1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC BỒI DƢỠNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC THÀNH ĐÔ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.61 MB, 106 trang )


và Đào tạo, Bộ Khoa học - Công nghệ và Môi trường. Trung tâm khoa học Tự

nhiên và Công nghệ Quốc gia, Trung tâm khoa học xã hội và Nhân văn Quốc

gia cùng các Bộ có liên quan cần bàn bạc để trước mắt có thể huy động đội

ngũ cán bộ nghiên cứu tham gia giảng dạy đại học và tiến tới có sự kết hợp về

mặt tổ chức, sao cho các công tác đào tạo đại học và nghiên cứu khoa học gắn

bó chặt chẽ với nhau”.

Thực hiện mục tiêu này, trường Đại học Thành Đô đã tích cực xây

dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị dạy học và đặc biệt quan tâm tới

công tác xây dựng đội ngũ cán bộ giảng dạy. Sự phát triển của công nghệ thời

gian gần đây đã giúp trường chủ động tạo điều kiện để đội ngũ cán bộ giảng

dạy hoàn thiện kiến thức và học tập nâng cao trình độ các dạng đào tạo cho

đội ngũ giảng viên: Học cao học, làm nghiên cứu sinh và nghiên cứu ở nước

ngoài đều được nhà trường ủng hộ và tạo điều kiện. Chính nhờ sự chuẩn bị tốt

về cơ sở vật chất, và đội ngũ cán bộ giảng dạy nên nhà trường luôn sẵn sàng

đáp ứng nhu cầu đào tạo dưới mọi hình thức của Bộ Giáo dục & Đào tạo.

Địa điểm của trường hiện nay:

Xã Kim Chung, Huyện Hoài Đức, TP. Hà Nội

2.1.2 Cơ cấu tổ chức

Cơ cấu tổ chức của Trường ĐHTĐ được tổ chức theo cơ cấu trực tuyến,

đảm bảo các yêu cầu về cơ cấu tổ chức quy định trong Điều lệ trường đại

học và phù hợp với điều kiện, quy mô đào tạo trong từng giai đoạn phát triển

của Trường. Tất cả các phòng, ban, khoa, tổ trong Trường đều có mối liên

quan tương trợ nhau. Đứng đầu Trường là hội đồng cổ đông rồi đến hiệu

trưởng và các phó hiệu trưởng, hội đồng khoa học và đào tạo, các phòng

chức năng, các khoa và bộ môn trực thuộc và các tổ chức sự nghiệp khác.

Hội đồng quản trị

Là tổ chức chịu trách nhiệm về phương hướng hoạt động của trường,

huy động và giám sát việc sử dụng các nguồn lực dành cho trường, gắn nhà



44



trường với cộng đồng và xã hội, bảo đảm thực hiện mục tiêu giáo dục. Có

quyền quyết định những vấn đề thuộc về tổ chức, nhân sự, tài chính, tài sản,

quy hoạch và kế hoạch, phương hướng đầu tư phát triển của trường phù hợp

với quy định của pháp luật.

Hiệu trưởng và các phó Hiệu trưởng

Hiệu trưởng là người đại diện cho trường triển khai thực hiện các nhiệm

vụ được giao; có trách nhiệm điều hành các hoạt động của trường và chịu

trách nhiệm về các quyết định của mình đối với các vấn đề liên quan đến

trường trước Hội đồng Quản trị, Bộ Giáo dục và Đào tạo và pháp luật.

Phó Hiệu trưởng là những người giúp Hiệu trưởng quản lý điều hành các

hoạt động của trường, trực tiếp phụ trách một số lĩnh vực công tác theo sự

phân công của Hiệu trưởng và giải quyết các việc do Hiệu trưởng giao.

Hội đồng Khoa học và Đào tạo

Là tổ chức tư vấn cho Hiệu trưởng về quy hoạch và chiến lược phát triển

nhà trường, mục tiêu, chương trình đào tạo, kế hoạch dài hạn và kế hoạch

hàng năm về đào tạo, khoa học và công nghệ. Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ

giảng viên, cán bộ, nhân viên cơ hữu của trường.

