1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Cấu trúc luận văn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.51 MB, 107 trang )


Chƣơng1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1. Các khái niệm chung:

1.1.1 Khái niệm Trẻ em

Theo công ƣớc về quyền trẻ em của Liên hợp quốc “trẻ em có nghĩa là

mọi ngƣời dƣới 18 tuổi trừ khi theo luật có thể áp dụng cho trẻ em, tuổi

trƣởng thành đƣợc quy định sớm hơn". Trong trƣờng hợp ở Việt Nam, luật

pháp qui định tuổi trƣởng thành là 18 tuổi nên trẻ em đƣợc định nghĩa theo

đúng nhƣ khoảng tuổi của công ƣớc quốc tế [38].

1.1.2. Khái niệm Vị thành niên

1.1.2.1. Khái niệm vị thanh niên

Vị thành niên là một khái niệm chƣa đƣợc thống nhất. Trẻ ở tuổi vị

thành niên đƣợc xác định là giai đoạn chuyển tiếp và phát triển từ cuối tuổi trẻ

em đến bắt đầu tuổi trƣởng thành. Có khá nhiều quan điểm khác nhau về độ

tuổi này. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) lứa tuổi 10 - 19 tuổi là độ tuổi vị

thành niên. Thanh niên trẻ là lứa tuổi 19 - 24 tuổi. Chƣơng trình Sức khỏe sinh

sản/Sức khỏe tình dục vị thành niên-thanh niên của khối Liên minh châu Âu

(EU) và Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc (UNFPA) lấy độ tuổi 15 - 24 tuổi. Tuy

nhiên, theo các nhà nghiên cứu Việt Nam, tuổi vị thành niên của trẻ em Việt

Nam đƣợc xác định thấp hơn. Nguyễn Thị Mỹ Lộc & cs [7, Trg11] cho rằng

tuổi vị thành niên đƣợc xác định từ 10 đến 18 tuổi. Tác giả Đặng Phƣơng Kiệt

lại cho rằng, tuổi này này bắt đầu từ 12 đến 18 tuổi [3]. Sở dĩ có sự khác biệt

lớn về thời điểm bắt đầu tuổi vị thành niên là do vị thành niên là một khái niệm

mang tính xã hội, và mỗi thời đại, mỗi xã hội có yêu cầu và quan niệm khác

nhau về sự trƣởng thành của trẻ. Quá trình phát triển của trẻ em ngày nay có

những sự thay đổi rất lớn, nguyên nhân là do sự thay đổi của môi trƣờng sống,

cũng nhƣ do sự tác động của những tiến bộ khoa học về dinh dƣỡng cũng nhƣ

khoa học y tế. Những yếu tố này tác động trực tiếp đến tuổi dậy thì, một mốc

13



trung tâm của vị thành niên do tuổi dậy thì đánh dấu sự trƣờng thành về tính

dục của mỗi cá nhân. Nhƣng nhìn chung, dù theo quan điểm nào thì độ tuổi từ

12 đến 16, độ tuổi của các khách thể trong nghiên cứu của chúng tôi, đều rơi

vào độ tuổi dậy thì.

1.1.2.2. Các giai đoạn của tuổi vị thành niên:

Theo các nhà nghiên cứu, tuổi vị thành niên có thể chia ra làm ba giai

đoạn: đầu vị thành niên, giữa vị thành niên, và cuối vị thành niên. Các giai

đoạn này đƣợc đánh dấu bằng tuổi dậy thì, nên đôi khi ba giai đoạn này còn

gọi là tiền dậy thì, dậy thì và sau dậy thì [3].

1.1.2.3. Một số đặc điểm tâm sinh lý của Vị thành niên

Tâm lý học duy vật biện chứng khẳng định trẻ em không phải là ngƣời

lớn thu nhỏ lại [40, Trg3]. Giữa trẻ em và ngƣời lớn có sự khác nhau về chất.

Sự vận động và phát triển của trẻ diễn ra theo quy luật riêng. Từ khi cất tiếng

khóc chào đời, trẻ đã là một con ngƣời, một thành viên của xã hội và có nhu

cầu giao tiếp với ngƣời lớn. Mỗi nền xã hội và thời đại khác nhau sẽ cho ra

đời một con ngƣời khác nhau và tƣơng ứng với xã hội đó. Nói cách khác con

ngƣời chính là sản phẩm của xã hội và do xã hội tạo ra.

