1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG XÃ HỘI HOÁ GIÁO DỤC VÀ HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC XÃ HỘI Ở QUẬN NGÔ QUYỀN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.5 MB, 119 trang )


nghèo giảm 1,45%. Công tác dân số kế hoạch hoá gia đình hàng năm đạt kết

quả tốt với tỷ lệ phát triển dân số là 0,62%... Tất cả tạo điều kiện cho công tác

giáo dục - đào tạo phát triển nhanh, mạnh. Kinh tế phát triển góp phần nâng

cao đời sống vật chất cho ngƣời dân. Quận đã dành quỹ đất cho các mục tiêu

tiện ích công cộng nhƣ nhà trẻ, trƣờng học, cơ sở y tế, câu lạc bộ. Không chỉ

chú ý đến nâng cao chất lƣợng, diện mạo đô thị, mà giáo dục - đào tạo cũng

đƣợc đặc biệt chú trọng. Kết quả phổ cập trung học cơ sở, tỷ lệ học sinh giỏi

các cấp học, bậc học đều ở mức trên 25% và tăng trƣởng dần qua các năm.

Phát triển văn hóa - xã hội một cách toàn diện, đồng bộ và có chiều sâu,

nâng cao chất lƣợng giáo dục, y tế và hoạt động khoa học công nghệ; giải

quyết việc làm với ngƣời lao động nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh

thần cho nhân dân, đảm bảo an ninh quốc phòng, xây dựng hệ thống chính trị

vững chắc toàn diện.

Ngô Quyền cũng là quận tập trung các trung tâm văn hoá, giáo dục,

TDTT của thành phố, có nhiều cơ sở giáo dục từ mầm non đến đại học; có hệ

thống trƣờng PTTH công lập và dân lập nhiều nhất trong các quận nội thành.

Hàng năm, thành phố và quận đầu tƣ xây dựng, sửa chữa lớn từ 8 đến 10

trƣờng với kinh phí hàng chục tỷ đồng, trong đó nguồn XHH từ 3 đến 5 tỷ

đồng thời phục vụ cho việc tu bổ, mua sắm trang thiết bị, đồ dùng dạy học,

tạo điều kiện cho việc dạy và học đạt kết quả ngày càng cao.

“Trích báo cáo quận Ngô Quyền tháng, 11.2008”

Qua đặc điểm tình hình của quận ta thấy quận có rất nhiều tiềm năng thế

mạnh, nguồn lực xã hội thật to lớn. Đây là những tín hiệu tốt lành và thuận lợi

cho sự phát triển nhà trƣờng, phát triển giáo dục. Nhiệm vụ của nhà trƣờng là

tổ chức tốt việc thu hút và huy động các nguồn lực xã hội cho việc phát triển

nhà trƣờng, phát triển giáo dục.

2.2. Đặc điểm tình hình giáo dục quận Ngô Quyền

2.2.1. Về cơ cấu và chất lượng đội ngũ

30



Bậc học



Tỉ lệ



Tỉ lệ



GVGCSTĐ



Tỉ lệ



(Số ngƣời )



đạt chuẩn



vƣợt chuẩn



(Từ cấp quận



Đảng viên



%



%



trở lên) %



%



Mầm non : 289



97,9%



39,9 %



24.6 %



42,5 %



Tiểu học:



396



99,0%



71,0 %



38,8 %



49,0 %



THCS :



446



99,0 %



62,1 %



32,6 %



32,5 %



2.2.2. Về chất lượng giáo dục

Quy mô giáo dục của quận tiếp tục ổn định và phát triển với 30 trƣờng

công lập từ mầm non, tiểu học đến THCS, 15 trƣờng tƣ thục từ mầm non, tiểu

học, hơn 60 nhóm trẻ, lớp mẫu giáo tƣ thục. Mạng lƣới trƣờng lớp của các loại

hình giáo dục tƣơng đối đầy đủ (nhất là cấp tiểu học và THCS), khá thuận lợi

cho các đối tƣợng ở lứa tuổi phổ thông ra lớp 100%... Chất lƣợng giáo dục có

nhiều chuyển biến tích cực, luôn ở vị trí tốp đầu thành phố. Số học sinh đạt giải

trong các kỳ thi HSG cấp quận, cấp thành phố và cấp quốc gia đƣợc củng cố và

giữ vững.

