1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ ĐOÀN THEO HƯỚNG LÝ THUYẾT QUẢN LÝ SỰ THAY ĐỔI

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.71 MB, 109 trang )


lao động: "Một nghệ sỹ vĩ cầm thì tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần

phải có nhạc trưởng”.

Thời Xuân Thu Chiến Quốc, Không Tử (551 - 479 TCN) cũng đã xác

định vai trò của người quản lý. Đó là người quản lý mà chính trực thì không

cần phải tốn nhiều công sức mà vẫn có thể "chính tâm, tu thân, tề gia, trị quốc,

bình thiên hạ”.

Warre Benis, một chuyên gia nổi tiếng về nghệ thuật lãnh đạo đã từng

nói rằng: "Quản lý là một cuộc thử nghiệm gắt gao trong cuộc đời mỗi cá

nhân, và điều đó sẽ mài giũa họ trở thành các nhà lãnh đạo”. Tiếng Việt cũng

có từ "quản lý” và lãnh đạo riêng rẽ giống như "manager” và "leader” trong

tiếng Anh. Trong thực tế chúng ta vẫn thường lẫn lộn hai khái niệm. Không

phải nhà quản lý nào cũng là nhà lãnh đạo và không phải nhà lãnh đạo nào

cũng là nhà quản lý.

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, vấn đề quản lý theo khoa học mới

xuất hiện. Người khởi xướng là Fredrich Winslow Taylor với cuốn sách "Các

nguyên tắc quản lý theo khoa học”. Theo ông thì người quản lý phải là nhà tư

tưởng, nhà lên kế hoạch chỉ đạo tổ chức công việc.

Tác giả Nguyễn Minh Đạo trong cuốn "Cơ sở khoa học quản lý” thì

cho rằng quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể

quản lý đến khách thể quản lý về mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế,... bằng

một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và

các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của

đối tượng.

Tác giả Đỗ Hoàng Toàn trong cuốn "Lý thuyết quản lý” cho rằng: "Quản

lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý đến khách thể

quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống

để đạt mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường”.

Trong cuốn "Khoa học tổ chức và quản lý”, tác giả Đặng Quốc Bảo quan

niệm rằng “Quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản

11



lý đến khách thể quản lý nhằm đạt mục tiêu chung và quản lý là một quá trình

lập kế hoạch, tổ chức, hướng dẫn và kiểm tra những nỗ lực của các thành viên

trong một tổ chức và sử dụng các nguồn lực của tổ chức để đạt dược những mục

tiêu cụ thể”.

Từ các định nghĩa được nhìn nhận từ nhiều góc độ, chúng ta thấy rằng tất

cả các tác giả đều thống nhất về cốt lõi của khái niệm quản lý, đó là trả lời câu

hỏi: Ai quản lý? (Chủ thể quản lý); Quản lý ai? Quản lý cái gì (Khách thể quản

lý); Quản lý như thế nào? (Phương thức quản lý); Quản lý bằng cái gì? (Công

cụ quản lý); quản lý để làm gì? (Mục tiêu quản lý) và từ đó chúng ta có thể đưa

ra định nghĩa khái quát:

Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng, có mục đích,

có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý để chỉ huy, điều khiển,

liên kết các yếu tố tham gia vào hoạt động thành một chỉnh thể thông nhất,

điều hoà hoạt động của các khâu một cách hợp quy luật nhằm đạt đến mục

tiêu xác định trong điều kiện biến động của môi trường.

Theo quan điểm phổ biến hiện nay, quản lý là hệ thống gồm bốn chức

năng: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra. Trong một chu trình quản lý cả bốn

chức năng trên phải được thực hiện liên tiếp và đan xen vào nhau; phối hợp bổ

sung cho nhau tạo sự kết nối giữa chu trình này sang chu trình khác theo

hướng phát triển trong đó thông tin luôn là yếu tố xuyên suốt không thể thiếu

trong việc thực hiện các chức năng quản lý và là cơ sở cho việc ra quyết định

trong quản lý. Có thể sơ đồ hoá chu trình quản lý như sau:

Kế hoạch



Tổ chức



Thông tin



Chỉ đạo



12



Kiểm tra, đánh giá



* Khái niệm quản lý giáo dục

Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự

truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người,

nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hóa dân

tộc, nhân loại được kế thừa, bổ sung và trên cơ sở đó không ngừng tiến lên.