Sự phát triển tâm lý của trẻ em là sự lĩnh hội những tinh hoa văn hóa xã

hội của loài ngƣời dƣới sự hƣớng dẫn của ngƣời lớn thông qua hoạt động của

bản thân, làm cho tâm lý của trẻ đƣợc hình thành và phát triển. Ngƣời lớn

đóng vai trò trung gian cho sự phát triển của trẻ và sự phát triển đó thể hiện

qua 2 hình thái: phát triển sinh lý và phát triển tâm lý xã hội [40, Trg10]. Việc

phối hợp giữa giáo dục trong nhà trƣờng và gia đình, xã hội sẽ mang lại hiệu

quả cho sự phát triển của trẻ. Sự phát triển tâm lý xã hội của trẻ diễn ra đầy

biến động, cực kỳ nhanh chóng và là một quá trình liên tục ngay từ khi mới

sinh ra, nó phát triển cùng với sự phát triển sinh lý. Chính hoạt động của trẻ

dƣới sự tác động và hƣớng dẫn của ngƣời lớn làm cho tâm lý của trẻ hình

14



thành và phát triển. Sự phát triển tâm lý của trẻ phải dựa trên những điều kiện

riêng của cơ thể. Đồng thời nó còn phải phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nữa

để hình thành và phát triển tâm sinh lý ở trẻ. Trẻ phải đƣợc đặt trong môi

trƣờng xã hội tƣơng ứng để phát triển tâm lý phù hợp với điều kiện xã hội.

Kế thừa những quan điểm đó của tâm lý học duy vật biện chứng để

hiểu tâm lý của vị thành niên, chúng ta có thể thấy rằng, trong giai đoạn của

tuổi vị thành niên, mỗi cá nhân trải qua nhiều thay đổi quan trọng về mặt thể

chất, cảm xúc và xã hội. Những thay đổi này xảy ra đồng thời hoặc đôi khi

khá tách biệt trong từng lĩnh vực nhƣng những thay đổi này liên quan và ảnh

hƣởng lẫn nhau. Sự thay đổi lớn nhất trong tuổi vị thành niên là dậy thì, quá

trình phát triển hoàn thiện về mặt tính dục, từ đó dẫn đến những mốc phát

triển đáng chú ý khác ở khía cạnh cảm xúc và xã hội. Những đặc điểm của vị

thành niên có thể đƣợc chia nhƣ sau:

1.1.2.4. Sự phát triển về thể chất

Theo Đặng Phƣơng Kiệt [3], trƣớc tuổi dậy thì, các cơ quan sinh dục

không có nhiều sự thay đổi, song đến tuổi dậy thì, sự tăng trƣởng diễn ra rất

nhanh và mạnh mẽ. Tuổi dậy thì đƣợc xuất phát từ vùng dƣới đồi, kích thích

đến tuyến yên. Tuyến yên kiểm soát toàn bộ sự tăng trƣởng, kích thích sự

sản xuất các hormon của buồng trứng, tinh hoàn và tuyến thƣợng thận. Các

tác nhân đặc biệt của tuổi dậy thì là hocmon giới tính - ở nam là androgen

từ tinh hoàn và ở nữ là estrogen từ buồng trứng. Sự phát triển của hai giới

có sự khác biệt, nữ thƣờng đạt tới tuổi chín muồi về giới tính sớm hơn nam

2 năm. Tuổi dậy thì trung bình ở nữ là 11-14 tuổi ở nam là 13-16 tuổi. Tuy

vậy, mỗi cá nhân có tiến trình phát triển riêng, nên thời gian ở mỗi cá nhân

có thể rất khác nhau và càng ngày, trẻ em càng có xu hƣớng phát triển sớm

hơn.



15



Cùng đồng thời với sự phát triển của các cơ quan sinh dục, cơ thể của

vị thành niên nói chung cũng diễn ra giai đoạn “nƣớc rút”. Trẻ vị thành niên

nhƣ lớn lên từng ngày. Trong thời kỳ dậy thì, nam cao thêm trung bình

khoảng 20 cm và nữ cao lên khoảng 9 cm. Trong giai đoạn này, không chỉ

lớn lên về chiều cao và cân nặng, cơ thể còn phát triển cả các kích thƣớc

khác: đầu, ngực, mông, tay, chân. Thƣờng thì tất cả các bộ phận cơ thể

không phát triển cùng một tốc độ, nên trẻ vị thành niên trông có dáng lóng

ngóng, ngƣợng nghịu và có phần không cân đối.