Về mầm non: Tỷ lệ trong độ tuổi mầm non đạt kênh A hàng năm là

97%; Kênh B hàng năm 3%; Không có trẻ kênh C về sức khoẻ.

Tiểu học: Tỷ lệ học sinh tiểu học đƣợc học 2 buổi/ ngày là 71,2% và

đƣợc chăm nuôi bán trú là 51,5%. Số học sinh đƣợc xếp loại văn hoá giỏi

hàng năm ở cấp tiểu học từ 36% đến 41%;

THCS: Có từ 25% đến 32% là học sinh giỏi.100% học sinh lớp 9 và

95% học sinh lớp 8 trực tiếp hƣớng nghiệp tại các trung tâm dạy nghề của

quận và thành phố.

2.2.3. Về phổ cập giáo dục

Quận Ngô Quyền là quận sớm hoàn thành phổ cập tiểu học (năm 1991)

và phổ cập tiểu học đúng độ tuổi (năm 2000); phổ cập THCS (đƣợc Bộ GDĐT và thành phố kiểm tra công nhận tháng 3/2001). Quận đã cơ bản hoàn

31



thành phổ cập Trung học và nghề (đƣợc thành phố kiểm tra công nhận tháng

12/2005) với tỷ lệ rất cao:

+ Tiêu chuẩn “huy động” toàn quận: 97,89% (quy định là 95%).

+ Tiêu chuẩn “hiệu quả” toàn quận: 91,8% (quy định 85%).

2.2.4. Xây dựng trường chuẩn quốc gia

Mặc dù diện tích đất trên đầu học sinh mới đạt 3,13 m2/1HS nhƣng hiện

nay quận đã xây dựng đƣợc 7 trƣờng chuẩn quốc gia, trong đó có 1 trƣờng

mầm non, 5 trƣờng tiểu học và 1 trƣờng THCS. Chỉ tiêu 2008-2010 có thêm 6

trƣờng chuẩn quốc gia nữa.

Để đạt đƣợc chỉ tiêu trên, phòng Giáo dục - Đào tạo tiếp tục tham mƣu

cho UBND quận tiếp tục xây dựng tăng cƣờng cơ sở vật chất cho các trƣờng

học theo biên chế trƣờng chuẩn quốc gia, tăng số phòng học bộ môn cho các

trƣờng trong quận. Tiếp tục làm tốt công tác bồi dƣỡng giáo viên, giáo viên

đứng lớp phải đạt chuẩn về đào tạo, có trình độ tin học và ngoại ngữ.

2.2.5. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin

Các trƣờng học trong quận đã tích cực ứng dụng CNTT vào quản lý và

giảng dạy. Hàng năm đều có gần 1000 tiết dạy bằng giáo án điện tử. Hiện nay

có trên 90% giáo viên toàn quận có trình độ tin học và biết sử dụng máy vi

tính. Toàn quận đã trang bị gần 1000 máy vi tính; 37 máy chiếu đa năng

projector. Có trƣờng đã trang bị hơn 100 máy vi tính với nhiều phòng chức

năng hiện đại phục vụ hiệu quả cho việc triển khai đổi mới phƣơng pháp,

nâng cao chất lƣợng giáo dục toàn diện; 100% các phòng học ở cấp phổ thông

đạt phòng học chuẩn.

Kết quả:

Tất cả các trƣờng tiểu học CSVC khá khang trang. Khu vực sân chơi,

bãi tập có diện tích để xây dựng đạt chuẩn quốc gia. Tuy vậy về cơ sở vật chất

vẫn còn thiếu. Hiện tại các trƣờng chƣa đủ phòng học để học sinh học 2 buổi/

ngày và các phòng học chức năng còn thiếu chƣa đáp ứng đƣợc đổi mới giáo

32



dục. Việc xây dựng CSVC chủ yếu vẫn trông vào nguồn ngân sách Nhà nƣớc

nên tốc độ còn chậm.

(Số liệu báo cáo của PGD và ĐT cập nhật ngày 24/11/2008).

