1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC BỒI DƢỠNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN Ở TRƢỜNG ĐẠI HỌC

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.61 MB, 106 trang )


Các quan điểm truyền thống đã ra đời hơn một thế kỷ nay, nhưng ý

nghĩa lý luận cũng như giá trị thực tiễn của chúng vẫn còn nóng hổi bởi lẽ các

học thuyết ấy ra đời trong bối cảnh nền văn minh công nghiệp đã phát triển và

vẫn tồn tại. Cho đến ngày nay vấn đề vẫn phải nghiên cứu để vận dụng được

các học thuyết và quan điểm đó trong bối cảnh hiện nay.

Thuyết quản lý khoa học (Sciencific Management) xuất hiện trong

cuốn sách “Những nguyên tắc quản lý khoa học” (The Principes of Scientific

Management) của Frederick Winlow Taylor (1856 - 1915) xuất bản năm

1911. F.W. Taylor được coi là cha đẻ của thuyết quản lý khoa học, với các

nguyên tắc cơ bản của quản lý khoa học là:

Nghiên cứu một cách khoa học mỗi yếu tố của một công việc và xác

định phương pháp tốt nhất để hình thành yếu tố đó.

Tuyển chọn công nhân một cách cẩn trọng và huấn luyện họ hoàn thành

nhiệm vụ bằng cách sử dụng các phương pháp có tính khoa học đã được hình

thành;

Người quản lý hợp tác đầy đủ và toàn diện với công nhân để đảm bảo

chắc rằng người công nhân sẽ làm việc theo những phương pháp đúng đắn;

Phân chia công việc và trách nhiệm sao cho người quản lý có bộ phận

lập kế hoạch cho các phương pháp công tác khi sử dụng những nguyên lý

khoa học, còn người công nhân có nhiệm vụ thực thi công tác theo đúng kế

hoạch đó.

Trong thập kỷ 20 - 30 của thế kỷ XX, trước những biến đổi sâu sắc về

kinh tế, xã hội, một thuyết khác trong quản lý đã xuất hiện; đó là quan điểm

về hành vi (quan điểm hệ con người). Học thuyết này giúp người quản lý ứng

xử có hiệu quả hơn với những khía cạnh con người và khía cạnh nhân bản

trong một tổ chức. Thay vì quá chú trọng đến chức năng của người quản lý,

thuyết này gắng hướng dẫn cách người quản lý thực hiện cái họ phải làm, tức

là họ phải làm thế nào để lãnh đạo, hướng dẫn người dưới quyền và giao tiếp

tốt với những người dưới quyền.



13



1.2. Lịch sử phát triển của lý luận quản lý giáo dục

Hệ thống giáo dục, đặc biệt là trong các nhà trường phổ thông ở các

nước phát triển đã được những nhà nghiên cứu về lý luận và thực tiễn quản lý

giáo dục đặc biệt quan tâm. Nhà sư phạm Cô - men - xki (1592 - 1670) khi

đặt nền móng cho hệ thống các nhà trường, đã khẳng định vấn đề quan trọng

hàng đầu trong quản lý giáo dục là “ Tổ chức hệ thống giáo dục” trên quy mô

toàn xã hội.

Những nghiên cứu về quản lý giáo dục, quản lý nhà trường ở Liên Xô

đã được chú trọng vào những năm 50 của thế kỷ XX. Năm 1956, lần đầu tiên

đã xuất hiện cuốn “ quản lý trường học” của A.Pôpôp, như là một tập hợp khá

hoàn chỉnh các chỉ dẫn cho hoạt động thực tiễn của những người làm công tác

quản lý giáo dục, đặc biệt trong lĩnh vực quản lý trường học.