Giáo dục tồn tại, vận động và phát triển với tư cách là một hệ thống. Theo cách

nói của Marx thì "dàn nhạc” giáo dục trong quá trình tồn tại và phát triển tất

yếu phải có "nhạc trưởng” là quản lý giáo dục. Về quản lý giáo dục cũng có

khá nhiều quan điểm, được hiểu khá rộng trong nhiều phạm vi, từ vĩ mô đến vi

mô và có nhiều định nghĩa như sau:

Trong cuốn: "Cơ sở lý luận của khoa học quản lý giáo dục”, tác giả

M.I Kônđacốp định nghĩa: "Quản lý giáo dục là tập hợp các biện pháp tổ chức

cán bộ, giáo dục, kế hoạch hóa, tài chính nhằm đảm bảo sự vận hành bình

thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục để tiếp tục phát triển và mở

rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như mặt chất lượng”.

Theo Nguyễn Ngọc Quang: "Quản lý giáo dục là hệ thống những tác

động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho

hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện các

tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là

quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến,

tiến lên trạng thái mới về chất”.

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo thì: "Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng

quát là hoạt động điều hành phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy

mạnh mẽ công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội”.

Đối với Phạm Mình Hạc thì "Quản lý giáo dục là quản lý trường học,

thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình,

tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu

giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng

học sinh”.

13



UNESCO định nghĩa quản lý giáo dục là cách thức điều hành hệ thống

giáo dục, nhất là các quy trình, thủ tục, quy định, quy chế và cách thức vận

hành của hệ thống giáo dục, tất cả các cấu thành hoạt động của hệ thống.

Quản lý giáo dục gồm 3 lĩnh vực:

- Quản lý chính sách (hoạch định chính sách, lập kế hoạch, thực hiện

chính sách và phân bổ nguồn lực).

- Quản lý hành chính (sử dụng nguồn lực tài chính, con người và vật

chất).

- Quản lý sư phạm (sử dụng giáo viên, tổ chức quá trình dạy học, quá

trình giáo dục, thành tích và quá trình học tập.

Ngày nay, giáo dục không còn là một thứ phúc lợi xã hội đơn thuần vì

nó được gắn với quá trình phát triển xã hội. Việc đi học của mỗi người phải là:

"học thường xuyên, học suốt đời”. Do vậy, giáo dục không chỉ giới hạn ở thế

hệ trẻ mà là giáo dục cho mọi người, cho nên quản lý giáo dục cũng có thể

hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân nhằm thực hiện mục tiêu nâng

cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.

Như vậy, ta có thể định nghĩa:

Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp

quy luật của chủ thể quản lý nhằm tổ chức điều khiển hoạt động của khách thể

quản lý thực hiện các mục tiêu giáo dục đề ra. Quản lý giáo dục từ cấp vĩ mô

đến tầm vi mô đều hướng tới sử dụng có hiệu quả những nguồn lực dành cho

giáo dục để đạt được kết quả (đầu ra) có chất lượng cao nhất.

Đặc điểm của quản lý giáo dục.

- Quản lý giáo dục gắn liền với việc quản lý con người, đặc biệt là lao

động sư phạm của người giáo viên. Đặc thù lao động của người giáo viên mà

đối tượng lao động sư phạm là người học với những đặc điểm về tâm sinh lý

lứa tuổi hết sức phức tạp. Người học vừa là đối tượng của hoạt động giáo dục,

vừa là chủ thể của hoạt động giáo dục, do đó kết quả giáo dục không chỉ phụ

thuộc vào bản thân nhà giáo mà còn phụ thuộc vào thái độ của người học. Đây

14



chính là điểm khác biệt của lao động sư phạm so với lao động xã hội nói

chung. Mặt khác phương tiện lao động của giáo viên chủ yếu là phương tiện

tinh thần bằng lời, bằng tấm gương, thái độ, bằng "điểm tựa”, bằng cảm hóa…

Thời gian lao động của người giáo viên cũng khác, nó không được tách bạch,

rạch ròi với thời gian không lao động sư phạm. Với bất kỳ lúc nào, ngay cả khi

nghỉ ngơi, giải trí hay làm việc gia đình, người giáo viên có thể vẫn nghĩ về

công việc sư phạm của mình. Vì vậy, trong công tác quản lý giáo dục cần tạo

điều kiện thuận lợi về vật chất và tinh thần cho giáo viên, đặc biệt là tạo điều

kiện để nâng cao tiềm lực của họ, để họ toàn tâm, toàn ý cống hiến cao nhất

cho sự nghiệp "trồng người”.