Nghiên cứu đặc điểm về tình hình giáo dục của quận Ngô Quyền ta

thấy có nhiều thuận lợi. Chất lƣợng và quy mô giáo dục đƣợc giữ vững, đặc

biệt, giáo dục tiểu học luôn dẫn đầu 3 bậc học ở các lĩnh vực, đây là lợi thế rất

lớn cho việc huy động các nguồn lực xã hội trong và ngoài nhà trƣờng ở các

trƣờng tiểu học.

Để phát triển giáo dục nói chung và giáo dục tiểu học nói riêng, cần

làm tốt việc huy động các nguồn lực xã hội, trƣớc hết các nguồn nội lực nằm

ngay trong các nhà trƣờng, trên cơ sở đó ta thu hút các nguồn lực xã hội từ

bên ngoài về cho nhà trƣờng, cho giáo dục.

2.3. Thực trạng xã hội hoá giáo dục ở trong và ngoài quận Ngô Quyền

2.3.1. Kinh nghiệm thế giới về xã hội hoá giáo dục

Các nƣớc trên thế giới đã đi trƣớc Việt Nam trong công tác XHHGD,

ở Trung Quốc và Liên bang Nga cũng nhƣ ở Việt Nam có các mô hình sau:

Trƣờng đƣợc thành lập do Nhà nƣớc bảo trợ nhƣ giúp đỡ về CSVC,

trang thiết bị đến khi có thể tự mua sắm. Trƣờng thành lập do các cá nhân hay

các tổ chức phối hợp với các cơ quan, xí nghiệp, Nhà nƣớc đầu tƣ tài chính.

Hình thức trƣờng do các cổ đông góp vốn thành lập. Nƣớc cộng hoà nhân dân

Trung Hoa từ năm 1985 đã quyết định cải cách thể chế giáo dục, phát động

toàn xã hội đóng góp cho giáo dục và lập quĩ khen thƣởng cho giáo viên, nhà

trẻ, mẫu giáo. Nguồn thu này tƣơng đƣơng 28% ngân sách đầu tƣ chung cho

giáo dục. Ấn Độ đóng góp dƣới các hình thức học bổng, tặng quà, xây dựng

quĩ bảo trợ. Có lúc ở Ấn Độ 80% kinh phí giáo dục từ các nguồn này. Vì vậy

kinh tế Ấn Độ rất phát triển, nƣớc này hoàn thành cuộc cách mạng xanh, xây

dựng nền khoa học công nghệ tiên tiến trên thế giới. Một số nƣớc tăng cƣờng

phát triển giáo dục tƣ nhân, mở các trƣờng tƣ thục, giảm sức ép cho Nhà

33



nƣớc. Theo thống kê của tổ chức khoa giáo Liên hiệp quốc đa số học sinh ở

các nƣớc đang phát triển theo học ở trƣờng tƣ: Philippin có 86%, Hàn Quốc

75%, Pakistan 70%, Ấn Độ 60%...

Ngay nƣớc Mĩ, một nƣớc có nền kinh tế phát triển mạnh nhất trên thế

giới có các trƣờng tƣ thục chất lƣợng đặc biệt cao. Tại các trƣờng này nguồn

kinh phí chủ yếu do học sinh đóng góp. Trên thế giới mô hình các trƣờng loại

này nhiều nhất là tại Anh và Mĩ.

Ở một số nƣớc trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dƣơng, các nƣớc ở

Châu Mĩ la tinh nhƣ Brazil, Colombia... có tổ chức hội phụ huynh - giáo viên

tạo điều kiện cho phụ huynh và cộng đồng tham gia vào công việc giáo dục

con em ở địa phƣơng, thông qua việc cung cấp thông tin, đóng góp ý kiến và

giúp phƣơng tiện cho giáo viên, nhà trƣờng làm công tác giáo dục. Tại In-đônê-xi-a trong những năm 1990 đã có diễn đàn cộng đồng về giáo dục với sự

giúp đỡ của UNESCO và UNDP. Mục đích tìm biện pháp sử dụng nguồn lực

gồm nhiều loại của cộng đồng thông qua việc cộng đồng tham gia vào việc

lập kế hoạch và quản lí các trƣờng tiểu học và trung học nhằm cải thiện chất

lƣợng giáo dục. Trung Quốc khuyến khích các nhà máy, xí nghiệp mở trƣờng.

