1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.71 MB, 112 trang )


giáo viên và học sinh. Trong nhà trường phổ thông, đội ngũ giáo viên lại được

sắp xếp theo từng tổ chuyên môn nên việc quản lý hoạt động của đội ngũ giáo

viên đối với người Hiệu trưởng chính là quản lý hoạt động của tổ chuyên môn

trong nhà trường thông qua đội ngũ TTCM. Vì vậy, nghiên cứu biện pháp chỉ

đạo đội ngũ TTCM của Hiệu trưởng trong hoạt động tổ chuyên môn nhằm nâng

cao chất lượng dạy học của giáo viên THPT là một vấn đề tưởng như đơn giản

nhưng lại rất khó khăn, phức tạp.

Quản lý chuyên môn để nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường

thì đã có rất nhiều công trình, nhiều đề tài nghiên cứu. Riêng ở trường Đại Giáo

dục- Đại học Quốc gia Hà Nội đã có nhiều nghiên cứu quản lý chuyên môn ở

nhiều khía cạnh khác nhau như quản lý hoạt động dạy học, quản lý công tác bồi

dưỡng chuyên môn,…. phân bố ở tất cả các bậc học từ Mầm non, Tiểu học,

Trung học cơ sở đến các Trung tâm Giáo dục thường xuyên cũng như các

trường Đại học, Cao đẳng và Trung học chuyên nghiệp. Thế nhưng cho đến nay

các đề tài nghiên cứu về công tác quản lý, chỉ đạo TTCM của Hiệu trưởng đối

với hoạt động tổ chuyên môn ở trường THPT chưa được nghiên cứu nhiều và

chưa có đề tài nào đề cập đến vấn đề này một cách cụ thể như vậy.

Xuất phát từ thực tế trên, tôi cho rằng công tác quản lý, chỉ đạo của Hiệu

trưởng đối với hoạt động tổ chuyên môn ở Trường THPT Lý Thường Kiệt, Long

Biên, Hà Nội là vấn đề cấp thiết, cần được nghiên cứu nghiêm túc nhằm góp

phần nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo trong giai đoạn hiện nay.

1.2. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu

1.2.1. Quản lý

- Theo PGS.TS. Đặng Quốc Bảo: Quản lý là quá trình tác động gây ảnh

hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung

[4, tr.176] và: Công tác quản lý lãnh đạo một tổ chức xét cho cùng là thực hiện

hai quá trình liên hệ chặt chẽ với nhau: Quản và Lý.“Quản” gồm sự coi sóc,



- 14 -



giữ gìn, duy trì hệ ở trạng thái ổn định, quá trình “Lý” gồm việc sửa sang sắp

xếp, đổi mới đưa vào thế “phát triển”.

- Theo TS. Nguyễn Quốc Chí và GS.TS. Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì: “Quản

lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý)

đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ

chức vận hành đạt được mục đích của tổ chức”. [11, tr.16]

-Theo GS.TS Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có

kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể của những người lao động (nói chung

là khách thể quản lý ) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến”. [31, tr.31].

Tóm lại, một cách khái quát có thể hiểu: Quản lý là quá trình tác động có

tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ

chức, thông qua công cụ và phương pháp quản lý nhằm làm cho tổ chức đó vận

hành thuận lợi và đạt được mục tiêu đã đề ra.

Quá trình tác động đó thể hiện qua mô hình dưới đây [23 ,tr.8]:

Công cụ

quản lý



Khách thể

quản lý



Chủ thể

quản lý



Mục tiêu

quản lý



Phương pháp

quản lý



Sơ đồ 1.1. Mô hình về quản lý

1.2.2. Các chức năng quản lý

Một tổ chức đều cần phải có sự quản lý và có người quản lý để tổ chức hoạt

động và đạt được mục đích của mình. Hoạt động quản lý gồm có bốn chức năng

cơ bản:

- 15 -



- Chức năng kế hoạch hoá: Bản chất của khái niệm kế hoạch hoá là quá

tŕnh xác định mục tiêu , mục đích đối với các thành tựu, tương lai của tổ chức và

các con đường, biện pháp, cách thức, điều kiện cơ sở vật chất để đạt được mục

tiêu, mục đích đó.