Tất cả xƣơng, cơ và khớp đều có một giai đoạn phát triển rất nhanh,

chúng trở nên dễ bị căng và đau. Trong quá trình phát triển của hệ tim

mạch, tim có thể quá nhỏ để chống đỡ với stress và các căng thẳng, nên trẻ

vị thành niên cần đƣợc bảo vệ để tránh bị kiệt sức. Trẻ vị thành niên phải

đƣợc cung cấp tất cả các yếu tố dinh dƣỡng cần thiết cho sự tăng trƣởng các vitamin, muối khoáng và protein – không chỉ chất bột, chất béo, những

chất cung cấp nhiều năng lƣợng.

Nguyễn Thị Mỹ Lộc & cs [7, Trg12,13] cho rằng vị thành niên có

một số dấu hiệu thay đổi về thể chất dễ nhận thấy sau đây:

Đối với nữ:

- Các em nữ có thể bắt đầu phát triển ngực khi 8-9 tuổi. Ngực phát triển

đầy đủ trong độ tuổi 12 đến 18.

- Lông ở các bộ phận sinh dục, nách và chân bắt đầu phát triển ở độ tuổi

9 hoặc 10 và đạt đƣợc mức nhƣ ngƣời trƣởng thành ở tuổi 13 hoặc 14.

- Kinh nguyệt lần đầu xuất hiện khoảng sau 2 năm khi có ngực và lông.

Tuổi kinh nguyệt xuất hiện trung bình ở trẻ vị thành niên Việt Nam

năm 2003 là 14.4 tuổi.

- Trẻ vị thành niên nữ phát triển chiều cao nhanh ở tuổi 10 đến 14.5, đạt

đỉnh vào tuổi 12.

16



Đối với nam:

- Trẻ vị thành niên nam có thể nhận thấy tinh hoàn và bừu phát triển ở tuổi

lên 9. Ngay sau đó, dƣơng vật bắt đầu phát triển. Ở 16-17 tuổi, các cơ

quan sinh dục đạt đƣợc hình dáng và kích cỡ nhƣ ngƣời trƣởng thành.

- Lông ở cơ quan sinh dục cũng nhƣ ở lông nách, chân, ngực, râu bắt đầu

phát triển ở tuổi 12 và đạt đƣợc mức nhƣ ngƣời trƣởng thành ở tuổi 15-16.

- Trẻ vị thành niên nam không dậy thì đột ngột, nhƣ trƣờng hợp ở trẻ vị

thành niên nữ lần đầu xuất hiện kinh nguyệt. Sự xuất tinh ban đêm đều

đặn (“giấc mơ ƣớt”, “mộng tinh”) đánh dấu sự bắt đầu dậy thì ở nam

giới. Mộng tinh thƣờng xuất hiện ở tuổi 13 đến 17.

- Giọng nói của trẻ vị thành niên nam thay đổi (vỡ giọng) cùng lúc với

dƣơng vật phát triển. Xuất tinh ban đêm xuất hiện cùng với sự đạt đƣợc

tối đa về chiều cao.

1.1.2.5. Sự phát triển về tính dục của trẻ vị thành niên

Sự thay đổi thể chất nhanh chóng và đột ngột mà trẻ vị thành niên trải

qua khiến các em trở nên ý thức về bản thân, e dè, nhạy cảm và lo lắng về sự

thay đổi cơ thể mình. Các em thƣờng so sánh bản thân với các bạn đồng tuổi.

Vì những thay đổi về thể chất này rất dồn dập và có nhiều hiện tƣợng lần đầu

tiên xuất hiện, thêm vào đó, sự thay đổi thể chất không diễn ra êm ả, đều đặn,

vị thành niên thƣờng cảm thấy bản thân mình kì quặc, kể cả về hình dáng và

phối hợp thể chất.