Sự tham gia này là sự đóng góp rất lớn đối với sự phát triển giáo dục. Các lực

lƣợng xã hội trở thành lực lƣợng quan trọng cùng với ngành giáo dục tạo nên

thế và lực mới cho giáo dục. Sự đóng góp của lĩnh vực tƣ vào giáo dục giữa

các nƣớc cũng rất khác nhau. Một số quốc gia Chân Âu, sự đóng góp của

ngƣời dân đối với giáo dục đại học (các nƣớc OECD) trung bình khoảng 22%,

trong khi đó Pháp 16.3%, Hàn Quốc lên đến 76.1%, Nhật Bản 60.3% và Hoa

Kì là 57.2% (năm 2003) [30].

Do vậy, những ý kiến khác nhau và lý giải khác nhau về XHHGD của

những ngƣời sống trong các xã hội khác nhau, hoàn cảnh lịch sử khác nhau

cần xem là một việc bình thƣờng.



34



Qua tìm hiểu sơ bộ kinh nghiệm XHHGD của một số quốc gia nêu trên,

chúng tôi nhận thấy các quốc gia đó vận dụng sáng tạo XHHGD vào tình hình

cụ thể của mình. Cách khai thác nguồn lực rất phong phú, rất linh hoạt tạo ra

những bƣớc tiến nhảy vọt trong giáo dục. Có những quốc gia từ điều kiện

hoàn cảnh rất khó khăn, nhờ huy động tốt nguồn lực cho giáo dục mà chất

lƣợng giáo dục chuyển biến rõ nét so với trƣớc và trở thành quốc gia có nền

giáo dục phát triển mạnh trên thế giới. Từ kinh nghiệm, cách làm của các

quốc gia trên, Việt Nam có thể vận dụng vào tình hình cụ thể của mình để

từng bƣớc cải thiện và nâng cao chất lƣợng giáo dục và đào tạo.

2.3.2. Việc thực hiện xã hội hoá giáo dục ở Việt Nam

Bƣớc vào thời kì đổi mới (từ năm 1986) Việt Nam có chiến lƣợc đầu tƣ

phát triển giáo dục. Giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu; đầu tƣ cho giáo

dục là đầu tƣ cho phát triển [ 22]. Trong thời kì đổi mới, Đảng và Nhà nƣớc

nhấn mạnh tầm quan trọng của XHHGD, điều này thể hiện rõ trong Luật giáo

dục năm 2005. “Phát triển giáo dục, xây dựng xã hội học tập là sự nghiệp của

của Nhà nƣớc và của toàn dân”[22].

Nhà nƣớc giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục; thực hiện

đa dạng hóa các loại hình trƣờng và các hình thức giáo dục; khuyến khích huy

động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục.

Mọi tổ chức, gia đình và công dân có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp

giáo dục, phối hợp với nhà trƣờng thực hiện mục tiêu giáo dục, xây dựng môi

trƣờng giáo dục lành mạnh và an toàn’’ [22].

Việc thực hiện XHHGD ở Việt Nam chính thức đƣợc đƣa vào luật. Bộ

GD&ĐT có đề án XHHGD trên phạm vi toàn lãnh thổ với tất cả các cấp học,

bậc học, [4]. Và ngày 9/9/1999 Thủ tƣớng Chính phủ ra quyết định số

183/1999/QĐ -TTg về việc cho phép thành lập quỹ khuyến học Việt Nam [7].

Trong thực tế Việt Nam đã thực hiện có hiệu quả công tác XHHGD

trong nhiều năm gần đây. Nhận thức của xã hội về giáo dục và công tác



35



XHHGD đƣợc nâng cao rõ rệt. Mọi ngƣời có cái nhìn đúng hơn, chính xác

hơn về vai trò của giáo dục trong thời kì đổi mới, góp phần vào sự nghiệp

công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc. Sự nghiệp giáo dục là sự nghiệp của

Đảng, Nhà nƣớc và nhân dân chứ không chỉ là của riêng ngành giáo dục nhƣ

một số ngƣời từng quan niệm trƣớc đó. Nhận thức về XHHGD đã thay đổi.