Thời gian gần đây, các dịch giả và những nhà nghiên cứu khoa học

quản lý giáo dục ở Việt Nam đã dịch thành công và giới thiệu nhiều công

trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu phương tây về quản lý giáo dục,

trong số đó có các công trình: “Hành vi tổ chức giáo dục” (Organnization

Behavior in Education) của Robert J. Owens (1995), “Quản lý giáo dục, lý

thuyết, nghiên cứu và thực tiễn” (Educational Administration - Theory,

Resarch and Practice) của Wayne.K Hoy, Cecil G. Míkel (1996)

Trong hơn một thế kỉ qua, giáo dục toàn cầu đã có những bước tiến vượt

bậc. Giáo dục cơ bản đã được quan niệm như một kết cấu hạ tầng xã hội, như

một động lực phát triển kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc. Chưa

bao giờ giáo dục được quan tâm như hiện nay. Hội nghị cấp cao toàn cầu về

“Giáo dục cho mọi người” ở Jomtiem - Thái Lan (tháng 3 năm 1990) đã khẳng

định vai trò của giáo dục và đề ra “chương trình hành động” trên toàn thế giới

về giáo dục cơ bản cho mọi người. Như vậy, cả lý thuyết và thực tiễn đều đã

song hành thúc đẩy để “Quản lý giáo dục” có quy mô toàn cầu và biểu thị một

sự thật về sự tồn tại có tính toàn cầu của “Thực tiễn quản lý giáo dục”



14



1.3. Khái quát những nghiên cứu về quản lý giáo dục ở Việt Nam

Ở nước ta, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm ở mức độ cao, sâu sắc,

toàn diện đến thực tiễn quản lý giáo dục.

Nghị quyết số 14/2005/NQ - CP ngày 2/11/2005 của chính phủ về đổi

mới cơ bản và toàn diện giáo dục Đại học Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020 đã

nêu:

“Đổi mới công tác quy hoạch, đào tạo bồi dưỡng, sử dụng giảng viên

và cán bộ quản lý; xây dựng và thực hiện quy hoạch đội ngũ giảng viên và

cán bộ quản lý giáo dục Đại học. Đổi mới mạnh mẽ nội dung, chương trình

và phương pháp đào tạo, bồi dưỡng giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục

đại học. Chú trọng nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm của

giảng viên, tầm nhìn chiến lược, nâng cao sáng tạo và tính chuyên nghiệp của

cán bộ lãnh đạo, quản lý. Đổi mới phương thức tuyển dụng theo hướng khách

quan, công bằng và có yếu tố cạnh tranh. Hoàn thiện và thực hiện cơ chế hợp

đồng dài hạn, bảo đảm sự bình đẳng giảng viên biên chế hợp đồng, giữa

giảng viên ở cơ sở giáo dục công lập và cơ sở giáo dục ngoài công lập. Xây

dựng và ban hành chính sách đổi mới đối với giảng viên bao gồm tiêu chuẩn

giảng viên, định mức lao động, điều kiện làm việc, nhiệm vụ khoa học và công

nghệ, chế độ nghỉ dạy dài hạn để trao đổi học thuật và cơ chế đánh giá khách

quan kết quả công việc. Ban hành chính sách, chế độ kiêm nhiệm giảng dạy.

Đổi mới quy trình bổ nhiệm, miễn nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư theo

hướng giao cho các cơ sở giáo dục đại học thực hiện dựa trên các tiêu chuẩn

và điều kiện chung do Nhà nướcquy định. Định kì đánh giá để bổ nhiệm lại

hoặc miễn nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư. Cải cách thủ tục hành

chính xét công nhận giảng viên, giảng viên chính”[12]

Nghị quyết cũng chỉ ra những yếu kém của công tác quản lý giáo dục,

quản lý đội ngũ giảng viên dẫn đến “Đội ngũ nhà giáo thiếu về số lượng và

nhìn chung thấp về chất lượng, chưa đáp ứng được yêu cầu vừa phải tăng



15



nhanh quy mô vừa phải bảo đảm nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục. đặc

biệt là đội ngũ giảng viên các trường đại học ít có điều kiện thường xuyên

tiếp cận, cập nhật tri thức và những thành tựu khoa học công nghệ mới của

thế giới” [12]

Để thay đổi thực trạng đó, công tác quản lý giáo dục, quản lý nhà

trường cần được chúng ta nghiên cứu một cách triệt để và nghiêm túc cả về lý

luận lẫn thực tiễn.