Bắt đầu chú ý đến cơ thể mình là một trong những biểu hiện tính dục

tƣơng đối đặc trƣng ở tuổi này của vị thành niên. Các em đều rất bận tâm về

ngoại hình của mình và đứng trƣớc gƣơng hàng giờ để ngắm nhìn và tìm hiểu

cơ thể mình. Do nữ giới phát triển sớm hơn, có một số em cao lớn vọt lên so

với các bạn cùng lứa. Đôi khi các em bị các bạn trêu, dẫn đến các em thƣờng

có mặc cảm về cơ thể mình. Có rất nhiều em đi còng, khom ngƣời lại để làm

17



cho ngƣời mình bé lại. Cùng với điều đó là chức năng vận động tiếp tục phát

triển, hệ cơ và hệ xƣơng của em phát triển không cân xứng, khiến cho các em

có dáng vẻ cử chỉ tƣơng đối lúng túng, ngƣợng nghịu và lóng ngóng. Sự lúng

túng này của vị thành niên thực chất là liên quan đế sự biến đổi về cơ thể, sự

thay đổi tâm sinh lý hơn là liên quan đến chức năng của hệ thần kinh.

Sự phát triển hoàn thiện của của các cơ quan sinh dục dẫn đến sự

thức tỉnh và các ham muốn tính dục. Tuy nhiên, xã hội lại có những ràng

buộc rất nghiêm ngặt chi phối các ứng xử tính dục của vị thành niên. Xã hội

và gia đình hƣớng trẻ vị thành niên kìm nén những cảm xúc tính dục của

mình. Một trong những lý do đó là mặc dù chín muồi về chức năng sinh lý,

trẻ tuổi vị thành niên về cơ bản vẫn là đƣợc xem là trẻ em về mặt cảm xúc

và xã hội.

Có rất nhiều hành vi liên quan đến tình dục bắt đầu xảy ra trong tuổi

vị thành niên, song phổ biến nhất là thủ dâm. Thủ dâm diễn ra phổ biến ở

nam và ít phổ biến hơn ở nữ. Thủ dâm có nghĩa là dùng những hành động tự

kích thích tác động vào các vùng gây khoái cảm của cơ thể để tạo ra những

cảm xúc liên quan đến tính dục. Đây không phải một vấn đề bất thƣờng của

vị thành niên vì nó là những hành vi không gây hại, diễn ra phổ biến và

mang chức năng khám phá bản thân mình của đứa trẻ. Mà ngƣợc lại, thủ

dâm là hành vi khá có ý nghĩa với lứa tuổi vị thành niên, vì nó đánh dấu sự

phát triển chín muồi tình dục trên phƣơng diện sinh học. Tuy nhiên, vị

thành niên ở giai đoạn này lại chƣa sẵn sàng có các quan hệ tình dục nhƣ ở

ngƣời lớn. Các em có những ham muốn và rung động tình dục, nhƣng

không có cách nào bộc lộ tình cảm của mình ra ngoài mà tập quán và phong

tục cho phép, vì thế phải hƣớng chúng vào bên trong, tìm thấy nguồn gốc

của khoái cảm tình dục và làm giảm nhẹ căng thẳng thông qua thủ dâm.

Một biểu hiện đặc trƣng trong thời kỳ này là sự bắt đầu xuất hiện của các

18



huyễn tƣởng tình dục ở các em. Các huyễn tƣởng này có vai trò chuẩn bị

cho các quan hệ tình dục của ngƣời lớn sau này.

Không nhƣ các bé trai, các bé gái ít thực hành thủ dâm hơn nhƣng các

em lại có một số hành vi khác đặc trƣng riêng của các em. Đó chính là vấn

đề rối loạn kinh nguyệt và các hành vi liên quan của các em. Thƣờng thì

những “cơn đau chuột rút” có liên quan đến những trở ngại trong sự thích

nghi của ngƣời thiếu nữ đối với vai trò của một ngƣời phụ nữ trƣởng thành,

chứ không liên quan đến một bất thƣờng thực thể nào cả. Tuy nhiên các em

nữ không đƣợc giáo dục và chuẩn bị đúng mức về việc kinh nguyệt. Chính

vì vậy, các em có những biểu hiện lo lắng, xấu hổ và đôi khi là hoảng sợ và

mặc cảm tội lỗi do không hiểu rõ về những gì đang diễn ra với cơ thể mình.