Muốn giáo dục phát triển phải huy động mọi nguồn lực của xã hội, Nhà nƣớc

và nhân dân cùng làm giáo dục. Ngành giáo dục đã có biện pháp chỉ đạo công

tác XHHGD. Tại hội nghị kiểm điểm thực hiện Nghị quyết Ban chấp hành

trung ƣơng lần thứ tƣ khoá VII về "Tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và

đào tạo" Bộ trƣởng Bộ GD&ĐT chỉ rõ "Đẩy mạnh cuộc vận động XHHGD,

tiến tới hình thành một phong trào quần chúng, với sự tham gia tích cực, chủ

động của tất cả các tổ chức xã hội dƣới sự lãnh đạo của Đảng để cùng ngành

ta làm giáo dục chứ không phải chỉ để hỗ trợ cho ngành".

Quỹ khuyến học đƣợc thành lập trên phạm vi cả nƣớc và có ở các khu

dân cƣ, các dòng họ, các tổ chức xã hội, các tổ chức kinh tế đóng góp cho

giáo dục phát triển...[7].

Mối quan hệ nhà trƣờng - gia đình - xã hội đƣợc củng cố. Tất cả mọi

lực lƣợng đã và đang quan tâm đến giáo dục theo khả năng của mình. Trƣờng

lớp đƣợc xây dựng tốt hơn, đời sống cán bộ giáo viên đƣợc cải thiện rõ rệt.

Giáo dục đã có đóng góp rất quan trọng cho sự nghiệp đổi mới đất nƣớc.

Tuy nhiên việc thực hiện XHHGD ở Việt Nam còn bộc lộ một số hạn

chế và thiếu sót sau:

Về nhận thức: tuy có sự chuyển biến nhận thức về vai trò của chính

quyền, cộng đồng trong thực hiện mục tiêu XHHGD nhƣng vẫn còn tồn tại

nhƣ: nhận thức chƣa thật đầy đủ, chính xác của cấp uỷ, chính quyền địa

phƣơng và kể cả CBQL, giáo viên dẫn tới tình trạng chƣa quan tâm và đầu

tƣ đúng mức cho giáo dục phát triển. Có lúc, có nơi chúng ta quan niệm



36



đơn giản XHHGD là huy động đóng góp tiền của cho giáo dục chứ không

chú ý đến các mục tiêu khác.

Cơ chế vận hành chƣa đƣợc thực hiện rõ ràng. Vai trò của Nhà nƣớc

trong quá trình thực hiện XHHGD, trách nhiệm của các ban ngành đoàn thể

xã hội chƣa đƣợc cụ thể hoá, chƣa rõ ràng và chƣa đồng bộ trong các văn

bản qui định của Nhà nƣớc. Chế độ chính sách cho giáo dục còn bất hợp lí.

Việc huy động đóng góp cho giáo dục, sự điều tiết của Nhà nƣớc còn chậm.

2.3.3. Thực trạng về công tác xã hội hoá giáo dục ở quận Ngô Quyền

“Trích báo cáo của quận về công tác XHHGD, tháng 8/2008”

Trong những năm qua, nhận thức đƣợc tầm quan trọng của XHHGD,

các cấp uỷ Đảng, chính quyền quận và các cấp quản lí giáo dục đã xác định

đƣợc mục tiêu cần đạt, vừa phát triển giáo dục, vừa đáp ứng nhu cầu học

tập của con em nhân dân trong quận. Quận đã quan tâm chỉ đạo, triển khai,

phối kết hợp chặt chẽ với các cấp, các ngành, các tổ chức đoàn thể, các cá

nhân, huy động các nguồn lực trong và ngoài quận cho phát triển giáo dục.

Trên cơ sở Nhà nƣớc và nhân dân cùng làm, quận khuyến khích các đơn vị

trƣờng học tạo cơ chế, tạo hành lang pháp lý cho việc triển khai XHHGD

với tinh thần tự nguyện, dân chủ và công khai.

Gần đây, Nhà nƣớc và quận đã quan tâm đầu tƣ nhiều cho giáo dục

song với việc đổi mới chƣơng trình và sách giáo khoa ở nhiều bậc học nhƣ

hiện nay thì nguồn kinh phí của Nhà nƣớc không thể đảm đƣơng hết. Vì lẽ

đó cần huy động các nguồn lực xã hội để đẩy mạnh xây dựng trƣờng lớp,

CSVC, trang thiết bị dạy học để nâng cao chất lƣợng giáo dục toàn diện.

