1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO TRONG TRƯỜNG CAO ĐẲNG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.62 MB, 144 trang )


suất lao động. Một cá nhân nào đó chỉ biết chấp nhận sự phân công mà không biết

hợp tác lao động thì lao động không có sự sáng tạo. Ngược lại có tinh thần hợp tác

lao động nhưng bản thân lại không có năng lực tối thiểu trong công việc thì năng

suất lao động cũng không cao. Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp

tác lao động này. Chính sự phân công hợp tác lao động nhằm đến hiệu quả nhiều

hơn, năng suất cao hơn trong công việc đòi hỏi phải có sự chỉ huy phối hợp, điều

hành, kiểm tra, chỉnh lý ... phải có người đứng đầu. Đây là hoạt động để người thủ

trưởng phối hợp nỗ lực các thành viên trong nhóm, trong cộng đồng, trong tổ chức

đạt được mục tiêu đề ra. Nói tóm lại, quản lý gắn liền với cuộc sống, với hoạt động

của con người vì thế nó rất đa dạng và phức tạp. Nhận thức của con người về quản

lý vì thế cũng rất phong phú. Cho đến nay có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về

quản lý như: Quan điểm tiếp cận lịch sử, tiếp cận phân tích tổng hợp, tiếp cận mục

tiêu, tiếp cận hệ thống…

Các tác giả đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về quản lý, ví dụ như:

Konlova OV cho rằng: “Quản lý là tính toán sử dụng các nguồn lực

(nhân lực, vật lực, tài chính) nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ với kết quả tối

ưu về kinh tế – xã hội”[16,tr.9].

Theo Phan Văn Kha: “Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo

và kiểm tra công việc của các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và việc sử

dụng các hệ thống nguồn lực phù hợp để đạt được các mục đích đã

định”[14,tr.4].

Xét quản lý với tư cách là một hành động, Vũ Ngọc Hải cho rằng:

“Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối

tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra”[10,tr.2].

Xét theo chức năng quản lý, hoạt động quản lý thường được định

nghĩa: Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng

các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra [1,tr.1].

Tiếp cận trên phương diện hoạt động của một tổ chức, tác giả Mạc Văn

Trang viết: “Quản lý là một quá trình chủ thể (quản lý) tác động đến đối

6



tượng (quản lý) một cách có chủ đích, có tổ chức, dựa trên các nguồn lực và

những điều kiện có thể có nhằm đạt được mục đích đã xác định” [26,tr.9].

Về vấn đề này, Mác - Ăngghen khẳng định: " Bất kỳ một lao động xã

hội của một cộng đồng nào được tiến hành trên quy mô tương đối lớn cũng

đều cần có sự quản lý, nó xác lập hài hoà các mối quan hệ giữa các công việc

riêng rẽ và thực hiện những chức năng chung nhất, xuất phát từ sự vận động

của toàn bộ cơ cấu sản xuất (khác với sự vận động của từng bộ phận độc lập

của nền sản xuất ấy). Một nghệ sỹ chơi đàn chỉ phải điều khiển chính mình

nhưng một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng"(Mác - Ăngghen toàn tập,

tập 23, trang 342). Như vậy, có thể hiểu: Quản lý là sự tác động có ý thức để

chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của

con người để đạt tới mục đích, đúng ý chí của người quản lý và phù hợp với

quy luật khách quan.

Từ những quan niệm khác nhau trên về quản lý, có thể nói:

Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý

(người quản lý) tới khách thể quản lý (người bị quản lý), trong một tổ chức

chính trị, văn hóa, kinh tế, xã hội... bằng một hệ thống các luật lệ, chính

sách, nguyên tắc, các phương pháp và biện pháp cụ thể ... nhằm làm cho tổ

chức vận hành và đạt mục tiêu của tổ chức.

Có thể khái quát nội dung cơ bản của quản lý được đề cập đến trong

các quan niệm trên là:

- Quản lý là thuộc tính bất biến, nội tại của mọi quá trình hoạt động xã

hội. Lao động quản lý là điều kiện quan trọng để làm cho xã hội loài người

tồn tại, vận hành và phát triển.