Những lần đầu tiên có kinh nguyệt có thể làm cho các em nữ rất sợ hãi. Các

em nam khi thấy hiện tƣợng đó cũng không hiểu và thƣờng có chế giễu các

bạn nữ. Với nam giới, những lần mộng tinh đầu tiên cũng có thể làm các em

hoang mang và cảm thấy tội lỗi do không hiểu chuyện gì đang xảy ra [3].

1.1.2.6. Phát triển về cảm xúc

Theo các nhà tâm lý học, tuổi vị thành niên là một trong những giai đoạn

khó khăn nhất trong cuộc sống của mỗi cá nhân. Trƣớc tuổi vị thành niên, các

em sống một cách thoải mái trong vòng tay bao bọc của bố mẹ cũng nhƣ có sự

phát triển ổn định của cơ thể. Nhƣng đến tuổi vị thành niên, mỗi cá nhân phải

hình thành đƣợc ý thức về bản ngã của mình. Các em phải trả lời cho câu hỏi

mình là ai, mình có thể làm đƣợc gì, phạm vi và giới hạn của mình ở đâu.

Trong quá trình khám phá giới hạn của mình, trẻ vị thành niên luôn luôn muốn

trở nên độc lập, tự quyết định những vấn đề liên quan đến mình và thƣờng

chống lại ý kiến của bố mẹ. Nhƣng ở một khía cạnh khác, trẻ vị thành niên vẫn

không phải là ngƣời trƣởng thành, các em vẫn phụ thuộc vào bố mẹ và cần

đƣợc bố mẹ định hƣớng. Tình huống trái ngƣợc giữa mong muốn và thực tế đó

19



của vị thành niên làm nảy sinh những mâu thuẫn giữa giữa vị thành niên với

những ngƣời khác, nhất là với cha mẹ. Trong nhiều trƣờng hợp, xu hƣớng độc

lập hóa này diễn ra tƣơng đối yên bình, không kèm theo các biểu hiện khủng

hoảng và mâu thuẫn với bố mẹ, anh chị em hay thầy cô giáo. Tuy vậy, rất nhiều

trƣờng hợp, xu hƣớng độc lập hóa ở trẻ vị thành niên có thể dẫn đến các xung

đột gay gắt với bố mẹ, ngƣời thân và thầy cô giáo. Do sự nhạy cảm, bồng bột

vốn có của những “ngƣời lớn” chƣa trƣởng thành, những xung đột này nếu

không đƣợc xử lý khéo léo có thể đẩy trẻ vị thành niên đến những hành vi rất

nguy hiểm nhƣ bỏ nhà đi “bụi”, phạm pháp và tự tử.

Một đặc điểm khác tƣơng đối nổi bật ở vị thành niên là thái độ ứng xử

bồng bột, không nhất quán, không thể lƣờng trƣớc đƣợc của vị thành niên.

Các em rất muốn đƣợc bố mẹ âu yếm, vỗ về, nhƣng ngay sau đó lại thấy xấu

hổ nếu bố mẹ âu yếm vỗ về mình, nhất là trƣớc mặt nhiều ngƣời. Vừa mới

đây thì tỏ ra ngoan ngoãn và phục tùng, nhƣng liền sau đó lại sinh ra ngờ vực,

ngang ngạnh rất khó chịu, từ chối không nghe những lời khuyên bảo, chỉ dẫn

của cha mẹ. Có lúc tỏ ra yêu thƣơng và kính trọng cha mẹ, nhƣng liền sau đó

lại chê bai, bác bỏ, vì cho rằng cha mẹ cổ lỗ và và chẳng hiểu gì. Vị thành

niên thƣờng tỏ ra hào hiệp, ân cần và chu đáo với ngƣời khác, song bất thình

lình lại trở nên ích kỷ, tàn bạo và gian xảo. Các nhà tâm lý học cho rằng đặc

điểm hành vi của trẻ vị thành niên có nguyên nhân từ nhu cầu tự trọng, muốn

tạo ra bản sắc và thử nghiệm các vai trò khác nhau [3].