- Sản phẩm của giáo dục có tính đặc thù nên quản lý giáo dục phải chú ý

ngăn ngừa sự rập khuôn, máy móc trong công việc tạo ra sản phẩm, cũng như

không được phép tạo ra phế phẩm.

- Quản lý giáo dục đòi hỏi cao về tính toàn diện, tính thống nhất, tính

liên tục, tính kế thừa, tính linh hoạt và tính phát triển.

- Quản lý giáo dục và phát triển quan điểm quần chúng, kết hợp nhân tố

bên trong và bên ngoài, trong đó nhân tố bên trong có tính chất quyết định.

Nên cần phải phối hợp chặt chẽ và đồng bộ các lực lượng trong nhà trường, gia

đình và xã hội.

- Quản lí giáo dục là hoạt động mang tính nhân văn sâu sắc, nó thu hút sự

tham gia của rất đông các thành viên xã hội và có ảnh hưởng rất lớn đến mọi

mặt đời sống xã hội.

- Quản lý giáo dục là hoạt động mang tính sáng tạo vì đối tượng của hoạt

động quản lý giáo dục là con người với các mối quan hệ phức tạp của nó. Quản

lí giáo dục phải là một hoạt động mang tính sáng tạo mới phát huy được sự

sáng tạo của con người.

- Quản lí giáo dục thể hiện tính bao hàm giữa học thuật và nghệ thuật, vì

đây là dạng quản lý phức tạp, do quan hệ đa chiều với môi trường xã hội ở

nhiều phạm vi, mức độ, tầng bậc khác nhau.

15



Nội dung quản lý giáo dục: là quản lý các yếu tố cấu thành của hệ thống

giáo dục bao gồm: Mục tiêu giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp giáo

dục, tổ chức giáo dục, người dạy, người học, trường sở và trang thiết bị dạy

học, môi trường giáo dục, các lực lượng giáo dục, kết quả giáo dục.

Bản chất của quản lý giáo dục: là quản lý quá trình sư phạm, quá trình

dạy và học diễn ra ở các cấp học, bậc học và tất cả các cơ sở giáo dục. Từ góc

độ tổ chức và quản lý, quá trình sư phạm là quá trình tạo ra các điều kiện và cơ

hội, đồng thời tổ chức việc sử dụng, tận dụng chúng làm cho người học tiếp

thu, chiếm lĩnh, lĩnh hội các kinh nghiệm xã hội để phát triển nhân cách tốt

nhất. Nơi thực hiện quản lý quá trình sư phạm có hiệu quả nhất là nhà trường,

một tổ chức giáo dục cơ sở trực tiếp thực hiện mục tiêu giáo dục đào tạo nhân

cách bằng việc truyền thụ những tri thức đạo đức mà nhân loại đã sàng lọc,

chiết suất được cho thế hệ trẻ.

* Quản lý nguồn nhân lực

Trước tiên quản lý nguồn nhân lực vừa là nghệ thuật vừa là khoa học làm

cho những mong muốn của lãnh đạo và nhân viên tương hợp với nhau và cùng

đạt đến mục tiêu.

Thứ hai, quản lý nguồn nhân lực là những hoạt động (một quy trình) mà

nhóm quản lý nhân sự tiến hành triển khai sắp xếp nhân lực nhằm đạt được các

mục tiêu chiến lược của đơn vị. Quy trình này gồm các bước tuyển dụng, quản

lý, trả lương, nâng cao hiệu quả hoạt động và sa thải nhân viên trong đơn vị.

Quản lý trong các tổ chức nhân sự nói chung là hành động đưa các cá nhân

trong tổ chức làm việc cùng nhau để thực hiện, hoàn thành mục tiêu chung. Công

việc quản lý bao gồm 5 nhiệm vụ (theo Henry Fayol): xây dựng kế hoạch, tổ

chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm soát. Trong đó, các nguồn lực có thể được sử

dụng và để quản lý là nhân lực, tài chính, công nghệ và thiên nhiên.