- Quản lý được thực hiện với một tổ chức hay một nhóm xã hội

- Quản lý bao giờ cũng là những tác động có tính hướng đích, là những

tác động phối hợp nỗ lực của các cá nhân thực hiện mục tiêu của tổ chức.

- Yếu tố con người, trong đó chủ yếu bao gồm người quản lý và người

bị quản lý giữ vai trò trung tâm trong chu trình, trong hoạt động quản lý.

7



- Quản lý thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận chủ thể quản lý và đối tượng

quản lý; đây là quan hệ ra lệnh - phục tùng, không đồng cấp và có tính bắt buộc.

- Quản lý là sự tác động, mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp với

quy luật khách quan.

- Quản lý có khả năng thích nghi giữa chủ thể với đối tượng quản lý và

ngược lại.

Có thể sơ đồ hoá về quản lý như sau:

Sơ đồ 1.1: Mô hình về quản lý

Chủ thể

quản lý



Khách thể

quản lý

Mục tiêu

quản lý



Nội dung

quản lý



Công cụ, PP

quản lý



Trong đó:

 Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức.

 Khách thể quản lý là những con người cụ thể và sự hình thành tự nhiên

các mối quan hệ giữa những con nguời , giữa những nhóm người.

 Nội dung quản lý là các yếu tố cần quản lý của khách thể quản lý đối

với đối tượng quản lý.

 Công cụ quản lý là các phương tiện tác động của chủ thể quản lý tới

khách thể quản lý như: mệnh lệnh , quyết định , luật lệ , chính sách …

 Phương pháp quản lý là cách thức tác động của chủ thể tới khách thể quản lý.

 Mục tiêu quản lý là trạng thái tương lai của đối tượng quản lý được xác

định bởi các nhiệm vụ quản lý và các điều kiện, phương tiện, hoàn

cảnh trong quá trình thực hiện.

1.2.1.2. Bản chất của quản lý

8



Bản chất của hoạt động quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng

đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm thực hiện mục tiêu quản

lý. Trong giáo dục đó là sự tác động của nhà quản lý giáo dục đến tập thể

giáo viên, học sinh và các lực lượng khác trong xã hội nhằm thực hiện hệ

thống các mục tiêu giáo dục.

1.2.1.3. Các chức năng cơ bản của quản lý

Chức năng quản lý là những nội dung và phương thức hoạt động cơ

bản mà nhờ đó chủ thể quản lý tác động đến đối tượng quản lý trong quá

trình quản lý nhằm thực hiện mục tiêu quản lý. Có 4 chức năng:

*Kế hoạch hoá (planning): có nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích đối

với thành tựu tương lai của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức để

đạt được mục tiêu, mục đích đó. Có 3 nội dung chủ yếu của chức năng kế

hoạch hoá:

- Xác định, hình thành mục tiêu (phương hướng) đối với tổ chức.

- Xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn, có tính cam kết) về các

nguồn lực của tổ chức để đạt được các mục tiêu này.

- Quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được các

mục tiêu đó.

* Tổ chức (organizing): Khi người quản lý đã lập xong kế hoạch, họ cần

phải chuyển hoá những ý tưởng khá trừu tượng thành hiện thực. Xét về mặt chức

năng quản lý, tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các

thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành

công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức. Nhờ việc tổ chức có

hiệu quả, người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn vật lực và

nhân lực. Thành tựu của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của người

quản lý sử dụng các nguồn lực này sao cho có hiệu quả và có kết quả.

* Chỉ đạo (lãnh đạo) (leading): Sau khi kế hoạch đã được lập, cơ cấu

bộ máy đã hình thành, nhân sự đã được tuyển dụng thì phải có ai đó đứng ra

lãnh đạo, dẫn dắt tổ chức. Chỉ đạo cũng bao hàm việc liên kết, liên hệ với

9



người khác và động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt

được mục tiêu của tổ chức. Tất nhiên là việc lãnh đạo không chỉ mới được

hình thành sau khi việc lập kế hoạch và tổ chức đã hoàn tất mà nó đã được

bắt đầu và thấm vào, ảnh hưởng quyết định tới hai chức năng kia.