- Chức năng tổ chức: Theo hai tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ

Lộc: “Tổ chức là quá trình hình thành nên các quan hệ giữa các thành viên, giữa

các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế

hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức”.[12, tr.13]

- Chức năng chỉ đạo: Là huy động lực lượng để thực hiện kế hoạch, là biến

những mục tiêu trong dự kiến thành kết quả thực hiện. Phải giám sát các hoạt

động, các trạng thái vận hành của hệ đúng tiến trình, đúng kế hoạch. Khi cần

thiết phải điều chỉnh, sửa đổi, uốn nắn nhưng không làm thay đổi mục tiêu

hướng vận hành của hệ nhằm nắm vững mục tiêu chiến lược đã đề ra.

- Chức năng kiểm tra đánh giá: Nhiệm vụ của kiểm tra nhằm đánh giá trạng

thái của hệ, xem mục tiêu dự kiến ban đầu và toàn bộ kế hoạch đã đạt tới mức độ

nào, kịp thời phát hiện những sai sót trong quá trình hoạt động , tìm nguyên nhân

thành công, thất bại giúp cho chủ thể quản lý rút ra những bài học kinh nghiệm.

Tóm lại: Kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra là các chức năng cơ bản

được hình thành trong sự phân công và chuyên môn hoá hoạt động quản lý.

Trong những chức năng trên, mỗi chức năng đảm nhận vị trí, vai trò nhất định,

song các chức năng này có mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau. Việc thực

hiện các chức năng quản lý không thể thiếu thông tin quản lý. Thông tin là mạch

máu của quản lý. Thông tin giúp cho việc tổng hợp các chức năng quản lý, vì thế

nó cần thiết cho sự phát triển của tổ chức. Điều này đòi hỏi nhà quản lý phải biết

quan tâm coi trọng đến các chức năng trong quản lý, có như vậy mới chỉ đạo

thực hiện đạt được mục tiêu đề ra.



- 16 -



Chu trình quản lý được thể hiện qua sơ đồ 1.2. [23, tr.80]

Kế hoạch



Kiểm tra



Thông tin



Tổ chức



Chỉ đạo



Sơ đồ 1.2. Sơ đồ các chức năng quản lý

1.2.3. Quản lý giáo dục

Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, nên quản lý giáo dục được hình

thành và phát triển là một tất yếu khách quan. Có nhiều quan điểm khác nhau về

quản lý giáo dục.

- “Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách

thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả

mong muốn bằng cách hiệu quả nhất” [31, tr.56]

- “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là điều hành, phối hợp các lực lượng

nhằm đầy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội” [5, tr.31]

- “Quản lý giáo dục là tổ chức các hoạt động dạy học. Có tổ chức được

các hoạt động dạy học, thực hiện được các tính chất của nhà trường phổ

thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa, mới quản lý được giáo dục, tức là cụ thể

hoá đường lối giáo dục của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp

ứng nhu cầu của nhân dân, của đất nước” [34, tr.9]

- “Quản lý giáo dục là hoạt động tự giác của chủ thể quản lý nhằm huy

động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh , giám sát…… một cách có hiệu quả các

nguồn lực giáo dục (nhân lực, tài lực, vật lực) phục vụ cho mục tiêu phát triển

giáo dục, đáp ứng các yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội ” [25, tr.10]

Những khái niệm về quản lý giáo dục nêu trên tuy có những cách diễn đạt

khác nhau nhưng nhìn chung lại có thể hiểu là: Quản lý giáo dục là sự tác động

- 17 -



có tổ chức, có định hướng phù hợp với quy luật khách quan của chủ thể quản lý

ở các cấp lên đối tượng quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục của từng cơ sở và

của toàn bộ hệ thống giáo dục đạt tới mục tiêu đã định.