Vào những năm 70 - 80 thế kỉ XX, ở nước ta đã có một số nhà giáo

dục như. Hà Thế Ngữ, Nguyễn Lân, Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Ngọc Quang,

Phạm Minh Hạc có những bài viết và những đề tài nghiên cứu về lĩnh vực

này. Riêng trong lĩnh vực nghiên cứu đã có các nhà khoa học như Đặng Quốc

Bảo, Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Đức Chính, Trần Khánh Đức, Nguyễn Thị

Mỹ Lộc, Đặng Bá Lãm… Trong những năm gần đây ở nước ta phương hướng

nghiên cứu về phát triển và quản lý nguồn nhân lực trong lĩnh vực giáo dục đã

được quan tâm đặc biệt; trong đó có những nghiên cứu của Đặng Ứng Vận về

“Công tác quản lý chất lượng giáo dục” (2004); Nguyễn Thị Hồng Yến về

“Vấn đề đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho giáo dục hoà nhập ở Việt

Nam” (2005); Nguyễn Công Ngọ về “Thực trạng công tác quy hoạch đội ngũ

cán bộ quản lý trường THPT tỉnh Bắc Ninh” (2005). Đặc biệt nhiều nghiên

cứu về lý luận cơ bản ở trên đã trở thành cơ sở lý luận để các học viên cao

học và nghiên cứu sinh thực hiện thành công những luận văn thạc sĩ và luận

án tiến sĩ thuộc chuyên ngành quản lý giáo dục. Khái quát trên về những công

trình nghiên cứu ở trong và ngoài nước liên quan đến đối tượng nghiên cứu

của luận văn cho thấy nhiều nghiên cứu đã đi sâu giải quyết những vấn đề lý

luận cơ bản về quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nguồn nhân lực, nhưng

những nghiên cứu về biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng đội ngũ giảng

viên của một trường đại học ngoài công lập trong điều kiện Việt Nam hiện

nay còn ít và chưa hệ thống. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Biện pháp quản



16



lý công tác bồi dƣỡng đội ngũ giảng viên trƣờng Đại học Thành Đô giai

đoạn 2010 - 2015” không những góp phần nâng cao lý luận trong quản lý

giáo dục ngoài công lập mà còn là sự tổng kết thực tiễn giúp nhà trường nâng

cao hơn nữa hiệu quả quản lý công tác bồi dưỡng đội ngũ giảng viên để hoàn

thành cho được yêu cầu đào tạo của nhà trường trong giai đoạn hiện nay.

1. 4. Các khái niệm cơ bản

1.4.1. Giảng viên, đội ngũ giảng viên

1.4.1.1. Giảng viên

Trong bối cảnh của giai đoạn công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước

hiện nay, lao động của nhà giáo trực tiếp đáp ứng nhu cầu về nhân lực, nhân

tài và dân trí cho xã hội. Lao động của nhà giáo không chỉ có ý nghĩa xã hội

sâu sắc mà còn chứa đựng ý nghĩa kinh tế lớn lao. Vì vậy, có thể khẳng định

những vấn đề kinh tế - xã hội và chính trị của quốc gia sẽ không giải quyết

được nếu không phát triển giáo dục, phát triển nhà trường mà hạt nhân của nó

là nhà giáo.

Theo Điều 70, Luật Giáo dục được Quốc hội thông qua ngày 14/6/2005

thì “Nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong trường đại học và sau

đại học gọi là giảng viên”. Đây là những “công chức, viên chức chuyên môn

đảm nhiệm việc giảng dạy, đào tạo ở bậc Đại học, Cao đẳng thuộc chuyên

ngành đào tạo của trường Đại học hoặc Cao đẳng”.

Cũng theo Điều 70, Luật Giáo dục thì giảng viên phải có đầy đủ những

tiêu chuẩn sau:

- Phẩm chất đạo đức tư tưởng tốt;

- Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ;

- Đủ sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp;

- Lý lịch bản thân rõ ràng.



17



Giảng viên là những người lao động trí óc, với đặc trưng lao động trí

tuệ, sáng tạo, họ là những người làm công tác giảng dạy, trực tiếp tham gia

vào quá trình giáo dục đại học nhằm đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao,

bồi dưỡng và phát triển nhân tài cho đất nước, là lực lượng chủ yếu giữ vai trò

quyết định trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo của trường.