* Kiểm tra (controlling): Kiểm tra là một chức năng quản lý, thông qua

đó một cá nhân, một nhóm hoặc một tổ chức theo dõi giám sát các thành quả

hoạt động và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết. Một

kết quả hoạt động phải phù hợp với những chi phí bỏ ra, nếu không tương ứng

thì phải tiến hành những hành động điều chỉnh, diễn ra có tính chu kỳ như sau:

- Người quản lý đặt ra những chuẩn mực thành đạt của hoạt động.

- Người quản lý đối chiếu, đo lường kết quả, sự thành đạt so với chuẩn

mực đã đặt ra.

- Người quản lý tiến hành điều chỉnh những sai lệch.

- Người quản lý hiệu chỉnh, sửa lại chuẩn mực nếu cần.

Sơ đồ 1.2: Mối quan hệ giữa các chức năng quản lý

LẬP KẾ HOẠCH



Tæ choc



KiÓm tra



Lãnh đạo



Trên đây là bốn chức năng quản lý chung nhất mà bất kỳ chủ thể quản

lý nào cũng đều thực hiện, với mọi đối tượng quản lý, trong bất kỳ lĩnh vực

ngành nghề nào, dù ở cấp độ quản lý nào. Sự phân loại những chức năng của

quản lý giúp cho các quá trình quản lý được triển khai toàn diện, cân đối, có

cơ sở khoa học, đi sâu vào bản chất của quản lý.

Mỗi chức năng quản lý có một nội dung khác nhau, khi vận dụng

chúng, nhà quản lý phải căn cứ vào tính chất của chu trình quản lý, phải tiến

hành, xử lý một cách cụ thể, tuỳ thuộc vào tình huống và điều kiện cụ thể.

10



Điều này đòi hỏi nhà quản lý trước hết phải nắm vững kiến thức cần thiết về

cơ cấu bộ máy, về các mối quan hệ đặc trưng của hệ thống quản lý và cơ bản

phải có một quá trình rèn luyện, trau dồi, đúc kết những kỹ năng, kinh ngiệm

quản lý để vận dụng, giải quyết công việc một cách hiệu quả.

1.2.1.4. Vai trò của quản lý

Trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội đều có sự tham gia

của hoạt động quản lý. Mỗi lĩnh vực tuy có những đặc thù riêng, song đều có

những nét cơ bản đặc trưng của quản lý. Chính các hoạt động chức năng này

đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động

của từng tổ chức. Thực chất vai trò của quản lý là việc phối hợp nỗ lực của

mọi thành viên trong tổ chức để thực hiện được mục tiêu đề ra, mà trong đó

người cán bộ quản lý đóng vai trò là người đại diện, người phát ngôn và người

ra quyết định thực hiện. Vai trò của quản lý được phân chia thành 3 nhóm

gồm:

- Vai trò liên đại diện: Gồm vai trò thủ lĩnh, vai trò liên hệ tập hợp tổ chức.

- Vai trò thông tin: Người cán bộ quản lý vừa là người giữ vai trò của

người hiệu thính viên vừa là phát tin viên, đồng thời vừa là phát ngôn viên.

- Vai trò quyết định: Gồm vai trò người sáng nghiệp, vai trò người dàn

xếp, phân phối nguồn lực, vai trò thương thuyết.

1.2.1.5. Mục tiêu của quản lý:

Là cần tạo dựng một môi trường mà trong đó mỗi người có thể hoàn

thành được mục đích của mình, của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và

sự bất mãn cá nhân ít nhất.

