1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THỰC TẬP SƯ PHẠM CỦA SINH VIÊN Ở CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.7 MB, 129 trang )


Bruce.J.Biddle trong việc nghiên cứu hoạt động dạy học và đào tạo người

thầy giáo.

Điển hình là các cuốn “The process of learning” của Bigss.J.B và

Tellfer.R [41], và “Begening teaching” của Berry.K, và King.L [40] đang

được sử dụng như các giáo trình thực hành lý luận dạy học trong việc đào tạo

giáo viên nói chung ở Australia.

Trong các tài liệu phương Tây nổi lên hơn cả là cuốn “Teaching

Practice, handbook” của Roger Gower, Diane Phillips và Steve Walters [42].

Đây là cuốn sách rất có giá trị không chỉ cho giáo viên sư phạm mà còn cho

cả sinh viên, sát thực hơn cả với vấn đề TTSP của sinh viên. Trong các cuốn

sách này, các tác giả đã chỉ rõ vai trò của Teaching Practice (tạm dịch là luyện

tập dạy học); chỉ rõ các bước của hoạt động dạy học một cách cụ thể để giúp

cho sinh viên sư phạm luyện tập, đồng thời định hướng cho hoạt động hướng

dẫn của người giáo viên trong các trường đại học sư phạm.

Nhìn chung các tài liệu trên, đã chú ý đến thực hành, thực tập sư phạm,

để hình thành kỹ năng, kỹ xảo sư phạm cho sinh viên trong các trường sư

phạm. Đây là tri thức lý luận và thực tiễn có giá trị khoa học đối với chúng ta.

Tuy nhiên, các tác giả còn rất ít đề cập đến việc quản lý TTSP như thế nào để

mang lại hiệu quả cao.

Ở trong nước, từ sự tích lũy các kinh nghiệm, cải tiến các công trình

nghiên cứu về thực hành - TTSP đã có một số “Trao đổi kinh nghiệm”, “Sáng

kiến cải tiến”, một số báo cáo, chuyên luận... đề cập đến vấn đề tổ chức TTSP

cho sinh viên nhưng còn mang tính tự phát và tản mạn, có tính chất sơ kết thu

hoạch cá nhân như:

- “Một vài suy nghĩ về vấn đề đánh giá giảng dạy trong đợt TTSP của

sinh viên năm thứ 4” (Báo cáo nghiệp vụ ĐHSP 1978).

- Tác giả Trịnh Dân: “Nâng cao chất lượng toàn diện công tác TTSP

thường xuyên của sinh viên khoa Tâm lý giáo dục” (1980) [12].



6



- Tác giả Đinh Cẩm Ly “Vài suy nghĩ về công tác trưởng đoàn TTSP” [24].

Đáng kể hơn là luận văn “Tìm hiểu việc bồi dưỡng kỹ năng dạy học

cho sinh viên năm thứ 3 khoa Tâm lý giáo dục thông qua TTSP”, Nguyễn Thị

Tươi –1987 [34]. Ở đây, tác giả chỉ ra vai trò của TTSP trong việc thực hành

kỹ năng sư phạm, đưa ra một số kỹ năng sư phạm bồi dưỡng cho sinh viên có

tính chất khái quát nhưng chưa cụ thể, hệ thống.

Đặc biệt là tài liệu “Thực tập sư phạm – 1991” của Nguyễn Đình Chỉnh

[9]. Trong tài liệu này, tác giả đã đề cập và giải quyết được nhiều vấn đề cơ

bản của hoạt động TTSP song chủ yếu là những vấn đề bao quát mang tính

chất lý luận, chưa đi sâu giải quyết những mặt cần thiết trong việc TTSP và

nội dung cần thiết phải rèn luyện để chuẩn bị cho công tác TTSP.

Một tài liệu có thể được coi là cẩm nang của sinh viên sư phạm là “Hỏi

đáp về TTSP” - 1993 của nhiều tác giả do Bùi Ngọc Hồ chủ biên [16]. Trong

tài liệu đặt ra rất nhiều vấn đề bổ ích và thiết thực đối với sinh viên trong học

tập, rèn luyện cũng như TTSP: Xác định kiến thức, kỹ năng, thái độ của

TTSP; Vai trò, ý nghĩa của TTSP; Quy trình, nội dung TTSP; Tác dụng và

cách ghi nhật ký TTSP…

Vào những năm 1992-1994, ở nhiều trường ĐHSP cả nước diễn ra các

cuộc họp, chuyên đề, đề tài, bàn về TTSP rất rầm rộ.