Để hoàn thành được vai trò, nhiệm vụ của mình, người giảng viên phải

có những năng lực nhất định. Năng lực là tập hợp các kỹ năng, kiến thức,

hành vi và thái độ mà các cá nhân cần có để đạt được mục tiêu công việc mà

tổ chức đề ra. Năng lực một mặt mang tính di truyền, mặt khác được hình

thành, phát triển và hoàn thiện trong các hoạt động của đời sống.

Đối với đội ngũ giảng viên, trình độ và năng lực của họ một mặt có thể

được đánh giá thông qua học hàm, học vị, là những danh hiệu được xã hội

công nhận thông qua thành tích hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học,

mặt khác được đánh giá thông qua chất lượng hoạt động thực tiễn trong môi

trường giảng dạy và nghiên cứu khoa học.

Những yêu cầu cụ thể đối với giảng viên đại học được quy định theo

tiêu chuẩn ngạch giảng viên trong tiêu chuẩn chung các ngạch công chức

chuyên ngành giáo dục và đào tạo ban hành kèm theo quyết định số

202/TCCP-VC ngày 08/06/1994 của ban tổ chức - cán bộ Chính phủ. Trong

đó giảng viên được phân chia thành 3 ngạch: giảng viên, giảng viên chính và

giảng viên cao cấp. Mỗi ngạch lại có những tiêu chuẩn và yêu cầu về trình độ

riêng.

Giảng viên

Đối với giảng viên, viên chức chuyên môn đảm nhiệm việc giảng dạy

và đào tạo ở bậc đại học, cao đẳng thuộc một chuyên ngành đào tạo của

trường Đại học hoặc Cao đẳng, yêu cầu về trình độ bao gồm:

- Có bằng cử nhân trở lên



18



- Đã qua thời gian tập sự giảng viên theo quy định hiện hành

- Có ít nhất hai chứng chỉ bồi dưỡng sau đại học: chương trình chính

trị, triết học nâng cao cho nghiên cứu sinh và cao học, chứng chỉ những vấn

đề cơ bản về tâm lý học và lý luận dạy học ở bậc đại học.

- Sử dụng được một ngoại ngữ trong chuyên môn ở trình độ B

Giảng viên chính

Giảng viên chính là viên chức chuyên môn đảm nhiệm vai trò chủ chốt

trong giảng dạy và đào tạo bậc đại học và sau đại học thuộc một chuyên

ngành đào tạo của trường đại học. Tiêu chuẩn để công nhận là một giảng viên

chính bao gồm:

- Có bằng thạc sỹ trở lên

- Có thâm niên ở ngạch giảng viên ít nhất là 9 năm

- Sử dụng được một ngoại ngữ trong chuyên môn ở trình độ C

- Có đề án hoặc công trình sáng tạo được cấp khoa và trường công nhận

và được áp dụng có kết quả trong công việc.

Giảng viên cao cấp

Giảng viên cao cấp là viên chức có chuyên môn cao nhất đảm nhiệm

vai trò chủ trì, tổ chức chỉ đạo, thực hiện giảng dạy và đào tạo bậc đại học và

sau đại học, chuyên trách giảng dạy về một chuyên ngành đào tạo ở trường

đại học. Đây là đội ngũ nòng cốt trong quá trình giảng dạy, giữ vai trò chủ

đạo trong công tác chuyên môn và đảm nhiệm các công việc đòi hỏi có

chuyên môn và nghiệp vụ cao, chủ trì các hoạt động khoa học, là tiêu biểu cho

phương hướng phát triển mới của bộ môn. Yêu cầu với giảng viên cao cấp

bao gồm:

- Có bằng tiến sỹ về chuyên ngành đào tạo



19



- Là giảng viên chính có thâm niên giảng dạy ở ngạch tối thiểu là 6 năm

- Có trình độ lý luận chính trị cao cấp

- Sử dụng được hai ngoại ngữ để phục vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa

học và giao tiếp quốc tế (ngoại ngữ thứ nhất tương đương với trình độ C,

ngoại ngữ thứ hai tương đương với trình độ B).