1.2.1.6. Đối tượng của quản lý:

Là các quan hệ quản lý, tức là quan hệ giữa chủ thể và đối tượng quản

lý. Quản lý nghiên cứu các quan hệ phát sinh trong quá trình hoạt động của

con người, của các tổ chức. Những quan hệ này có thể là quan hệ của con

người với môi trường, của tổ chức với môi trường. Quản lý nghiên cứu các

mối quan hệ này nhằm tìm ra quy luật và cơ chế vận dụng những quy luật đó

11



trong quá trình tác động lên con người, thông qua đó tác động lên các yếu tố vật

chất và phi vật chất khác như vốn, vật tư, trang thiết bị, công nghệ, thông tin ...

một cách có hiệu quả và từ đó xác định các nguyên tắc, chính sách, công cụ,

phương pháp và các hình thức tổ chức quản lý để không ngừng hoàn thiện và

nâng cao chất lượng quản lý.

1.2.1.7. Tính khoa học của quản lý

Khoa học quản lý ngày càng phát triển và được khẳng định là một môn

khoa học độc lập vì nó có cơ sở lý luận là những khái niệm, phạm trù, tính

quy luật và quy luật khách quan để từ đó những người nghiên cứu và các nhà

quản lý thực tiễn nắm lấy, vận dụng nhằm đưa ra các quyết định phù hợp với

các điều kiện khách quan.

1.2.1.8. Tính nghệ thuật của quản lý:

Quản lý là một khoa học nhưng mang tính nghệ thuật. Kiến thức làm

cơ sở cho quản lý là một khoa học, còn vận dụng kiến thức đó để quản lý lại

là một nghệ thuật. Ở đây, khoa học và nghệ thuật không loại trừ nhau, mà

ngược lại chúng phụ trợ cho nhau. Tính nghệ thuật của quản lý xuất phát từ

tính đa dạng phong phú của các sự vật và hiện tượng trong kinh tế xã hội và

trong quản lý. Tính nghệ thuật của quản lý còn xuất phát từ bản chất của quản

lý tổ chức, suy cho cùng là tác động tới con người với những nhu cầu hết sức

đa dạng và phong phú. Những mối quan hệ của con người luôn đòi hỏi nhà

quản lý phải xử lý khéo léo linh hoạt và khó có thể trả lời một cách chung

nhất là làm thế nào thì tốt hơn.

1.2.1.9. Các thuộc tính của quản lý:

- Thuộc tính tổ chức - kỹ thuật của quản lý xác định cụ thể những hoạt

động, công việc mà chủ thể quản lý phải thực hiện (trả lời câu hỏi làm quản lý là

làm cái gì?); đối tượng mà chủ thể quản lý phải tác động để tạo ra sự thay đổi (trả

lời câu hỏi: Đối tượng cơ bản của quản lý là gì?) và các giá trị gia tăng mà quản lý

đem lại cho tổ chức và từng thành viên trong tổ chức (trả lời câu hỏi: Mục đích

của quản lý là gì?). Ở phương diện này quản lý không thể hiện rõ tính giai cấp.

12



Nói cách khác, mặc dù ở các thể chế xã hội khác nhau nhưng quản lý vẫn vận

hành với các yếu tố tổ chức - kỹ thuật có hình thức giống nhau. Trình độ của quản

lý phụ thuộc vào trình độ văn minh của xã hội. Như vậy có nhiều phương diện

tương đồng trong hoạt động quản lý ở mọi tổ chức và ở mọi chủ thể quản lý.

- Thuộc tính kinh tế - xã hội của quản lý đòi hỏi phải trả lời những câu hỏi như:

Tổ chức được thành lập và hoạt động vì mục đích gì? Người nắm quyền lãnh đạo,

điều hành trong tổ chức là ai? Giá trị gia tăng nhờ quản lý thuộc về ai? Ở phương diện

này, quản lý thể hiện rõ tính giai cấp. Ai, giai cấp nào nắm quyền sở hữu tư liệu sản

xuất thì người đó, giai cấp đó nắm quyền lãnh đạo, quản lý. Theo đó, mỗi tổ chức

được hình thành sẽ hướng đến những mục đích khác nhau và giá trị gia tăng được tạo

ra bởi quản lý sẽ được phân phối khác nhau tuỳ theo tính chất và mục đích của mỗi tổ

chức.