- Ở trường ĐHSP II Hà Nội đã biên soạn “Kế hoạch TTSP tập trung và

rèn luyện nghiệp vụ sư phạm, thường xuyên” 1992 [19]

- Ở miền Trung và miền Nam các trường ĐHSP Huế, ĐHSP TP.Hồ Chí

Minh, Đại học Cần Thơ đã hoàn thành đề tài cấp Bộ (B91-30-02 năm 1993)

đã thu được một số kết quả đáng chú ý.

- Ở trường ĐHSP I Hà Nội đã tổ chức nhiều cuộc họp, chuyên đề chuẩn

bị cho việc đổi mới nội dung và tổ chức TTSP (1993-1994).

Luận án “Xây dựng quy trình tập luyện các kỹ năng giảng dạy cơ bản



7



trong các hình thức thực hành - TTSP”, Trần Anh Tuấn [33], năm 1995. Đây

là công trình nghiên cứu công phu của tác giả trên phạm vi rộng, dựa trên

những cơ sở lý luận và thực tiễn, có sức thuyết phục lớn. Luận án đã phản

ánh những vấn đề thực tế, nhiều mặt của công tác thực hành - TTSP ở các

trường sư phạm: thực trạng công tác thực hành – TTSP; các kỹ năng dạy học

cơ bản, vấn đề rèn luyện và quy trình tập luyện các kỹ năng đó thông qua

hoạt động thực hành - TTSP. Nhưng tác giả cũng chỉ dừng lại ở chỗ chỉ ra

thực trạng, nguyên nhân của TTSP, và có lẽ đây không phải là mục đích

nghiên cứu chính của đề tài, nên không được tác giả đề cập đến một giải pháp

thực tiễn cho công tác tổ chức TTSP.

Trong bài “Đánh giá kết quả TTSP hiện nay” Phạm Hồng Quang

(1998) [28] đã khẳng định vai trò quan trọng của đánh giá trong việc tổ chức

TTSP, việc xây dựng hoàn thiện các nội dung, phương pháp đánh giá TTSP là

vấn đề tồn tại trong thực tiễn chưa giải quyết được, đòi hỏi các nhà giáo dục,

đặc biệt là lãnh đạo các trường sư phạm cần quan tâm giải quyết.

Những năm gần đây đã có một số luận văn thạc sĩ nghiên cứu về thực

trạng và một số giải pháp của quá trình tổ chức TTSP và rèn luyện nghiệp vụ

sư phạm:

- Luận văn: “Tìm hiểu thực trạng việc tổ chức TTSP ở trường Đại học

Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội”Nguyễn Thị Thắng Hà Nội 1999.

- Luận văn: “Thực trạng tổ chức TTSP ở trường CĐSP Thái Bình” của

Trương Thị Chất.

- Luận văn “Tổ chức và quản lý công tác rèn luyện nghiệp vụ” ở trường

THCS tỉnh Thanh Hóa.

Một tài liệu có giá trị, làm cơ sở cho một số trường sư phạm cải tiến, đổi mới

về TTSP là “Quy chế TTSP” Hà Nội 1999 của tác giả Phạm Viết Vượng. Nội dung

tài liệu là những điều có tính chất quy định về các mặt của TTSP, những tập thể và

cá nhân tham gia thực hiện đợt TTSP ở trường ĐHSP Hà Nội.



8



Các công trình nghiên cứu trên của các tác giả trong nước đã cố gắng đi

vào nghiên cứu các mặt, các khía cạnh khác nhau của TTSP, đều đã khẳng

định và cụ thể hóa thực trạng về nhiều mặt trong công tác TTSP, của trình độ

tay nghề của sinh viên hiện nay. Các công trình đều đã tìm kiếm và đề xuất

một số kiến nghị, biện pháp, kinh nghiệm khắc phục các nhược điểm trong

công tác TTSP…

Có nhiều ý kiến khác nhau về chất lượng TTSP, song tập trung nhất là

kiến nghị phải đổi mới một cách cơ bản công tác TTSP trong đó các khâu

quan trọng nhất là: khâu chuẩn bị, cách tiến hành TTSP, cách đánh giá TTSP.

