

2007 - 2008

2008 - 2009

2009 - 2010



Tổng số

GV

94

Tỷ lệ %

104

Tỷ lệ %

122

Tỷ lệ %



Xếp loại chuyên môn nghiệp vụ

Tốt

Khá

TB

36

47

11

38.3

50.0

11.7

39

52

13

37.5

50.0

12.5

45

60

17

36.9

49.2

13.9



(Nguồn: Trường THPT Việt Bắc)

39



Kém

0

0.0

0

0.0

0

0.0



Biểu đồ 2.4: Kết quả đánh giá xếp loại chuyên môn

140

120

100

Tổng số GV



80



Xếp loại Tốt

Xếp loại Khá



60



Xếp loại TB

40

20

0

2007 - 2008



2008 - 2009



2009 - 2010



* Ưu điểm:

- Nhiều giáo viên có năng lực chuyên môn vững vàng, tích cực tự học

và sang tạo, cải tiến phương pháp giảng dạy để không ngừng nâng cao năng

lực nghề nghiệp của bản thân. Đây là đội ngũ cốt cán cho nhà trường trong

việc đổi mới PPDH, đổi mới KTĐG nhằm phát huy tính tức cực học sinh để

nâng cao chất lượng GD của nhà trường trong các năm học vừa qua.

- Một số GV trẻ tuy kinh nghiệm thực tiễn chưa cao nhưng có trình độ

vững vàng, tích cực học hỏi đồng nghiệp và mạnh dạn ứng dụng các PPDH

mới nên được đánh giá cao trong nhà trường.

* Nhược điểm:

- Trong nhà trường còn một số ít giáo viên lớn tuổi, năng lực chuyên

môn hạn chế, ngại đổi mới phương pháp, nhất là việc ƯD CNTT vào dạy

học, chưa tích cực tham gia các lớp bồi dưỡng và tự bồi dưỡng. Tác phong

lao động của số GV này ảnh hưởng ít nhiều đến sự quản lý điều hành chung

của nhà trường.

- Phần lớn GV trẻ được đào tạo cơ bản nhưng còn thiếu kinh nghiệm

thực tiễn nên trong quá trình giảng dạy và giáo dục học sinh còn hạn chế về

các kỹ năng: kỹ năng giải quyết các tình huống sư phạm, kỹ năng tổ chức các

hoạt động giáo dục,…



40



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (125 trang)

×