Trong quản lý giáo dục, chủ thể quản lý ở các cấp chính là bộ máy quản lý

giáo dục từ Trung ương đến địa phương, còn đối tượng quản lý chính là nguồn

nhân lực, cơ sở vật chất kỹ thuật và các hoạt động thực hiện chức năng của GDĐT. Hiểu một cách cụ thể là:

- Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có kế hoạch, có ý tưởng, có mục

đích của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý.

- Quản lý giáo dục là sự tác động lên tập thể giáo viên, học sinh và các lực

lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường, nhằm huy động họ cùng phối hợp, tác

động tham gia các hoạt động giáo dục của nhà trường để đạt mục đích đã định.

Trên cơ sở lý luận chung ta thấy rằng thực chất của quản lý giáo dục là

quản lý hoạt động dạy học của giáo viên và hoạt động học của học sinh nhằm

đạt hiệu quả cao nhất trong việc nâng cao chất lượng giáo dục và hình thành

nhân cách của học sinh .

Nói chung, giáo viên được hiểu là sự tác động của chủ thể quản lý đến

khách thể quản lý trong lĩnh vực giáo dục. Nói một cách rõ ràng hơn, đầy đủ hơn,

giáo viên là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp qui luật của

chủ thể quản lý trong hệ thống giáo dục, là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc

dân, các cơ sở giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực,

bồi dưỡng nhân tài. Giáo viên là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã

hội nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục theo yêu cầu phát triển xã hội.

1.2.4. Quản lý nhà trường

Nhà trường là một thể chế xã hội- nhà nước, là một đơn vị tổ chức hoàn

chỉnh, cơ quan giáo dục chuyên biệt thực hiện chức năng GD-ĐT của Nhà nước

và của cộng đồng xã hội chuẩn bị cho thế hệ trẻ có nhân cách để vững vàng

bước vào cuộc sống. Vì thế trường học luôn có mối quan hệ tác động qua lại

- 18 -



với môi trường xã hội. PGS.TS Đặng Quốc Bảo đã viết: “Trường học là một

thiết chế xã hội trong đó diễn ra quá trình đào tạo giáo dục với hoạt động

tương tác của hai nhân tố “Thầy–Trò”. “Trường học là bộ phận của cộng đồng

và trong guồng máy của hệ thống giáo dục quốc dân, nó là đơn vị cơ sở”. [5]

Theo tác giả Phạm Minh Hạc, khi bàn về khái niệm quản lý nhà trường đã

khẳng định: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng

trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo

nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành

giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh.” [15, tr.20].

Theo tác giả Phạm Viết Vượng: “Quản lý trường học là lao động của các cơ

quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức lao động của giáo viên, học sinh và các

lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để

nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường” ".[34, tr.23]

Căn cứ nhiệm vụ và quyền hạn của nhà trường được qui định trong mục 2

điều 58, chương III của Luật giáo dục nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt

Nam năm 2005 thì: Quản lý trường học trước hết là quản lý dạy và học, quản

lý các hoạt động bên trong của nhà trường, đồng thời phải bao gồm việc quản lý

các quan hệ giữa nhà trường và xã hội bên ngoài.

Quản lý nhà trường là lĩnh vực quản lý tác nghiệp giáo dục, nghĩa là quản

lý việc dạy - học diễn ra trong trường học. Quá trình giáo dục là một hệ thống

phức tạp bao gồm các thành tố: Mục tiêu giáo dục, nội dung giáo dục, phương

pháp giáo dục, phương tiện, người dạy, người học, môi trường giáo dục, kết quả

giáo dục. Các thành tố đó vừa có tính độc lập tương đối, có tính đặc trưng riêng

biệt nhưng có mối quan hệ mật thiết lẫn nhau, tác dụng tương hỗ nhau, gắn bó

với nhau tạo nên một thể thống nhất. Người quản lý phải làm sao cho các thành

tố đó của quá trình giáo dục vận động đồng bộ, hài hoà và phát triển không

ngừng, có như vậy thì tổ chức giáo dục sẽ phát triển bền vững.