1.1.2. Đội ngũ; Cán bộ Đoàn; Đội ngũ cán bộ Đoàn

1.1.2.1 Đội ngũ

Theo từ điển Tiếng Việt định nghĩa thì "Đội ngũ là một tập hợp số đông

người cùng chức năng hoặc nghề nghiệp, thành một lực lượng”. Đội ngũ bao

16



gồm những người lao động, tức là nguồn nhân lực được sử dụng vào một công

việc nào đó do bộ phận hoặc đơn vị quản lý. Đội ngũ này nằm trong nguồn

nhân lực.

1.1.2.2. Cán bộ Đoàn

Cán bộ Đoàn là cán bộ hoạt động chính trị - xã hội được Đảng giao

nhiệm vụ công tác vận động TTN, trực tiếp thực hiện công tác vận động tuyên

tuyền giáo dục TTN theo đường lối giáo dục chính sách của Đảng, Nhà nước

và Điều lệ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh. Cán bộ Đoàn bao gồm cán bộ chuyên

trách, cán bộ bán chuyên trách; cán bộ không chuyên trách, cán bộ làm công

tác Hội LHTN Việt Nam, Hội Sinh viên Việt Nam và Đội Thiếu niên tiền

phong Hồ Chí Minh. Thông qua hoạt động thực tiễn công tác Đoàn và phong

trào TTN để phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ bảo đảm

về số lượng và chất lượng, từng bước trẻ hoá đội ngũ cán bộ Đoàn các cấp,

quan tâm cán bộ cơ sở, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc, tôn giáo.

Nghị quyết Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ IX đã xác định mục tiêu

xây dựng đội ngũ cán bộ Đoàn là: Nâng cao chất lượng, đảm bảo đủ số lượng

và từng bước trẻ hoá đội ngũ cán bộ Đoàn gắn với việc tăng cường đầu tư cho

công tác cán bộ, nhằm tạo sự chuyển biến mới trong công tác Đoàn và phong

trào TTN, để góp phần tạo nguồn cán bộ cho Đảng, chính quyền và các đoàn

thể nhân dân, đáp ứng yêu cầu đổi mới hiện nay.

* Tiêu chuẩn cán bộ Đoàn:

Tiêu chuẩn cán bộ Đoàn được cụ thể hoá theo tinh thần nghị quyết Hội

nghị lần thứ III Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII, cụ thể là:

- Có tinh thần yêu nước, trung thành với Tổ quốc, tận tuỵ phục vụ nhân

dân, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, thực hiện tốt chủ

trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.

- Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Có ý thức tổ chức kỷ luật,

trung thực, không cơ hội; nhiệt tình, năng động, sáng tạo, có khả năng tổ chức

17



tập hợp, gắn bó mật thiết và được sự tín nhiệm của đoàn viên, thanh niên, thiếu

niên, nhi đồng và nhân dân.

- Có trình độ hiểu biết về lý luận chính trị, quan điểm, đường lối của

Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; có trình độ học vấn, chuyên môn,

ngoại ngữ, tin học phù hợp với yêu cầu của vị trí công tác được giao; trưởng

thành từ phong trào Đoàn - Hội - Đội hoặc tham gia hoạt động phong trào

thanh thiếu nhi hoặc đã được đào tạo, bồi dưỡng về kỹ năng, nghiệp vụ, kiến

thức công tác thanh vận.

- Có sức khoẻ tốt, ngoại hình phù hợp với công tác thanh vận; tuổi cán

bộ Đoàn được quy định theo cương vị được giao và có thể hơn từ 1 đến 2 tuổi

để phù hợp với yêu cầu công tác cụ thể.

- Tiêu chuẩn cán bộ Đoàn cấp cơ sở, bên cạnh tiêu chuẩn chung nêu trên

còn phải đảm bảo tiêu chí:

+ Trình độ chuyên môn từ trung cấp trở lên, trình độ lý luận sơ cấp.

+ Giữ chức vụ không quá 35 tuổi.

Đối với vùng đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, đối tượng chính sách,

trình độ văn hoá nói chung từ tốt nghiệp trung học phổ thông trở lên, đã được bồi

dưỡng chương trình lý luận chính trị sơ cấp, giữ chức vụ không quá 37 tuổi.

1.1.2.3. Đội ngũ cán bộ Đoàn

Đội ngũ cán bộ Đoàn là một tập hợp những người làm công tác Đoàn và

phong trào thanh thiếu nhi; là những cán bộ hoạt động chính trị- xã hội được

Đảng giao nhiệm vụ công tác vận động thanh thiếu nhi trực tiếp thực hiện công

tác vận động tuyên tuyền giáo dục thanh thiếu nhi theo đường lối giáo dục

chính sách của Đảng, Nhà nước và Điều lệ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh.