Trong xã hội ngày nay, trẻ em đƣợc mong đợi sẽ lớn lên, rời tổ ấm và

khởi sự thành lập gia đình riêng của mình. Để làm đƣợc nhƣ vậy, mỗi cá nhân

phải đƣợc tự do thoát khỏi sự che chở và điều khiển của cha mẹ, học cách tự

đƣa ra quyết định, suy nghĩ cho bản thân và có trách nhiệm về các hành động

của mình. Và quá trình này bắt đầu từ giai đoạn vị thành niên. Tuy nhiên,

nhiệm vụ này thƣờng vƣợt quá sức của các em, các em thƣờng mắc lỗi và rất

20



cần sự định hƣớng của ngƣời lớn. Vì hay mắc lỗi, cộng thêm với sự bồng bột,

hoài nghi và xu hƣớng tự khẳng định mình, giai đoạn vị thành niên đầy rẫy

những mơ hồ, hụt hẫng và mâu thuẫn. Chính lúc này, trẻ bộc lộ một nhu cầu

trái ngƣợc vừa muốn độc lập, tách biệt với cha mẹ, nhƣng cũng đồng thời cần

có tình thƣơng yêu, sự an ủi và hƣớng dẫn của cha mẹ. Trong quan hệ với cha

mẹ, vị thành niên chịu ảnh hƣởng bởi những cảm nghĩ và các quan hệ của cha

mẹ với nhau, với con cái và với ngƣời khác. Cha mẹ là những kiểu mẫu cho

vị thành niên về ngƣời nam giới và ngƣời phụ nữ, ngƣời chồng và ngƣời vợ,

ngƣời cha và ngƣời mẹ... nên vị thành niên có chiều hƣớng giống cha mẹ

mình nhiều hơn là không giống họ. Vị thành niên học đƣợc cách ứng xử mà

họ thấy cha mẹ mình bộc lộ trong cuộc sống thƣờng ngày. Vị thành niên đặc

biệt dễ nhạy cảm và phê phán sự không trung thực, cho nên họ tin vào việc

làm chứ không phải vào lời nói.

1.1.2.7. Phát triển về mặt xã hội

Một kết quả tất yếu của xu hƣớng tách ra khỏi bố mẹ để khẳng định bản

sắc riêng, sự độc lập của bản thân mình, đó là việc các em tìm đến các bạn bè

đồng trang lứa, những ngƣời đang gặp các vấn đề giống nhƣ các em. Chính vì

vậy, bạn bè đồng trang lứa trong tuổi này lại trở nên quan trọng hơn. Sau đây

là một số đặc điểm khái quát về mối quan hệ bạn bè ở tuổi vị thành niên theo

tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc & cs [7, Trg14].





Nhóm bạn có thể là nơi trú ẩn an toàn của trẻ vị thành niên. Ở đó, trẻ vị

thành niên có thể thử các ý tƣởng mới.







Ở đầu vị thành niên, các nhóm bạn thƣờng không có các quan hệ lãng mạn,

thƣờng mang tính chất là hội, nhóm. Các thành viên của nhóm thƣờng hành

động giống nhau, ăn mặc giống nhau, có những bí mật hoặc nghi thức của

nhóm và các thành viên cùng tham gia chung vào các hoạt động.



21







Khi bƣớc vào giữa hoặc cuối vị thành niên (14-18 tuổi), các nhóm bạn có

thể bao gồm các mối quan hệ lãng mạn, yêu đƣơng.

Cha mẹ, thầy cô giáo, những ngƣời khác và bạn bè cùng lứa, hết thảy



đều có ảnh hƣởng đến trẻ vị thành niên. Nhƣng một hiện tƣợng đặc trƣng

cho lứa tuổi này là trẻ bắt đầu hình thành những thần tƣợng, những ngƣời và

các em tôn sùng và “si mê”. Những thần tƣợng này có những giá trị và các

chuẩn mực thƣờng khác biệt so với giá trị và các chuẩn mực của cha mẹ, mà

các em tuân theo một cách “mù quáng”. Chính sự khác biệt về chuẩn mực

và giá trị này có thể làm nảy sinh mâu thuẫn gay gắt với cha mẹ.