Công tác quản lý trường học chính là những công việc của nhà trường mà

người cán bộ quản lý trường học thực hiện những chức năng quản lý theo yêu cầu

- 19 -



và nhiệm vụ quy định. Đó là các hoạt động có ý thức, có kế hoạch và có định

hướng của chủ thể quản lý tác động tới các hoạt động của nhà trường nhằm thực

hiện các chức năng, nhiệm vụ mà trung tâm đó là hoạt động dạy và học trong nhà

trường. Ở góc độ cụ thể thì quản lý trường học là việc người cán bộ quản lý tổ

chức, chỉ đạo và điều hành mọi hoạt động của nhà trường, trong đó mọi hoạt động

đều hướng tới hiệu quả của hoạt động trung tâm là dạy và học đáp ứng được mục

tiêu giáo dục.

1.2.5. Chức năng chỉ đạo trong quản lý nhà trường

Cũng giống như bất kì một quá trình quản lý nào, quản lý nhà trường cũng

gồm có bốn chức năng cơ bản là: chức năng lập kế hoạch; chức năng tổ chức;

chức năng chỉ đạo và chức năng kiểm tra.

Chức năng chỉ đạo là một khâu quan trọng trong việc tổ chức thực hiện

được kế hoạch đã đề ra. Đây là chức năng đặc thù của người quản lý, nó biểu

hiện rất rõ nét năng lực của người quản lý. Chức năng chỉ đạo tác động đến con

người bằng các mệnh lệnh làm cho người dưới quyền phục tùng và làm việc

đúng với kế hoạch, đúng với nhiệm vụ được phân công. Đó là sự tác động đối

với cá nhân hoặc một nhóm người làm cho họ tích cực, hăng hái làm việc theo

sự phân công và kế hoạch đã định. Trong chỉ đạo bao hàm cả chỉ dẫn, động viên,

thúc đẩy, giám sát người dưới quyền thi hành nhiệm vụ được giao, tạo động lực

để con người hoạt động tích cực bằng các biện pháp động viên, khen chê đúng

mức phù hợp. Trong chỉ đạo hoạt động của nhà trường phải bám sát quy chế, kế

hoạch chương trình để giám sát cán bộ, giáo viên; chỉ vẽ, hướng dẫn, uốn nắn

khéo léo nhằm thực hiện được mục tiêu đề ra một cách đúng hướng, phát huy

được khả năng tự quản, khả năng của đội ngũ tổ trưởng,…. .

Tóm lại, khi thực hiện chức năng chỉ đạo, Hiệu trưởng cần làm những việc

sau: Nội dung chức năng chỉ đạo:

- Xác định đường hướng, thực hiện quyền chỉ huy, giao việc và hướng dẫn

triển khai các hoạt động và các nhiệm vụ.

- 20 -



- Đôn đốc, động viên, kích thích tạo động lực làm việc cho giáo viên thực

hiện mục tiêu đã xác định.

- Giám sát, sửa chữa đảm bảo các hoạt động đúng với đường hướng đã đề ra ,

bám sát yêu cầu thực thi kế hoạch của nhà trường.

- Xây dựng môi trường thúc đẩy các hoạt động phát triển, xây dựng cơ chế

thi đua, khen thưởng.

1.3. Vị trí, nhiệm vụ, mục tiêu và đối tƣợng giáo dục của trƣờng trung học

phổ thông

1.3.1. Vị trí, vai trò của trường trung học phổ thông

Điều 2, Điều lệ trường trung học (2007) (Ban hành kèm theo Quyết định số:

07/2007/QĐ-BGDĐT ngày 02/4/2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo)

quy định: “Trường trung học là cơ sở giáo dục phổ thông của hệ thống giáo dục

quốc dân. Trường có tư cách pháp nhân và có con dấu riêng”.