Nhiều năm qua, quận Ngô Quyền là một trong những đơn vị dẫn đầu

thành phố về công tác XHHGD, với nhiều điển hình ở các đơn vị trƣờng học,

các khu dân cƣ, tổ dân phố.

Với chủ trƣơng XHHGD quận đã thu hút đƣợc các lực lƣợng xã hội tham

gia làm giáo dục. Các lực lƣợng xã hội cùng nhà trƣờng đã tham gia vận động

37



tuyên truyền trong nhân dân để mọi ngƣời hiểu và ủng hộ giáo dục. Huy động

trẻ em ra trƣờng ra lớp, đóng góp ý kiến xây dựng nhà trƣờng...

Các phƣờng đều có trung tâm giáo dục cộng đồng để xoá mù, tái mù, và

nâng cao trình độ cho nhân dân. Về trách nhiệm huy động là của chính quyền

địa phƣơng, các tổ chức xã hội, của các tổ dân phố và mỗi gia đình, mỗi cá

nhân. Còn việc chịu trách nhiệm về nội dung chƣơng trình và tham gia giảng

dạy là trách nhiệm của ngành giáo dục và đào tạo. Tuy nhiên một số phƣờng

chƣa hiểu hết tầm quan trọng, sự phối kết hợp chƣa chặt chẽ nên hiệu quả

chƣa cao, nhiều học sinh bỏ học. Quận đã huy động quỹ đất xây dựng trƣờng

học, kinh phí thu đƣợc từ quỹ đất, từ ngân sách quận đã đầu tƣ xây dựng

trƣờng học, mua sắm trang thiết bị, đầu tƣ cho việc thay sách, bồi dƣỡng đội

ngũ, PCGD. Phải nói, những năm gần đây quận đã làm tốt công tác XHHGD.

Nhờ huy động đƣợc tổng thể các nguồn lực xã hội trong quá trình XHHGD

mà trong những năm qua quận đã xây dựng đƣợc nhiều trƣờng chuẩn quốc

gia, trƣờng chất lƣợng cao đáp ứng đƣợc nhu cầu đổi mới giáo dục. Việc huy

động XHHGD trong 5 năm qua đã thu đƣợc một số kết quả đáng khích lệ, đã

thúc đẩy cho sự phát triển nhà trƣờng.

Tuy nhiên, qua quan sát và phân tích còn bộc lộ những yếu kém và bất

cập. Việc huy động còn mang tính tự phát, chƣa đồng đều ở các đơn vị, chƣa

có tính chiến lƣợc. Sự phối kết hợp giữa giáo dục với các ban ngành đoàn thể

chƣa đồng bộ, nhận thức về XHHGD còn mang tính phiến diện một chiều, chỉ

thiên về huy động vật chất. Việc tuyên truyền vận động còn rất hạn chế, việc

triển khai ở các đơn vị còn chƣa đồng đều, nhiều ngƣời dân chƣa thấy hết

trách nhiệm của mình với giáo dục, chƣa tự nguyện ủng hộ giáo dục.

(Trích báo cáo tổng kết 5 năm về công tác XHHGD quận Ngô Quyền22/8/2008).



38



2.4. Thực trạng công tác xã hội hoá giáo dục trong các trƣờng học quận

Ngô Quyền

Để hiểu thêm về thực trạng XHHGD ở quận Ngô Quyền tôi đã nghiên

cứu, tìm hiểu, điều tra khảo sát để thu thập tình hình ở các trƣờng trong quận

và ở một số đối tƣợng CBQL, giáo viên, CMHS, lãnh đạo quận, chính quyền

địa phƣơng (có phiếu kèm theo).

2.4. 1. Kết quả thực hiện công tác xã hội hoá giáo dục và đào tạo quận Ngô Quyền

Ngành giáo dục và đào tạo làm tốt công tác tham mƣu xây dựng các

chính sách địa phƣơng về phát triển giáo dục và đào tạo. Thực hiện Nghị

quyết số 05 Chính phủ: “Đẩy mạnh XHHGD, tăng nguồn lực đầu tƣ cho giáo

dục” . Kế hoạch công tác, đề án thực hiện công tác phổ cập bậc tiểu học và

nghề theo Nghị quyết 21/NQ của Ban thƣờng vụ quận ủy ngày 30/3/2004. Đề

án xây dựng trƣờng chuẩn quốc gia tháng 4 năm 2004 và quy hoạch tổng thể

các trƣờng học quận Ngô Quyền đến năm 2020.