Các phòng chức năng

1. Phòng Đào tạo

2. Phòng Tổ chức- Hành chính

3. Phòng Kế toán

4. Phòng Nghiên cứu khoa học và Hợp tác quốc tế

5. Phòng Quản lý HS-SV và Thanh tra giáo dục

Các khoa và Bộ môn trực thuộc

1. Khoa Quản trị -Thông tin thư viện



45



2. Khoa Khoa học cơ bản

3. Khoa Ngoại ngữ

4. Khoa Công nghệ kĩ thuật môi trường

5. Khoa Du lịch

6. Khoa Công nghệ thông tin

7. Khoa Công nghệ kĩ thuật ôtô

8. Khoa Điện - Điện tử

9. Khoa Hợp tác đào tạo

10. Khoa Kế toán

11. Bộ môn Giáo dục thể chất và Quốc phòng

Các tổ chức sự nghiệp khác

1. Ban đào tạo lái xe

2. Trung tâm Tin học - Ngoại ngữ

3. Trung tâm Thông tin - Thư viện

4. Trung tâm Tuyển sinh và giới thiệu việc làm

5. Trung tâm Khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục

Hình 2.1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức trƣờng Đại học Thành Đô



46



CƠ CẤU TỔ CHỨC TRƯỜNG ĐẠI HỌC THÀNH ĐÔ



NGND. Ngô Xuân Độ



HT: TS. Ngô Xuân Hà

PHT: PGS. Đào Văn Tân

PHT:TS. Ngô Thị Kim Dung

PHT: ThS. Phạm Mạnh Hải



KHOA HỌC VÀ ĐÀO TẠO



Ban đào tạo lái xe

TB: An Văn Vĩnh

Trung tâm TH - NN – Khảo thí

GĐ: ThS. Phan Thị Thanh Thảo

Trung tâm TT-TV

GĐ:ThS Nguyễn Thị Hảo

Trung tâm TS & GTVL

GĐ: Lê Quang Chính

Bộ môn GDTC – GDQP

TBM: Mai Văn Quyết



Hình 2.1. Cơ cấu tổ chức trường Đại học Thành Đô



Khoa Quản trị - TTTV

TK: TS. Nguyễn Hà Hữu

Khoa Kế Toán

TK: TS. Ngô Thị Kim Dung

Khoa Khoa học cơ bản

TK: TS. Trần Doãn Phú

Khoa Ngoại ngữ

TK: ThS. Phan Thị Thanh Thảo

Khoa CNKT Môi trường

TK: TS. Đỗ Văn Sáng

Khoa CNTT

TK: TSKH. Phạm Trần Nhu

Khoa CNKT Ô tô

TK: PGS. TS. Hoàng Đình Hiếu

Khoa Hợp tác Đào tạo

TK: TS. Phạm Tiến Bình

Khoa Du lịch

TK: TS. Nguyễn Văn Đảng

Khoa Điện – Điện tử

TK: PGS. TS. Đào Văn Tân

Phòng NCKH – QHQT

TP: TS. Đỗ Văn Tốn

Phòng Kế toán

TP: Hoàng Thị Giang

Phòng Đào tạo

TP: TS. Đỗ Văn Tốn

Phòng QLHS-SV & TTrGD

TP: Nguyễn Hữu Việt

Phòng TC – HC

TP: Phạm Hoàng Giang



47



ĐOÀN TNCS HCM

Bí thư

Mai Văn Quyết

HỘI ĐỒNG



CÔNG ĐOÀN

Chủ tịch

Lưu Trọng Hưng



CHI BỘ ĐCSVN

Bí thư: TS. Ngô Xuân Hà

Phó Bí thư: TS. Ngô Thị Kim Dung

CHỦ TỊCH HĐQT

BAN GIÁM HIỆU



2.1.3 Mục tiêu đào tạo

Trường Đại học Thành Đô đào tạo hệ đại học, cao đẳng và cao đẳng

nghề với các loại hình đào tạo như chính quy, liên thông, nghề nhằm đáp

ứng nhu cầu học tập đa dạng của xã hội, góp phần tăng tiềm lực cho nguồn

nhân lực của đất nước với các mục tiêu chính như sau:

- Kiên trì thực hiện đa dạng hóa loại hình đào tạo mở rộng quy mô

trên địa bàn Hà Nội cũng như tại các địa phương trên cả nước đối với loại

hình đào tạo liên thông liên kết.

- Lấy đào tạo chính quy và liên kết đào tạo là mục tiêu kiên định phát

triển nhà trường đồng thời mở rộng các loại hình đào tạo từ các chương

trình đào tạo ngắn hạn, liên thông từ trung cấp lên cao đẳng, từ cao đẳng

lên đại học và từ trung cấp lên đại học.

- Đưa chất lượng đào tạo lên một tầm cao mới và thể hiện được uy

tín trong các khóa đào tạo đã ra trường.

- Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế, liên kết với các

trường có uy tín của các nước nhằm đáp ứng nhu cầu đào tạo của thị trường

trong nước hiện nay, đồng thời có cơ hội cọ sát với tiêu chuẩn của các nước

bạn để nâng cao chất lượng đào tạo của mình.