Trường THPT là cấp học cuối cùng của giáo dục phổ thông, gồm 3 năm

học. Đây là bậc học hoàn thiện kiến thức phổ thông cho học sinh, là bậc học tạo

nguồn cho các yêu cầu đào tạo của xã hội; đồng thời chuẩn bị tích cực cho thế

hệ trẻ đi vào cuộc sống xã hội và lao động sản xuất làm nghĩa vụ công dân và có

điều kiện học lên.

Vai trò của giáo dục THPT là giáo dục thế hệ thanh niên trở thành những

người lao động mới, làm chủ tập thể và phát triển toàn diện, sẵn sàng tham gia

xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa”.

1.3.2. Nhiệm vụ của trường trung học phổ thông

Theo Điều 2, Điều lệ trường trung học (2007) quy định nhiệm vụ của

trường trung học là: tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác

của chương trình giáo dục phổ thông; quản lý giáo viên, cán bộ, nhân viên; tham

gia tuyển dụng và điều động giáo viên, cán bộ, nhân viên; tuyển sinh và tiếp

nhận học sinh, vận động học sinh đến trường, quản lý học sinh theo quy định

của Bộ GD-ĐT; thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục trong phạm vi cộng đồng;

- 21 -



huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực cho hoạt động giáo dục; phối hợp với

gia đình học sinh, tổ chức và cá nhân trong hoạt động giáo dục; quản lý, sử dụng

và bảo quản cơ sở vật chất, trang thiết bị theo quy định của Nhà nước; tổ chức

cho giáo viên, nhân viên, học sinh tham gia hoạt động xã hội; tự đánh giá chất

lượng giáo dục và chịu sự kiểm định chất lượng giáo dục của cơ quan có thẩm

quyền kiểm định chất lượng giáo dục; thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác

theo quy định của pháp luật.

1.3.3. Đối tượng giáo dục của trường trung học phổ thông

Theo Điều 26 và điều 27- Luật Giáo dục 2005 thì: Giáo dục THPT được

thực hiện trong ba năm học, từ lớp mười đến lớp mười hai. Học sinh vào học lớp

mười phải có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, có tuổi là mười lăm tuổi. Giáo

dục phổ thông giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất,

thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và

sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng

tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi

vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

1.3.4. Mục tiêu và nội dung giáo dục của trường trung học phổ thông

Mục tiêu của giáo dục THPT theo điều 27 của Luật giáo dục nước Cộng

hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2005: “Giáo dục trung học phổ thông

nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục trung học

cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kỹ

thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn

hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào

cuộc sống lao động”.

Như vậy trường THPT có mục tiêu, nội dung , phương pháp giáo dục mang

tính phổ thông cơ bản, toàn diện, với những đặc thù riêng nhằm thực hiện nhiệm

vụ góp phần xứng đáng vào việc: “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng

nhân tài phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đáp ứng nhiệm vụ xây

- 22 -



dựng và bảo vệ Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân

chủ và văn minh” [21,tr.7].

1.3.5. Mục tiêu quản lý trường trung học phổ thông

Trong thời kỳ đổi mới của đất nước, mục đích, mục tiêu của giáo dục được

Đảng ta đặt ra là: Phát triển con người toàn diện, hoàn thành sứ mệnh thiêng

liêng: Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.

Đối với quản lý trường THPT, mục tiêu của nó chính là trạng thái được xác

định trong tương lai của nhà trường với một số yếu tố cấu thành. Các mục tiêu

cụ thể ấy hợp thành một hệ thống mục tiêu:

+ Nâng cao chất lượng đào tạo.

+ Xây dựng đội ngũ trở thành một tập thể sư phạm: Đoàn kết thống nhất,

đủ về số lượng, mạnh về chất lượng, đồng bộ về cơ cấu.

+ Xây dựng cơ sở vật chất, kĩ thuật phục vụ dạy và học.

+ Xây dựng hệ thống chính trị và nâng cao hiệu lực của công tác quản lý.