- Có tối thiểu 03 công trình khoa học sáng tạo được hội đồng khoa học

trường đại học hoặc chuyên ngành công nhận và đưa vào áp dụng có hiệu quả.

1.4.1.2. Đội ngũ giảng viên

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo “Đội ngũ là một tập thể người gắn kết với

nhau, cùng chung lý tưởng, mục đích, ràng buộc nhau về vật chất, tình thần

và hoạt động theo một nguyên tắc” [1].

Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm đội ngũ nhưng nhìn

chung các khái niệm này đều có chung một điểm đó là: Một nhóm người được

tổ chức và tập hợp thành một lực lượng, để thực hiện một hay nhiều chức

năng, có thể cùng hay không cùng nghề nghiệp, nhưng đều có chung một mục

đích nhất định. Sức mạnh của đội ngũ lớn hơn cộng số học sức mạnh các

thành viên. Trong cuộc sống chúng ta có thể thấy từ đội ngũ được dùng rộng

rãi trong các tổ chức xã hội hiện nay như: đội ngũ cán bộ công chức, đội ngũ

giáo viên, đội ngũ giảng viên, đội ngũ văn nghệ sỹ…. đều được hiểu là đội

ngũ.

Từ những khái niệm trên có thể hiểu: Đội ngũ giảng viên là tập thể

những nhà giáo đƣợc tổ chức thành một lực lƣợng có cùng chung nhiệm

vụ là thực hiện các mục tiêu giáo dục đã đặt ra cho tập thể ngƣời đó.

ĐNGV là lực lượng chủ yếu, giá trị cơ bản cũng như vốn quý nhất của

trường đại học, cao đẳng. Với tri thức, tài nghệ và kinh nghiệm, sự hiểu biết

sâu sắc, ĐNGV là nhân vật trung tâm trong nhà trường, quyết định chất lượng



20



và hiệu quả giáo dục - đào tạo của nhà trường. Vì vậy, đầu tư cho nguồn lực

mà nòng cốt là ĐNGV là điều kiện cốt yếu, cần thiết cho việc nâng cao chất

lượng và hiệu quả đào tạo trong nhà trường.

1.4.2. Bồi dưỡng, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên

1.4.2.1. Bồi dưỡng

Khái niệm bồi dưỡng đã và đang được nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu

và đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau.

Trong từ điển Giáo dục từ bồi dưỡng được hiểu theo nhiều nghĩa:

- Nghĩa rộng: Là quá trình giáo dục, đào tạo nhằm hình thành nhân

cách và những phẩm chất riêng biệt của nhân cách theo định hướng mục đích

đã chọn (ví dụ: bồi dưỡng cán bộ, bồi dưỡng các đức tính: cần, kiệm, liêm,

chính…)

- Nghĩa hẹp: Là trang bị thêm các kiến thức, kỹ năng nhằm mục đích

nâng cao và hoàn thiện năng lực hoạt động trong các lĩnh vực cụ thể (ví dụ:

bồi dưỡng kiến thức, bồi dưỡng lý luận, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm…)

Theo định nghĩa của Unesco: “Bồi dưỡng có ý nghĩa nâng cao trình độ

nghề nghiệp. Quá trình này chỉ diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu

nâng cao kiến thức hoặc kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ của bản thân nhằm

đáp ứng nhu cầu lao động nghề nghiệp”.

Từ những định nghĩa nêu trên, bồi dưỡng có thể được hiểu là quá trình

bổ sung kiến thức, kỹ năng liên quan đến nghề nghiệp để nâng cao trình độ

trong một lĩnh vực hoạt động chuyên môn nhất định giúp chủ thể bồi dưỡng

có cơ hội củng cố, mở mang hoặc nâng cao hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo,

chuyên môn nghiệp vụ có sẵn nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả công việc

đang làm.

Như vậy, bồi dưỡng là làm tăng thêm trình độ hiện có của đội ngũ

giảng viên (cả phẩm chất, năng lực, sức khỏe). Trong đó, chủ thể bồi dưỡng là

người lao động đã được đào tạo và đã có một trình độ chuyên môn nhất định.