- Tăng cường tiềm lực, nâng cao sức cạnh tranh trong đào tạo bằng

chính nguồn thu từ học phí cùng việc tận dụng cơ hội để có được các

chương trình mục tiêu từ Bộ.

Để đạt được mục tiêu này, trường Đại học Thành Đô cần phải có

chuyển biến mới về quy mô, chất lượng đào tạo, tăng cường cơ sở vật chất

và thực hiện các biện pháp quản lý đồng bộ, trong đó quan trọng nhất là

phải hoàn thiện công tác quản lý và bồi dưỡng trình độ chuyên môn cho

đội ngũ giảng viên.

2.2 Thực trạng đội ngũ giảng viên trƣờng Đại học Thành Đô

2.2.1 Quy trình tuyển dụng

Căn cứ vào nhu cầu công việc, kế hoạch và nguồn tài chính, trường

Đại học Thành Đô xây dựng kế hoạch tuyển dụng, quyết định hình thức



48



tuyển dụng và thông báo tuyển dụng. Mục đích của việc thông báo tuyển

dụng là cung cấp một nhóm đủ lớn các ứng cử viên nhằm tạo điều kiện cho

tổ chức có thể lựa chọn những thành viên có kỹ năng cần thiết.

Việc thông báo tuyển dụng hiện phải được tiến hành công khai trên

các phương tiện thông tin đại chúng như đăng báo, đăng trên các trang

website Tuyển dụng việc làm hoặc qua nhiều nguồn khác. Có hai kênh chủ

yếu, đó là: Tuyển dụng từ bên trong và bên ngoài tổ chức

Tuyển dụng từ bên trong

Tuyển dụng từ bên trong tổ chức có một số ưu điểm sau:

- Họ là những thành viên của tổ chức nên đã quen thuộc với các hoạt

động, nề nếp, quy định, truyền thống… của tổ chức và họ có thể nhanh

chóng thích nghi với nhiệm vụ mới được giao nếu họ đáp ứng được các yêu

cầu tiêu chuẩn như quy định trong thông báo.

- Vì đã có thời gian nhất định làm việc trong tổ chức nên đối với một

số tổ chức cần tuyển gấp những cán bộ này không những có đủ trình độ

năng lực chuyên môn và các mặt khác mà còn đã quen việc tiếp cận, giải

quyết công việc một cách độc lập, môi trường áp lực cao nên có thể đáp

ứng được ngay mà không cần qua giai đoạn hướng dẫn tập sự hay thử việc.

- Cũng vì có thời gian làm việc trong trường, người quản lý đã biết

được trình độ năng lực chuyên môn, hoặc trình độ quản lý các dự án nên

trong trường hợp cần thiết người quản lý có thể đề bạt hoặc bổ nhiệm các

chức vụ đã thông báo trong tiêu chuẩn. Việc đề bạt này có thể khích lệ sự

gắn bó, kiên định với trường cũng như cổ vũ sự nỗ lực của các thành viên

đã được tuyển dụng và các thành viên khác đang là nguồn tuyển dụng của

trường.

- Sử dụng nguồn tuyển dụng từ nội bộ trường có thể ít tốn kém hơn

nguồn tuyển dụng từ bên ngoài.

- Tuy nhiên nhà quản lý cũng cần lưu ý cách làm này là làm cho

trường “tươi mới” hơn nhưng cũng dễ dẫn đến sự tự mãn của nhiều thành



49



viên khác và gây nên trạng thái tâm lý “sống lâu lên lão làng” của một bộ

phận cán bộ giáo viên giầu kinh nghiệm, thành tích.

Tuyển dụng từ nguồn bên ngoài trường

Đối với đội ngũ giảng viên thì nguồn tuyển dụng từ bên ngoài chủ

yếu là các cơ sở đào tạo như trường đại học, học viện, viện nghiên cứu và

các nguồn nhân lực được đào tạo từ nước ngoài về.

Quá trình tuyển dụng cần thực hiện theo quy trình chặt chẽ và khoa

học nhằm tuyển được những người thực sự tài giỏi để bổ sung cho trường.

Nghị định 116/NĐ-CP ngày 10/10/3003 của Chính phủ cũng quy định rõ

và khuyến khích những người có trình độ cao khi thi tuyển hoặc xét tuyển

vào các cơ quan hành chính sự nghiệp: “Trong thời gian thử việc, người

tốt nghiệp đạt trình độ chuẩn theo quy định được hưởng 85% bậc lương

khởi điểm của ngạch tuyển dụng; nếu có học vị thạc sĩ phù hợp với yêu

cầu tuyển dụng thì được hưởng 85% lương bậc 2 của ngạch tuyển dụng;

nếu có học vị tiến sĩ phù hợp với yêu cầu tuyển dụng thì được hưởng 85%

lương bậc 3 của ngạch tuyển dụng”.