Đội ngũ cán bộ Đoàn được phân thành các cấp:

- Đội ngũ cán bộ Đoàn cấp Trung ương: Gồm Ban bí thư Trung ương

Đoàn, Ban thường vụ, Ban chấp hành Trung ương Đoàn; cán bộ, lãnh đạo các

phòng ban chức năng của cơ quan Trung ương Đoàn.

- Đội ngũ cán bộ Đoàn cấp tỉnh, thành phố và tương đương

18



- Đội ngũ cán bộ Đoàn cấp quận, huyện, thành phố, thị xã trực thuộc tỉnh

và tương đương.

- Đội ngũ cán bộ Đoàn cấp cơ sở (Đoàn cơ sở và Chi đoàn).

1.1.3. Phát triển, phát triển đội ngũ

Theo từ điển Tiếng Việt, phát triển là "biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ

từ đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp”.

Phát triển là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như

phát triển tinh tế, phát triển xã hội, phát triển nguồn nhân lực, phát triển đội

ngũ. Còn theo quan điểm triết học, phát triển là khái niệm biểu hiện sự thay đổi

tăng tiến cả về chất, về không gian lẫn thời gian của sự vật, hiện tượng và con

người trong xã hội. Như vậy, phát triển được hiểu là sự tăng trưởng, là sự

chuyển biến theo chiều hướng tích cực, tiến lên.

Theo tác giả Đặng Bá Lãm thì "phát triển là một quá trình vận động từ

thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, theo đó cái cũ biến mất và cái mới ra

đời. Phát triển là một quá trình nội tại: bước chuyển từ thấp lên cao xảy ra bởi

vì trong cái thấp đã chứa đựng dưới dạng tiềm tàng những khuynh hướng dẫn

đến cái cao. Còn cái cao là cái thấp đã phát triển”.

Như vậy, sự vật, hiện tượng, con người, xã hội biến đổi để tăng tiến về số

lượng, chất lượng dưới tác động của bên trong hoặc bên ngoài đều được coi là

phát triển. Phát triển đội ngũ chính là việc tạo ra các giá trị mới cho đội ngũ để

đội ngũ được thay đổi, hoàn thiện theo một chiều hướng tích cực.

Phát triển đội ngũ là phát triển về số lượng, nâng cao chất lượng, đảm bảo

cơ cấu đội ngũ, là việc tạo ra các giá trị mới cho đội ngũ để đội ngũ đó được

thay đổi, hoàn thiện theo hướng tích cực. Phát triển đội ngũ cán bộ Đoàn tức là

nhằm vào hoàn thiện kết quả lao động tổng thể của người cán bộ Đoàn trong

cương vị công tác hiện tại của họ và chuẩn bị cho họ đảm nhận những trách

nhiệm cao hơn, nặng nề hơn, phức tạp hơn.

Phát triền đội ngũ cán bộ Đoàn cấp cơ sở là một bộ phận của hệ thống

phát triển nhân lực.

19



Phát triển đội ngũ cán bộ Đoàn là một khái niệm tổng hợp bao gồm cả đào

tạo, bồi dưỡng, phát triển nghề nghiệp cả tăng tiến về số lượng lẫn chất lượng

và sử dụng có hiệu quả đội ngũ này.

Trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và công nghệ đã dẫn

tới xu hướng hội nhập và toàn cầu hóa. Vì vậy đòi hỏi phải có sự thay đổi

trong mọi lĩnh vực. Với công tác Đoàn và phong trào TTN thì đổi mới và phát

triển đội ngũ cán bộ Đoàn đặc biệt là đội ngũ cán bộ Đoàn cấp cơ sở là một

khâu đột phá cho phát triển chất lượng công tác Đoàn và phong trào TTN.

Nguồn nhân lực cán bộ Đoàn cấp cơ sở là nguồn lực yêu cầu có chất lượng

cao và có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng tổ chức và hoạt động Đoàn.

Phát triển đội ngũ cán bộ Đoàn cấp cơ sở huyện Sóc Sơn thực chất là phát

triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực quản lý, điều hành công tác Đoàn tại cơ sở.