Như vậy, sẽ có sự khác biệt giữa các yếu tố của quản lý ở các tổ chức

khác nhau cũng như ở từng chủ thể quản lý. Mỗi tổ chức, mỗi chủ thể quản lý

có những đặc trưng riêng trong hoạt động quản lý phản ánh tính sáng tạo của

quản lý và tạo ra sự đa dạng trong quản lý xã hội.

1.2.2. Quản lý giáo dục

1.2.2.1.Khái niệm

Giáo dục là một chức năng của xã hội loài người được thực hiện một

cách tự giác, nó tồn tại, vận động, phát triển với tư cách là một hệ thống.

Theo cách nói của Mác thì "dàn nhạc" giáo dục trong quá trình tồn tại và phát

triển tất yếu phải có sự quản lý giáo dục (nhạc trưởng).

Cũng như khái niệm quản lý giáo dục nói chung, khái niệm quản lý

giáo dục cũng được biểu đạt một cách rất đa dạng tuỳ theo những phương

diện nghiên cứu và tiếp cận của nhà nghiên cứu về quản lý giáo dục.

"Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức, có

mục đích của các chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của

hệ thống ... nhằm đảm bảo việc giáo dục cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, đảm

bảo sự phát triển toàn diện và hài hoà của họ trên cơ sở nhận thức và sử dụng

13



các quy luật chung của xã hội cũng như các quy luật khách quan của quá trình

dạy học và giáo dục, của sự phát triển thể chất và tâm lý của trẻ em ..."[17,tr.94].

"Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy

luật của chủ thể quản lý, nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối giáo dục của

Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam mà tiêu

điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục dến

mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất"[ 22,tr.12].

Theo các khái niệm quản lý đã trình bày ở trên, có thể định nghĩa khái niệm

quản lý giáo dục như sau: Quản lý giáo dục là một dạng của quản lý xã hội trong

đó diễn ra quá trình tiến hành những hoạt động khai thác, lựa chọn, tổ chức và thực

hiện các nguồn lực, các tác động của chủ thể quản lý theo kế hoạch chủ động để

gây ảnh hưởng đến đối tượng quản lý được thực hiện trong lĩnh vực giáo dục,

nhằm thay đổi hay tạo ra hiệu quả cần thiết vì sự ổn định và phát triển của giáo dục

trong việc đáp ứng các yêu cầu mà xã hội đặt ra đối với giáo dục.

Phân tích khái niệm này có thể nhận thấy:

- Quản lý giáo dục là một dạng của quản lý xã hội, vì thế nó có đầy đủ

các đặc điểm của quản lý nói chung và quản lý xã hội nói riêng.

- Do tính đặc thù của quản lý giáo dục mà những đặc điểm của quản lý

giáo dục có nội dung và hình thái thể hiện khác biệt với các dạng quản lý xã

hội khác. Điều đó được thể hiện như: Tính chất quản lý nhà nước được thể

hiện rõ nét trong quản lý giáo dục ngay cả với quản lý tác nghiệp tại trường

học và các cơ sở giáo dục; Đối tượng chủ yếu của quản lý là con người,

nhưng quản lý con người trong quản lý giáo dục còn có ý nghĩa là sự huấn

luyện, giáo dục con người, tạo dựng cho họ có khả năng thích ứng được với

các vai trò xã hội mà họ đã và sẽ đảm nhận ...

1.2.2.2. Bản chất của quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục, xét về bản chất là một khoa học và một nghệ thuật trong

việc điều khiển, phối kết hợp các bộ phận, phân hệ và các cá nhân trong phần tử của



14



hệ thống giáo dục nhằm đưa hệ thống đạt tới những trạng thái phát triển mới về chất,

đáp ứng các yêu cầu mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục.