Thực tập sư phạm là một nội dung cơ bản trong công tác đào tạo của

nhà trường sư phạm vì vậy quản lý TTSP là vấn đề thiết thực và quyết định

đến kết quả TTSP của sinh viên. Nhưng hiện nay mảng quản lý TTSP trong

mã ngành Quản lý giáo dục ở Việt Nam còn ít được chú ý, các hướng nghiên

cứu trong quản lý ở nhà trường CĐSP tập trung đi vào các mặt quản lý:

- Quản lý hoạt động học tập của sinh viên trong đào tạo ở trường sư phạm

- Quản lý hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên

- Quản lý hoạt động tự học cho sinh viên

- Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức, lẽ sống cho sinh viên

- Tổ chức thực hành thường xuyên cho sinh viên

Hoặc là đi theo hướng quản lý hoạt động của giáo viên đã ra trường ở

các bậc học mầm non, phổ thông và sư phạm.

- Quản lý chuyên môn

- Quản lý hoạt động dạy học

- Quản lý hoạt động bồi dưỡng và tự bồi dưỡng

- Quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp…

Huớng nghiên cứu quản lý TTSP trong các trường sư phạm trong

những năm qua có thể kể ra một số công trình nghiên cứu sau:



9



Ngô Đình Thưởng (2002), Biện pháp tổ chức thực hành sư phạm cho sinh

viên hệ CĐSP trường Đại học sư phạm - Đại học Đà Nẵng – ĐHSP Hà Nội.

Nguyễn thị Nhã (2005), Quản lý công tác thực hành sư phạm nhằm

nâng cao chất lượng đào tạo sinh viên tại trường CĐSP nhà trẻ - mẫu giáo

TW1. ĐHSP Hà Nội.

Trần Văn Tuấn (2006), Biện pháp quản lý thực tập sư phạm cho sinh

viên trường CĐSP Quảng Nam.

Nhận xét: Hướng nghiên cứu quản lý TTSP trong các trường sư phạm

còn ít, đặc biệt là ở Cao đẳng sư phạm Lạng Sơn chưa có ai nghiên cứu, do đó

cần thiết phải được nghiên cứu nhằm nâng cao chất lượng TTSP cho sinh

viên. Đây cũng là lý do tôi lựa chọn đề tài: “Biện pháp quản lý hoạt động

TTSP của sinh viên ở trường CĐSP Lạng Sơn”.

1.2. Một số khái niệm cơ bản

1.2.1. Quản lí

1.2.1.1. Quản lí là gì?

Khái niệm quản lí được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác

nhau của đời sống xã hội. Hoạt động quản lí được hình thành từ sự phân công,

hợp tác lao động, từ sự xuất hiện của tổ chức cộng đồng. Với nhu cầu hướng

tới hiệu quả tốt hơn, năng suất cao hơn trong hợp tác lao động của cộng đồng

đòi hỏi phải có sự chỉ huy, phối hợp, phân công... do vậy xuất hiện người

quản lí và sự quản lý. Nói đến công việc quản lí là nói đến việc điều hành,

điều khiển, chỉ huy. Tuy nhiên cũng có quan điểm cho rằng quản lí chỉ đơn

giản là hành chính, là cai trị, bắt phải phục tùng. Nhưng hầu như ai cũng nhân

thấy trong quản lí có 3 yếu tố cơ bản sau:

- Người chỉ huy, điều khiển

- Người hoặc đồ vật bị chỉ huy, bị điều khiển

- Mục đích và nhiệm vụ của hoạt động

Trên thực tế tồn tại ba loại hình quản lí:



10



- Quản lí tự nhiên hữu sinh (Quản lí sinh học)

- Quản lí trong tự nhiên vô sinh (Quản lí kỹ thuật)

- Quản lí xã hội: Điều khiển con người, điều hành các hoạt động xã hội.