+ Phối hợp với gia đình và các lực lượng xã hội tham gia xây dựng nhà

trường, tham gia quá trình giáo dục, đào tạo học sinh thực hiện chủ trương “xã

hội hoá giáo dục”.

+ Hệ thống các mục tiêu quản lý phải hướng vào việc thực hiện thắng lợi

mục tiêu trọng tâm, đó là phát triển số lượng và nâng cao chất lượng đào tạo.

Định hướng phát triển giáo dục của Đảng ta đã chỉ ra đặc điểm chủ yếu các

nhiệm vụ và các đặc trưng về mục tiêu quản lý nhà trường THPT. Hiệu trưởng

với vai trò chủ yếu của mình, là nhân tố quyết định hiệu quả quản lý nhà trường,

do vậy căn cứ vào nhiệm vụ năm học và điều kiện thực tế của trường để có sự

chỉ đạo phù hợp, nâng cao hiệu quả giáo dục của nhà trường.

Trong các trường học, đặc biệt là trường THPT thì hoạt động dạy học là

hoạt động trọng tâm nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đã đề ra. Vì thế, quản lý

trường THPT chính là quản lý hoạt động chuyên môn nhằm nâng cao chất lượng

dạy học của giáo viên. Đối với học sinh THPT thì ngoài việc trang bị kiến thức,

- 23 -



việc hình thành cho các em phương pháp học tập, tư duy, khả năng thích ứng với

cuộc sống cũng là một vấn đề quan trọng. Vì thế, vấn đề đặt ra đối với việc quản

lý trường THPT chính là: Người quản lý (chủ thể quản lý) tác động như thế nào

vào các thành tố của quá trình giáo dục, nhằm đem lại kết quả như mong muốn.

Bởi vậy, công tác quản lý cũng như những hoạt động chỉ đạo chuyên môn là một

công tác mang tính khoa học, đồng thời một khía cạnh nào đó cũng mang tính

nghệ thuật, mà còn bởi trong sự phát triển nhanh chóng của xã hội ngày nay thì

đổi mới giáo dục phổ thông, để đạt được mục tiêu giáo dục không phải là việc dễ

dàng. Hơn thế, dù giáo dục phổ thông là một lĩnh vực trong nhiều năm qua được

Đảng và nhà nước quan tâm nhưng những bất cập của nó về đội ngũ giáo viên, cơ

sở vật chất cũng bị lộ rõ, bởi những lẽ đó tôi cho rằng quản lý nhà trường THPT là

điều kiện mang tính quyết định để nâng cao chất lượng giáo dục.

Bên cạnh những điều kiện thuận lợi, thực sự đã gặp nhiều khó khăn trong

điều kiện quản lý của nhà trường THPT đòi hỏi người quản lý phải tận tâm với

công việc và có phương pháp làm việc khoa học. Hiệu quả của công tác quản lý

không phải đo bằng thời gian người quản lý giành cho công viêc mà chính bằng

kết quả đạt được.

Có thể thấy, nếu hoạt động trọng tâm của Hiệu trưởng THPT là hoạt động

chuyên môn thì để đạt được mục tiêu giáo dục, người quản lý cần chú trọng đến

việc quản lý hoạt động dạy học của người giáo viên. Cũng chính vì thế mà nội

dung cơ bản nhất trong nhà trường của Hiệu trưởng là quản lý hoạt động chuyên

môn nhằm nâng cao chất lượng dạy học, thực hiện có chất lượng mục tiêu GDĐT. Và để đạt được mục tiêu đó thì người Hiệu trưởng phải có sự chỉ đạo thông

qua đội ngũ TTCM trong hoạt động chuyên môn .

1.4. Hiệu trƣởng trƣờng Trung học phổ thông

1.4.1. Vị trí, vai trò của Hiệu trưởng trường Trung học phổ thông

Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm cao nhất trước pháp luật, trước

cấp trên, trước xã hội, trước toàn thể giáo viên, nhân viên, học sinh và cha mẹ

- 24 -



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (112 trang)

×