Quản lý giáo dục được thực hiện ở cấp độ vĩ mô và vi mô. Trọng tâm của

quản lý giáo dục ở cấp độ vĩ mô là quản lý trường học. Trọng tâm của quản lý giáo

dục ở cấp độ vi mô là quản lý hoạt động dạy học và giáo dục trong nhà trường và cơ

sở giáo dục. Do vậy có thể biểu đạt một cách khác về bản chất của quản lý giáo dục

như sau: Quản lý giáo dục về bản chất là quản lý nhà trường, quản lý các hoạt động

giáo dục (nghĩa rộng) và các hoạt động khác diễn ra trong nhà trường.

Sơ đồ 1.3: Mô hình về quản lý giáo dục

QLGD vĩ mô -



QL của Nhà



Hệ thống GD



QL Nhà nước về



nước từ trung



với các phân hệ



GD



ương đến địa



từ GD mầm non



phương



đến GDĐH



QUẢN



QL của lãnh



Trường học/cơ







đạo nhà trường/



sở giáo dục



GIÁO



cơ sở GD



DỤC



QLGD vi mô QL tác nghiệp



Quản lý của các



Hoạt động dạy



tại trường học /



tổ chuyên môn



học và giáo dục



cơ sở giáo dục



Quản lý của

người dạy và

người học



1.2.2.3.Chức năng của quản lý giáo dục:

Quản lý giáo dục cũng có những chức năng cơ bản của quản lý nói

chung, đó là bốn chức năng cơ bản có liên quan mật thiết với nhau bao gồm:

Lập kế hoạch; Tổ chức; Chỉ đạo ; Kiểm tra, đánh giá.

1.2.2.4. Nhiệm vụ của quản lý giáo dục:

15



Hệ thống giáo dục là một hệ thống mở luôn luôn vận động và phát

triển theo quy luật chung của sự phát triển kinh tế - xã hội và chịu sự quy

định của kinh tế - xã hội. Do đó, quản lý giáo dục cũng luôn luôn phải đổi

mới, đảm bảo tính năng động, khả năng tự điều chỉnh và thích ứng của giáo

dục đối với sự vận động và phát triển chung. Nếu hệ thống giáo dục được tổ

chức, quản lý hợp lý, vận hành đúng, tính năng động của giáo dục sẽ ngày

càng tác động trở lại một cách tích cực với sự phát triển chung và sẽ đóng vai

trò là động lực phát triển của kinh tế - xã hội. Ngày nay, công tác giáo dục

cũng đã được định hướng rõ ràng, có nhiều chủ trương chính sách và biện

pháp lớn, giúp công tác quản lý có nhiều thuận lợi trong đó tập trung vào

nhiệm vụ sau đây:

- Tiếp tục hoàn chỉnh hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng hiện đại

hóa, dân chủ hóa, đa dạng hóa, xã hội hóa với các trọng tâm, trọng điểm và

có bước phát triển thích hợp trong từng giai đoạn phát triển kinh tế – xã hội.

- Đổi mới công tác giáo dục, tăng cường quyền hạn trách nhiệm cơ

quan quản lý giáo dục các cấp, tăng cường công tác thanh tra giáo dục, khẩn

trương đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục các cấp, tạo cho giáo dục vừa

tiếp cận với xu thế đổi mới chung, vừa là phát triển lành mạnh, có kỷ cương.

Nhằm đạt tới mục tiêu đã định, xứng đáng là một trong những động lực phát

triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới.

1.2.2.5. Nội dung quản lý giáo dục

Mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục, người

dạy, người học, cơ sở vật chất, thiết bị, môi trường, kết quả giáo dục là các

thành tố trong nội dung quản lý giáo dục- một hệ thống toàn vẹn.

Quản lý giáo dục bao gồm:

- Quản lý mục tiêu giáo dục

- Quản lý nội dung giáo dục

- Quản lý phương pháp giáo dục

- Quản lý hình thức tổ chức giáo dục

16



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (144 trang)

×