Hoạt động của hội đồng giáo dục các cấp:

Hội đồng nhân dân các cấp hoạt động theo chức năng và nhiệm vụ,

luôn quan tâm đến công tác giáo dục, đề ra nhiều giải pháp và những nhiệm

vụ cụ thể để phát triển giáo dục nhƣ: Nghị quyết số 17/NQ-HĐND tháng 6

năm 2004 của HĐND quận Ngô Quyền về việc huy động nguồn XHHGD.

Tập trung cho đề án đƣa tin học vào nhà trƣờng.

Nghị quyết 14/NQ/TU và Nghị quyết 57/HĐND thành phố về XHHGD.

Với nội dung khuyến khích hoạt động dạy của thầy và hoạt động học

của trò. Vận động các tổ chức trên địa bàn làm tốt công tác XHHGD. Xây

dựng xã hội học tập. Tới năm 2006 có 13/13 phƣờng đã có TTHTCĐ, đạt tỷ

lệ 100%. Kết quả hoạt động của các TTHĐCĐ: 80% các TTHTCĐ hoạt động

có hiệu quả nhƣ: Tổ chức các câu lạc bộ, các lớp học ngắn hạn, tƣ vấn nghề,



39



tƣ vấn giáo dục. Ngành Giáo dục và Đào tạo đã huy động các tổ chức chính

trị, đoàn thể xã hội tham gia vào quá trình phát triển GD & ĐT.

Hội phụ nữ: tuyên truyền vận động học sinh bỏ học ra lớp. Nhận đỡ

đầu các cháu học sinh hƣ trên địa bàn khu dân cƣ; Tham mƣu và cùng phối

hợp với chính quyền với phƣờng tháo gỡ khó khăn trong việc làm thủ tục cấp

giấy khai sinh cho các cháu có hoàn cảnh đặc biệt. Tham gia công tác điều tra

và làm PCGD theo chức năng và nhiệm vụ của phụ nữ.

Công an phƣờng và công an quận cùng phối hợp với các lực lƣợng đảm

bảo an toàn, an ninh các trƣờng học. Giáo dục cho học sinh thực hiện pháp

luật của Nhà nƣớc, hƣớng dẫn học sinh thực hiện luật ATGT, phòng chống

ma túy, phòng chống các tệ nạn xã hội, đảm bảo an toàn các kỳ thi, các ngày

hội của giáo dục trên địa bàn phƣờng. Tham gia công tác điều tra và làm

PCGD theo chức năng nhiệm vụ của công an.

Đoàn thanh niên quận và các phƣờng làm tốt việc phối hợp tổ chức các

hoạt động ngoài giờ cho thanh niên các phƣờng nhằm mục đích đƣa các em

học sinh vào các hoạt động bổ ích và thực hiện tốt 5 điều Bác Hồ dạy, tham

gia công tác điều tra và làm phổ cập theo chức năng của đoàn thanh niên.

Các phòng ban nhân dân quận tùy theo chức năng nhiệm vụ của mình

dƣới sự chỉ đạo của quận ủy và UBND, các phòng ban quận đều vào cuộc với

giáo dục trong các lĩnh vực nhƣ giáo dục pháp luật, tăng nguồn tài chính đầu

tƣ cho cơ sở vật chất, công tác nhân sự cho giáo dục, hỗ trợ và cùng tham gia

chỉ đạo cũng nhƣ thực hiện công tác PCGD quận Ngô Quyền.

Tham gia các hoạt động xã hội:

Tổng số tiền ủng hộ các loại quỹ lên tới trên 3 tỉ đồng nhƣ: quỹ nhân

đạo từ thiện, ủng hộ nạn nhân chất độc màu da cam, quỹ tình nghĩa, hỗ trợ

giáo viên vùng sâu vùng xa, ủng hộ đồng bào lũ lụt, quỹ đền ơn đáp nghĩa,

quỹ vì ngƣời nghèo: Kết quả tham gia tốt cuộc vận động toàn dân đoàn kết

40



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (119 trang)

×