21



1.4.2.2. Bồi dưỡng đội ngũ giảng viên

Bồi dưỡng ĐNGV là nhiệm vụ trọng tâm, ưu tiên hàng đầu trong việc

phát triển của mỗi trường. Việc bồi dưỡng ĐNGV không những nhằm mục

tiêu phục vụ yêu cầu tăng quy mô đào tạo, nâng cao chất lượng giảng dạy ở

giai đoạn hiện nay mà còn chuẩn bị cho những bước phát triển mạnh mẽ trong

tương lai của giáo dục đại học và nền kinh tế - xã hội. Như vậy, vấn đề cốt lõi

của bồi dưỡng ĐNGV là nhằm đạt tới mục tiêu “chất lượng ĐNGV” phù hợp

với quan điểm chỉ đạo của Đảng trong thời kỳ mới cũng như sự chỉ đạo của

Thủ tướng Chính phủ được thể hiện trong quyết định số: 09/QĐ-TTg ban

hành ngày 11/01/2005 về việc phê duyệt đề án “Xây dựng nâng cao chất

lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005-2010”.

Vậy chúng ta hiểu, bồi dưỡng ĐNGV chính là bồi dưỡng, nâng cao

chất lượng ĐNGV cả về kiến thức, phẩm chất và đạo đức giảng viên. Mục

tiêu bồi dưỡng là đào tạo được những con người toàn diện vừa có “tài” vừa có

“đức”, có lý tưởng, có sức khỏe, có khả năng thích ứng trước mọi hoàn cảnh.

Người giảng viên là người trực tiếp tham gia vào quá trình đào tạo, giáo dục

con người nên nên người giảng viên cũng phải hội tụ đầy đủ những phẩm

chất, giá trị như mục tiêu giáo dục đề ra.

1.4.3. Quản lý và cơ sở pháp lý của quản lý công tác bồi dưỡng đội

ngũ giảng viên

1.4.3.1. Quản lý

Mọi hoạt động của xã hội đều cần tới quản lý. Quản lý trở thành một

hoạt động phổ biến, diễn ra trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Ngày nay

quản lý không những là một hoạt động cụ thể mà còn là một khoa học, một

nghệ thuật và là một trong những nghề phức tạp nhất trong xã hội. Các khái

niệm về quản lý cũng ngày càng phong phú, mở rộng và phát triển. Dưới đây

là một số định nghĩa khái niệm về quản lý.



22



Đề cập đến vấn đề quản lý C. Mác viêt: “ Tất cả mọi lao động trực tiếp

hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cần

đến một sự chỉ đạo để tiến hành các hoạt động cá nhân và thực hiện các chức

năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể, khác với sự vận

động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình

điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”[ 22 ].

Theo tác giả người Mỹ Harold Koontz: “Quản lý là một hoạt động thiết

yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của

nhóm. Mục tiêu của nhà quản lý là hình thành một môi trường mà con người

có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất với sự

bất mãn ít nhất. Với tư cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật, còn với

kiến thức thì quản lý là một khoa học” [15].

Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động

quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người

quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm

làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”.[5]

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang “ Quản lý là tác động có mục đích,

có kế hoạch của chủ thể quản lý đến những người lao động nói chung là

khách thể quản lý nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [30]

Thuật ngữ “quản lý” tiếng Việt gốc Hán gồm hai quá trình tích hợp vào

nhau: Quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn duy trì ở trạng thái ổn định và

quá trình “lý” gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa vào thế phát triển. Nếu

người đứng đầu tổ chức chỉ lo việc “quản”, tức là chỉ lo được một vế và

ngược lại. Như vậy, trong quá trình giữ cho hệ ổn định phải tạo mầm mống

cho hệ “phát triển”, nghĩa là trong “quản” phải có “lý” và khi thúc đẩy cho hệ

“phát triển” thì phải giữ hạt nhân của sự “ổn định”. Như vậy trong “lý” phải

có “Quản”. Vậy phạm trù “quản” và “lý” gắn bó khăng khít, mật thiết với

nhau hay nói cách khác là “quản” và “lý” quan hệ biện chứng với nhau.



23



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (106 trang)

×