Thực hiện Nghị định 116/2003/NĐ-CP Nghị định của Chính phủ về

việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các đơn vị sự

nghiệp của Nhà nước và Thông tư số 10/2004/TT-BNV về việc hướng dẫn

thực hiện một số điều của Nghị định 116/2003/NĐ-CP về tuyển dụng cán

bộ công chức, trường Đại học Thành Đô đã thực hiện đúng các quy định về

tuyển dụng theo các quy trình, quy định của Nhà nước cũng như của

trường. Tuy nhiên số lượng tuyển dụng bổ sung cho ĐNGV chủ yếu dựa

trên chất lượng. Quan điểm của nhà trường là để phấn đấu trở thành trường

Đại học tiến tiến trong khu vực thì trước hết khâu tuyển chọn nhân lực là

rất quan trọng, đặc biệt là đối với giảng viên vì “giảng viên phải hơn hẳn

sinh viên một cái đầu”. Do vậy trong khi thực hiện đúng các quy trình, quy

định đã thông báo rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng, “thực

hiện chiêu đãi hiền tài”, thông qua thi tuyển phải chọn được những người



50



tài giỏi thực sự. Vì thế hàng năm số lượng hồ sơ nộp dự tuyển vào trường

nhiều hơn rất nhiều số lượng chỉ tiêu cần tuyển, nhà trường tuyển chọn và

tổ chức thi tuyển chặt chẽ đúng quy định. Cụ thể, năm 2009 số lượng dự thi

là 185, số trúng tuyển là 35.

Hình 2.2: Thống kê số lượng tuyển dụng giảng viên

Tổng số



Năm 2007



Năm 2008



Năm 2009



Năm 2010



115



10



15



35



55



( Nguồn: Phòng tổ chức hành chính, Trường ĐHTĐ)

Bảng thống kê về số lượng cán bộ tuyển dụng bổ sung cho đội ngũ

giảng viên trên cho thấy, tổng số giảng viên tuyển được là 115, trong đó 20

người có trình độ Tiến sỹ (chiếm 17,39%); 55 người có trình độ thạc sỹ

(chiếm 47,82%); 15 người trình độ đại học (đang học cao học) (chiếm

13,04%) số còn lại là những sinh viên tốt nghiệp đại học loại giỏi được

chuyển tiếp học cao học.

Cũng qua số liệu thống kê trên cho thấy năm 2009 số lượng giảng

viên tuyển được vượt hơn hẳn so với các năm trước. Nguyên nhân là do

trong năm 2009, trường được nâng cấp lên Đại học, sau khi kiện toàn và

ổn định đội ngũ giảng viên nhà trường thấy cần thiết phải bổ sung ngay số

lượng giảng viên cho các khoa để đảm bảo tỷ lệ giảng viên với sinh viên

theo quy định. Nhà trường đã tổ chức hai đợt tuyển dụng trong năm 2010,

đợt 1 vào tháng 8 và đợt 2 vào tháng 12/2009. Tổng số giảng viên tuyển

chọn được là 55 người, trong đó có: 15 thạc sỹ, 25 đại học (đang học cao

học) và 15 tốt nghiệp loại giỏi.

2.2.2 Số lượng đội ngũ giảng viên

Để đáp ứng nội dung chương trình, mục tiêu yêu cầu đào tạo của

trường, ĐNGV trong thời gian qua đã được cải thiện về số lượng và chất



51



lượng. Hiện nay toàn trường có 433 giảng viên trong đó 179 là GVCH

(chiếm 41,33 % ) và 254 là GVTG (chiếm 58,67%). 100% số GVCH có

trình độ đại học trở lên, nhiều giảng viên có hai bằng đại học hoặc đang

theo học cao học. Trình độ thực tế của đội ngũ GVCH của trường hiện nay

được thống kê như sau:

- Cử nhân đại học và Kỹ sư: 90 chiếm 50,27 % (65 giảng viên đang

học cao học)

- Thạc sỹ: 65 chiếm 36,31 % (có 4 giảng viên đang là NCS)