Thuật ngữ “Quản lí” (từ Hán Việt) gồm hai quá trình tích hợp nhau:

Quá trình “quản” gồm coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ ở trạng thái “ổn định” quá

trình “lý” gồm sửa sang, sắp xếp đổi mới đưa hệ vào thế “phát triển”. Vì vậy

nếu người chỉ huy lo việc “quản” thì tổ chức sẽ trì trệ, nếu người chỉ huy quan

tâm đến “lý” thì phát triển không bền vững. Do đó trong “quản” phải có “lý”

và trong “lý” phải có “quản” nhằm làm cho hệ ở thế cân bằng, vận động phù

hợp, thích ứng và có hiệu quả trong môi trường tương tác giữa các nhân tố

bên trong (nội lực) và các nhân tố bên ngoài (ngoại lực).

Nói đến hoạt động quản lí, không thể không nhắc tới tư tưởng sâu sắc của

K.Marx: “Một nghệ sĩ vĩ cầm thì tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần phải có

nhạc trưởng”. Như vậy, quản lí là điều khiển, là chỉ huy, là tổ chức, là hướng dẫn,

là phối hợp quá trình hoạt động của con người trong các tổ chức xã hội.

Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về quản lí:

+ Theo Hanor Koontz: Quản lí là một hoạt động thiết yếu đảm bảo sự

phối hợp nỗ lực của các nhân nhằm đạt đến mục tiêu tổ chức nhất định.

+ Quản lí là thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá

nhân làm việc với nhau trong các nhóm có thể hoàn thành nhiệm vụ các các

mục tiêu đã định [7].

+ Quản lí là sự tác động liên tục có thể chức, có định hướng của chủ

thể quản lí lên khách thể quản lí về mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế...

bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương

pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự

phát triển của đối tượng [13].

+ Quản lí là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thề quản lí

đến khách thể quản lí nhằm đạt được mục tiêu chung [31].



11



+ Quản lí là tác động có định hướng (có chủ đích), có tổ chức, lựa

chọn trong số những tác động có thể có, dựa trên các thông tin về tình trạng

của đối tượng và môi trường, nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được

ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định [16].

+ Theo các tác giả giáo trình Quản lý xã hội, Học viện Hành chính quốc

gia Hồ Chí Minh (1976), quản lí là sự tác động của cơ quan quản lí vào đối

tượng quản lí để tạo ra một sự chuyển biến hệ thống, nhằm đạt những mục tiêu

xác định, hoạt động quản lí là một hoạt động đặc biệt của người lãnh đạo, mang

tính tổng hợp của nhiều dạng lao động, nhằm liên kết các yếu tố tham gia vào

hoạt động thành một chỉnh thể thống nhất, điều hòa hoạt động của các khâu, các

cấp sao cho phù hợp, nhịp nhàng dẫn đến hiệu quả cao.

Như vậy các định nghĩa về quản lí đều tập trung vào hiệu quả công tác

quản lí. Hiệu quả đó phụ thuộc vào các yếu tố: Chủ thể quản lí, khách thể

quản lí và mục đích công tác quản lí, phụ thuộc vào tác động từ chủ thể đến

khách thể quản lí nhờ công cụ và phương pháp quản lí. Mục đích hay mục

tiêu chung của công tác quản lí có thể do chủ thể áp đặt, do yêu cầu khách

quan của xã hội hay do sự cam kết, thỏa thoận giữa chủ thể và khách thể quản

lí, từ đó nảy sinh các mối quan hệ tác động tương hỗ với nhau giữa chủ thể và

khách thể quản lí.

Từ các khái niệm trên, chúng tôi đi thống nhất: Quản lí là cách thức tác

động (tổ chức, điều khiển, chỉ huy) hợp quy luật của chủ thể quản lí đến

khách thể quản lí trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt hiệu

quả mong muốn và đạt được mục tiêu đề ra.

Quản lí là một hoạt động vừa có tính khoa học, vừa có tính nghệ thuật.

Tính khoa học của công tác quản lí thể hiện ở chỗ: hoạt động của con người

và sự phát triển của xã hội là theo những quy luật nhất định, vì thế người quản

lí phải hiểu biết và vận dụng những quy luật của tự nhiên và xã hội, những tri

thức khoa học, các quy trình công nghệ, những kỹ năng, phương pháp chung,



12



khái quát cũng như các phương pháp chuyên ngành, cụ thể vào lĩnh vực hoạt

động. Người làm công tác quản lí xã hội phải hiểu biết và vận dụng các kiến

thức khoa học kĩ thuật, khoa học xã hội và nhân văn, các kiến thức và pháp lý,

tâm lý... vào công việc chứ không thể hoạt động tùy tiện, chủ quan.