Muốn đẩy mạnh công tác Đoàn và phong trào TTN đáp ứng yêu cầu cách

mạng mới, đáp ứng bối cảnh thay đổi hiện nay ngoài nhân tố cần phải được

quan tâm ưu tiên phát triển khác thì một yếu tố đóng vài trò hết sức quan trọng

trong công tác Đoàn đó là đội ngũ cán bộ Đoàn, đặc biệt là đội ngũ cán bộ

Đoàn cấp cơ sở. Bởi đây là lực lượng chủ yếu giữ vai trò quyết định trong việc

lãnh đạo, chỉ đạo, trực tiếp tổ chức thực hiện các chương trình công tác của

Đoàn tới đoàn viên TTN. Đội ngũ này đóng vai trò nòng cốt, có tính quyết

định, "cán bộ nào, phong trào ấy”, trong việc định hướng và thực hiện mục

tiêu của sự nghiệp giáo dục toàn diện thế hệ trẻ.

Phát triển đội ngũ cán bộ Đoàn cấp cơ sở là xây đựng một đội ngũ cán bộ

Đoàn cấp cơ sở đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng, đồng bộ về cơ cấu, loại

hình và ngày càng vững mạnh về chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, có sức khoẻ

để đủ khả năng lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, tổ chức thực hiện thắng lợi nhiệm vụ

thu hút, tập hợp, giáo dục toàn diện nhân cách cho TTN, góp phần nâng cao dân

trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho địa phương và đất nước.

Đội ngũ cán bộ Đoàn cấp cơ sở có thể là công chức hoặc chưa là công

chức Nhà nước. Huyện Đoàn cùng cấp Uỷ, chính quyền cơ sở là hai cơ quan

20



song trùng quản lý. Do vậy, đội ngũ này không chỉ đảm bảo những yêu cầu của

ngành dọc - huyện Đoàn mà còn phải đảm bảo các yêu cầu của cấp Uỷ và

chính quyền cơ sở - người lãnh đạo trực tiếp và toàn diện. Như vậy, phát triển

đội ngũ này phải có sự kết hợp hài hoà, chặt chẽ giữa hai cơ quan quản lý sao

cho đảm bảo phát huy tối đa hiệu lực, hiệu quả hoạt động công tác Đoàn và

phong trào TTN.

1.2. Vài nét về Quản lý sự thay đổi

1.2.1. Quản lý sự thay đổi

Quản lý sự thay đổi thực chất là kế hoạch hoá, điều hành và chỉ đạo triển

khai sự thay đổi để đạt được mục tiêu đề ra cho sự thay đổi đó. Chúng ta hay

dùng từ đổi mới trong quá trình hoạt động hiện nay. Sự thay đổi có thể có cả đổi

mới nhưng không loại trừ khả năng đưa cái mới vào quá trình hoạt động hay thay

đổi một khâu trong quy trình triển khai một hoạt động nào đó. Ví dụ, đổi mới sinh

hoạt chi Đoàn là phương pháp đổi mới một khâu trong hoạt động Đoàn.

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi. Đôi khi sự thay đổi do

chủ trương, chính sách thay đổi. Ví dụ như việc chuyển cơ chế từ tập trung,

bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng XHCN. Cũng có khi thay đổi do áp

lực của bối cảnh. Ví dụ từ bao cấp sang tự chủ, tự chịu trách nhiệm. Nhiều khi,

thay đổi là do sứ mệnh của tổ chức thay đổi hay chức năng nhiệm vụ có sự

điều chỉnh. Nhưng có khi đơn giản là mọi người đều thấy tổ chức mình “có

vấn đề” nếu không thay đổi thì không phát triển được. Sự thay đổi nhiều khi

xuất phát từ nguyên nhân của sự trì trệ hay do nguyên nhân của các vấn đề nảy

sinh khi bối cảnh thay đổi, thúc đẩy tổ chức thay đổi để tăng tính thích ứng.

Một cách đơn giản có thể hiểu thay đổi là “làm cho khác đi hay trở nên

khác đi” và mọi sự thay đổi đều có lý do của nó nhưng chúng ta chỉ đề cập đến

những thay đổi cần sự hoạch định hay cần sự điều khiển, quản lý khoa học,

chất lượng hiệu quả.

Có ba công đoạn “làm cho khác đi” là: “Rã đông” - “thay đổi/tái tạo” “tái đông/ định hình cái mới”. Tương ứng với các công đoạn này là bốn mức

21



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (109 trang)

×