- Tiến sỹ và TSKH: 16 giảng viên, chiếm 8,92 %

- Học hàm PGS. TS: 8 giảng viên, chiếm 4,50 %

Ngoài số lượng giảng viên cơ hữu của Trường, để đáp ứng mục tiêu

yêu cầu đào tạo, trường đã mời thỉnh giảng nhiều giảng viên có trình độ cao

của trường Đại học Công nghiệp Hà Nội, Đại học Thương Mại, Học viện

Tài chính,…với tỉ lệ:

- Cử nhân đại học và Kỹ sư: 75 (45 giảng viên đang học cao học)

- Trình độ thạc sỹ: 155

- Trình độ TS và TSKH: 23

- Học hàm PGS. TS: 01 giảng viên

Hình 2.3: Trình độ đội ngũ giảng viên trường Đại học Thành Đô

GVCH



Trình độ/

Học hàm



GVTG

Tỉ lệ



Ghi chú



SL



Tỉ lệ



SL



Đại học



90



50,27%



75



29,52% 65 GV đang học cao học



Thạc sỹ



65



36,31%



155



61,03% 4 GV đang làm NCS



Tiến sỹ



16



8,92%



23



9,05%



GS, PGS



8



4,50%



01



0,40%



Tổng số



179



100%



254



100%



4 NCS, 65 CH



(Nguồn: Phòng tổ chức hành chính, Trường ĐHTĐ)



52



2.2.3 Cơ cấu giảng viên

2.2.3.1. Cơ cấu giảng viên cơ hữu theo các khoa

Hình 2.4: Cơ cấu ĐNGV theo khoa

Stt



Khoa



Số lƣợng



1



Kế toán



25



2



Điện - Điện tử



30



3



Quản trị & TT - Thư viện



20



4



Công nghệ KT môi trường



9



5



Khoa học cơ bản



15



6



Công nghệ kĩ thuật Ô tô



11



7



Ngoại ngữ



25



8



Hợp tác đào tạo



6



9



Công nghệ thông tin



20



Du lịch



Ghi chú



20



10



Tổng số



179



( Nguồn: Phòng tổ chức hành chính, Trường ĐHTĐ )

2.2.3.2. Cơ cấu đội ngũ giảng viên theo trình độ học vấn

Trong tình hình hiện nay, khi sự thay đổi công nghệ luôn đòi hỏi

thay đổi nhiều về kỹ năng, kỹ xảo trong thực hành và cách thức học tập của

sinh viên thì trình độ học vấn của ĐNGV là một trong những yêu cầu và

tiêu chuẩn phản ánh chất lượng đội ngũ giảng viên. Hiện tại trình độ học

vấn của ĐNGV trong trường Đại học Thành Đô được thể hiện ở bảng sau:



53



Hình 2.5: Trình độ học vấn của giảng viên cơ hữu trong trường

PGS/

Stt



Khoa



Tiến

sỹ



Tỉ lệ



Thạc



Tỉ lệ



Cử



Tỉ lệ



%



sỹ



%



nhân



%



1



Kế toán



4



16,68%



10



15,39%



15



16,67%



2



Hợp tác đào tạo



1



4,16%



2



3,07%



2



2,22%



3



Quản trị và TT-TV



2



8,35%



8



12,30%



11



12,22%



4



Công nghệ Môi trƣờng



1



4,16%



3



4,61%



6



6,66%



5



Điện - Điện tử



5



20,85%



15



23,08%



5



5,56%



6



Khoa học cơ bản



3



12,5%



5



7,70%



8



8,89%



7



Công nghệ Ô tô



2



8,35%



4



6,15%



9



10,0%



8



Ngoại ngữ



0



0%



5



7,70%



15



16,67%



9



Công nghệ thông tin



3



12,5%



8



12,30%



10



11,11%



3



12,45%



5



7,70%



9



10,0%



24



100%



65



100%



90



100%



10 Du lịch



Tổng số



( Nguồn: Phòng tổ chức hành chính, Trường ĐHTĐ )

Qua số liệu hình 2.5 ta thấy ở thời điểm hiện tại tỷ lệ giảng viên có

trình độ học vấn sau đại học chiếm tỉ lệ nhiều hơn giảng viên có trình độ

đại học mặc dù tỉ lệ này ở các khoa là chưa đồng đều.

Nhiều khoa nổi bật về đội ngũ giảng viên có trình độ học vấn cao tỉ

lệ sau đại học chiếm tới 45% tổng số giảng viên của khoa. Tuy vậy có

những khoa như khoa ngoại ngữ chưa có tiến sỹ và số giảng viên đạt trình

độ thạc sỹ còn ít.

Mặc dù nhiều giảng viên hiện nay đang theo học sau đại học và NCS

và sẽ là nguồn bổ sung lực lượng có trình độ học vấn cao trong thời gian



54



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (106 trang)

×