Một phần quan trọng của sự lớn lên về mặt xã hội trong tuổi vị thành

niên là phát triển khả năng tự định hƣớng (self-direction) và một ý thức

trách nhiệm [3]. Trẻ vị thành niên cần trải qua những cảm nghĩ về sự thỏa

đáng và sự hoàn thành trong công việc mà các em làm ở nhà và ở trƣờng

học, cho nên các công việc do cha mẹ và thầy cô giáo cho phải đƣợc chính

trẻ vị thành niên nhìn nhận là quan trọng, là đáng giá và có hiệu quả. Trẻ vị

thành niên sẽ xây dựng các chuẩn mực để hoàn thành nhiệm vụ cho phù hợp

với kỳ vọng, nếu trẻ vị thành niên đƣợc đối xử với sự tôn trọng. Nếu ngƣời

ta kỳ vọng trẻ vị thành niên phải làm tốt công việc, thì cha mẹ và thầy cô

phải tin trẻ vị thành niên, tạo cho trẻ vị thành niên cơ hội thực hiện các

nhiệm vụ đó theo cách riêng. Một sự quan tâm to lớn đối với các vị thành

niên là lựa chọn sự nghiệp và chuẩn bị cho sự nghiệp đó.

Sự gia tăng năng lực tự định hƣớng bao gồm khả năng đánh giá và

hành động đạo đức. Ngƣời vị thành niên hình thành ý thức đạo đức về sự

công bằng từ các kinh nghiệm mà mình gặt hái đƣợc. Trẻ vị thành niên có thể

có các tác động qua lại mang tính tôn giáo với những ngƣời khác hoặc những

ý tƣởng đang dẫn dắt trẻ vị thành niên tìm kiếm ý nghĩa của cuộc đời. Một

phƣơng tiện quan trọng trong khả năng thích nghi của ngƣời vị thành niên là

quan niệm về bản thân nhƣ một con ngƣời có đạo đức ứng xử, có trách nhiệm

22



và có thể chấp nhận đƣợc trong cái nhìn của mình và của ngƣời khác, có khả

năng kiềm chế mình và kiểm soát môi trƣờng xung quanh.

1.1.3. Khái niệm vấn đề sức khỏe tâm thần

1.1.3.1. Khái niệm sức khỏe tâm thần:

Theo WHO, Sức khỏe tâm thần nói đến một loạt các yếu tố có thể trực

tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến sự lành mạnh về tâm trí, một yếu tố quan

trọng trong định nghĩa của WHO về sức khỏe: “là trạng thái thoải mái toàn

diện về thể chất, tâm thần và xã hội và không phải chỉ bao gồm có tình trạng

không có bệnh hay thương tật” [36].

Theo từ điển tâm lý học, sức khỏe tâm thần “là một trạng thái thoải

mái, dễ chịu về tinh thần, không có các biểu hiện rối loạn về tâm thần, một

trạng thái đảm bảo cho sự điểu khiển hành vi, hoạt động phù hợp với môi

trường” [9, Trg.719]. Nhƣ vậy cách định nghĩa này cũng thống nhất với cách

định nghĩa của WHO.

Ở Việt Nam, khái niệm sức khỏe tinh thần và sức khỏe tâm thần thƣờng

đƣợc dùng lẫn lộn với nhau nhƣng với ý nghĩa nhƣ nhau và cùng có từ tƣơng

đƣơng trong tiếng Anh là “mental health”. Trong Tiếng Việt, từ tâm thần

mang rất nhiều định kiến vì nó gắn liền với những bệnh tâm thần nặng nhƣ

tâm thần phân liệt, động kinh (điên, cuồng, lên cơn giật...) nên những nhà tâm

lý thƣờng sử dụng từ sức khỏe tinh thần nhằm làm giảm nhẹ những định kiến

xã hội với sức khỏe tâm thần. Tuy nhiên để thống nhất với chung với các

nghiên cứu trong y học, chúng tôi xin sử dụng thuật ngữ tâm thần trong luận

văn này.

1.1.3.2 Khái niệm vấn đề sức khỏe tâm thần:

Tổ chức Y tế thế giới cho rằng các vấn đề sức khỏe tâm thần bao gồm

rất nhiều các vấn đề khác nhau từ nhẹ đến nặng với nhiều triệu chứng phong

phú. Tuy nhiên, một cách khái quát, những triệu chứng này là sự kết hợp của

những suy nghĩ cảm xúc, hành vi lệch lạc và mối quan hệ với ngƣời khác lệch

lạc, ví dụ nhƣ trầm cảm, lo âu, stress đến chậm phát triển và những rối loạn

liên quan đến việc lạm dụng chất gây nghiện [36]. Vấn đề sức khỏe tâm thần

23



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (107 trang)

×