Tính nghệ thuật của công tác quản lí bộc lộ rõ nhất trong công tác quản

lí xã hội. Vì đối tượng quản lí xã hội là con người và các hoạt động của con

người nên khi quản lí xã hội đòi hỏi người quản lí phải luôn luôn sáng tạo,

linh hoạt, khéo léo, tế nhị, khi vận dụng các kiến thức khoa học và các quy

luật chung.

1.2.1.2. Chức năng quản lí

Hoạt động quản lý là một quá trình đạt đến mục tiêu tổ chức bằng cách

vận dụng các chức năng quản lí. Chức năng quản lí là những hình thái biểu

hiện sự tác động có mục đích đến tập thể người.

Có nhiều cách phân chia các chức năng quản lí, những vấn đề cơ bản

các tác giả đều thống nhất 4 chức năng sau:

- Chức năng kế hoạch: Là xác định rõ mục đích, mục tiêu đối với tổ chức

và những con đường thể thực, biện pháp chính để đạt đến mục tiêu đó [23]

Khâu quan trọng của chức năng kế hoạch là lập kế hoạch. Có thể hiểu

lập kế hoạch là quá trình thiết lập các mục tiêu, hệ thống các hoạt động và các

điều kiện đảm bảo thực hiện được mục tiêu đó.

- Chức năng tổ chức: Tổ chức là quá trình sắp xếp, phân bổ công việc,

quyền hành và các nguồn lực cho các thành viên của tổ chức để họ có thể đạt

được các mục tiêu của tổ chức một cách hiệu quả. Ứng với mỗi mục tiêu

khác nhau đòi hỏi cấu trúc tổ chức đơn vị cũng khác nhau. Nhờ tổ chức có

hiệu quả mà người quản lí có thể phối hợp, điều phối tốt hơn nguồn nhân lực

và các nguồn lực khác. Một tổ chức được thiết kế phù hợp sẽ phát huy được

năng lực nội sinh và có ý nghĩa quyết định đến việc chuyển hóa kế hoạch

thành hiện thực.



13



- Chức năng chỉ huy điều hành lãnh đạo: Chỉ huy là tác động, huy động

con người và tổ chức trong hệ thống thực hiện nhiệm vụ. Đó là quá trình tác

động, liên kết các thành viên trong tổ chức, tập hợp, động viên họ hoàn thành

những công việc nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức.

- Chức năng kiểm tra: Kiểm tra là một chức năng quan trọng của hoạt

động quản lí. Quản lí mà không kiểm tra thì coi như không có quản lí. Theo lý

thuyết hệ thống, kiểm tra là thiết lập kênh thông tin phản hồi trong quản lí. Nhờ

có hoạt động kiểm tra mà người cán bộ quản lí đánh giá được kết quả công việc

và uốn nắn, điều chỉnh một cách đúng hướng nhằm đạt mục tiêu đề ra.

1.2.2. Quản lí giáo dục

1.2.2.1. Quản lí giáo dục

Quản lí là một hoạt động phổ biến, diễn ra trên mọi lĩnh vực, mọi cấp

độ và có liên quan đến mọi người. Đó là một hoạt động xã hội bắt nguồn từ

tính chất cộng đồng dựa trên sự phân công và hợp tác để làm một việc nhằm

đạt mục tiêu chung. Giáo dục là một hiện tượng xã hội, do đó quản lí giáo dục

được hình thành là một tất yếu khách quan từ quản lí xã hội, hay nói cách

khác: Quản lí giáo dục là một loại hình của quản lí xã hội.

- Quản lí giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lí với

khách thể quản lí nhằm đưa hoạt động giáo dục tới mục tiêu đã định, trên cơ

sở nhận thức và vận dụng đúng những quy luật khách quan của hệ thống giáo

dục quốc dân.

- Quản lí giáo dục là quá trình tổ chức và điều chỉnh sự vận hành của

ba loại yếu tố (hệ tư tưởng chủ nghĩa Mác – Lênin, tập thể con người và các

điều kiện vật chất cụ thể) với các quan hệ, tác động qua lại trong quá trình

giáo dục thống nhất [16].

- Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang - Trường Cán bộ quản lí giáo dục

TW I: “Quản lí giáo dục (và nói riêng, quản lí trường học) là hệ thống những

tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lí (hệ giáo



14



dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lí giáo dục của

Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam, mà tiêu

điểm hội tụ là quá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới

mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất”[27].

Như vậy ta thấy có hai yếu tố cơ bản thường được nhắc đến trong quản

lí giáo dục đó là:

- Chủ thể quản lí: Hệ thống, bộ máy quản lí giáo dục các cấp.

- Khách thể quản lí: Là hệ thống giáo dục quốc dân hay sự nghiệp giáo

dục của địa phương.

Từ định nghĩa trên chúng tôi đưa ra định nghĩa Quản lí giáo dục là sự

tác động có mục đích, có ý thức của chủ thể quản lí đến khách thể quản lí trên

cơ sở nhận thức và vận dụng đúng những quy luật khách quan của hệ thống

giáo dục quốc dân nhằm đưa hoạt động giáo dục đạt tới mục tiêu đã định.

Sự tác động từ chủ thể quản lí đến khách thể quản lí có thể là tác động

từ người quản lí đơn vị cơ sở giáo dục đến các đối tượng quản lí là: người

dạy, người học, cơ sở vật chất thiết bị hoặc là tác động giữa các cấp quản lý

giáo dục từ trung ương đến địa phương…

1.2.2.2. Quản lí nhà trường

Nhà trường là một chỉnh thể xã hội – Nhà nước là một đơn vị tổ chức

hoàn chỉnh, một cơ quan giáo dục chuyên biệt thực hiện chức năng giáo dục –

đào tạo của nhà nước và của cộng đồng xã hội chuẩn bị cho thế hệ mới bước

vào cuộc sống.

Quản lý nhà trường là một phạm vi cụ thể của quản lý hệ thống giáo

dục. Theo tác giả Phạm Minh Hạc: Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối

giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình đưa nhà trường vận

hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo

đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ, với từng học sinh [15].



15



Quản lý nhà trường bao gồm: “Tập hợp những tác động tối ưu (công

tác, tham gia hỗ trợ, phối hợp, huy động can thiệp...) của chủ thể quản lý đến

tập thể giáo viên, học sinh và các cán bộ khác.

- Nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do nhà nước đầu tư, lực lượng xã

hội đóng góp và do lao động xây dựng vốn tự có.

- Hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà điểm hội

tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ.

- Thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo đưa nhà trường

tiến lên trạng thái mới” [27].

Theo tác giả Phạm Viết Vượng thì “Quản lý trường học là lao động

của các cơ quan quản lí nhằm tập hợp và tổ chức các lao động của giáo viên,

học sinh và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn

lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường”.

Chức năng chủ yếu của nhà trường là dạy học và giáo dục. Chức năng

đó cần được quy chế hóa một cách chặt chẽ thông qua kế hoạch đào tạo. Việc

xây dựng nề nếp dạy và học nhằm mục đích đảm bảo các kế hoạch, quy chế

đào tạo, trên cơ sở các kế hoạch, quy chế đó mà xây dựng môi trường sư

phạm lành mạnh, hấp dẫn với kỷ luật tự giác và tình cảm trách nhiệm cao, xây

dựng mối quan hệ cộng tác, giúp đỡ, học hỏi lẫn nhau của giáo viên và học

sinh, cũng như khơi dậy và khuyến khích tính tự giác, tích cực, chủ động,

sáng tạo trong học tập của học sinh, sinh viên. Mục đích cuối cùng của hoạt

động này là nâng cao chất lượng và hiệu quả của quá trình giáo dục – đào tạo

trong nhà trường.

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo, để mô hình hóa “nhà trường”, người ta

để ý đến 10 yếu tố hạt nhân hình thành và phát triển quá trình đào tạo bao

gồm:

1. Mục tiêu đào tạo

2. Nội dung đào tạo (tri thức)



16



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (129 trang)

×