1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 1 CƠ SƠ LI LUÂN CUA VÂN ĐÊ QUAN LY HỌT Đ̣NG GÍO ḌC K̃ NĂNG ŚNG CHO S INH VIÊN TAI ĆC TRƯƠNG CAO ĐĂNG , ĐAI HOC

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.62 MB, 108 trang )


thấy có nhiều điểm chung nhưng cũng có nhiều điểm riêng trong quan niệm về

GDKNS của các nước. Mục tiêu của GDKNS trong giáo dục không chính quy ở Hội

thảo Bali là nhằm “nâng cao tiềm năng của con người để có hành vi thích ứng và

tích cực nhằm đáp ứng nhu cầu sự thay đổi các tình huống của cuộc sống hàng ngày

đồng thời tạo ra sự thay đổi và nâng cao chất lượng cuộc sống” [15].

Những nghiên cứu về hoạt động giáo dục kỹ năng sống và quản lý giáo dục

hoạt động giáo dục kỹ năng sống trên thế giới là khá phong phú. Theo tổng thuật của

UNESCO, có thể khái quát những nét chính trong các nghiên cứu này như sau:

Nghiên cứu xác định mục tiêu giáo dục kỹ năng sống; Nghiên cứu xác định chương

trình và hình thức giáo dục kỹ năng sống. Các chương trình và tài liệu về giáo dục

kỹ năng sống được thiết kế cho giáo dục không chính quy là phổ biến và rất đa dạng

về hình thức.

1.1.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam

Thuật ngữ kỹ năng sống (KNS) bắt đầu xuất hiện trong nhà trường Việt Nam

từ những năm 1995 – 1996, thông qua dự án “Giáo dục kỹ năng sống để bảo vệ sức

khoẻ và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường” do

quỹ nhi đồng liên hợp quốc (UNICEF) phối hợp với Bộ giáo dục và Đào tạo cùng

Hội chữ thập đỏ Việt Nam thực hiện. Từ đó đến nay nhiều cơ quan, tổ chức trong

nước và quốc tế đã tiến hành giáo dục KNS gắn với các vấn đề xã hội như: phòng

chống ma tuý, phòng chống mại dâm, phòng chống buôn bán phụ nữ và trẻ em,

phòng chống tai nạn thương tích, phòng chống tai nạn bom mìn, bảo vệ môi

trường v.v.

Giai đoạn 2 của chương trình được mang tên “Giáo dục sống khỏe mạnh và

kỹ năng sống” với sự tham gia của ngành Giáo dục, Trung ương Đoàn Thành niên

cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Quan niệm về KNS cơ bản

đối với từng nhóm đối tượng được vận dụng đa dạng hơn. Khái niệm KNS thực sự

được hiểu với nội hàm đầy đủ và đa dạng sau hội thảo “Chất lượng giáo dục và kỹ

năng sống” do tổ chức UNESCO tài trợ được tổ chức từ ngày 23 đến 25/10/2003 tại

Hà Nội. Từ đó những người làm công tác giáo dục ở Việt Nam hiểu đầy đủ hơn về

KNS và trách nhiệm phải GDKNS cho người học. Năm học 2002 – 2003, Bộ giáo



5



dục và Đào tạo với sự hỗ trợ của tổ chức UNICEF đã xây dựng chương trình “Giáo

dục sống khỏe mạnh và kỹ năng sống” cho học sinh trung học cơ sở với 9 chủ đề

giáo dục: HIV/AIDS, xâm hại tình dục, ứng phó với tình huống căng thẳng, quyền

trẻ em, sống khỏe mạnh, thuốc lá rượu bia, ma túy, sức khỏe sinh sản vị thành niên,

các bệnh lây qua đường tình dục. Chương trình đã được thực nghiệm ở một số nơi

như Văn Lãng, Cao Lộc (Lạng Sơn), Đồ Sơn (Hải Phòng), Đống Đa, Hoàn Kiếm,

Thanh Xuân (Hà Nội), Hóc Môn, Thủ Đức, Nhà Bè (TP Hồ Chí Minh) và một số

nơi khác.

Ngoài các chương trình dự án do Bộ Giáo dục, Bộ Y tế, Đoàn thanh niên

Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam... thực hiện, còn có một số

tổ chức quốc tế đang triển khai chương trình GDKNS tại Việt Nam như Qũy Dân số

Thế giới của Hà Lan (WPF), Qũy Nhi đồng Mỹ (Save the childrent US), Tổ chức

Cứu trợ trẻ em Anh (SCUK), Quy Nhi đồng Nhật (Save the Childrent Japan) tại Việt

Nam, Qũy nhi đồng Úc (CCF Australia)... Các chương trình dự án trên khá đa dạng

nhưng chủ yếu tập trung vào “các nhóm yếu thế và nhóm có nguy cơ cao”. Nội dung

GDKNS đã tính đến sự phù hợp với đối tượng, vùng và địa phương.

Ở Việt Nam, việc nghiên cứu về KNS nói chung và quản lý hoạt giáo dục

KNS nói riêng vẫn còn rất ít, thậm chí không nói là còn hời hợt. Tuy nhiên, trong

mấy năm trở lại đây cũng đã có một số nghiên cứu chuyên sâu hơn về lĩnh vực này.

Có thể kể tên ra đây một số nghiên cứu tiêu biểu sau:

- Theo nghiên cứu khảo sát của bà Đỗ Thị Hải, Phó Viện trưởng Viện

Nghiên cứu môi trường và các vấn đề xã hội: “Khảo sát ở hơn 1000 học sinh sinh

viên thuộc 10 trường Đại học, cao đẳng và phổ thông cho thấy trên 95% chưa nhận

thức đúng về kĩ năng sống; 77,7% chưa bao giờ được đào tạo, tập huấn về kĩ năng

sống; 76.4% cho biết rất cần được tập huấn kiến thức về kĩ năng sống” [60].

Tác giả Nguyễn Như Ý với nghiên cứu "Một số biện pháp quản lý hoạt động

giáo dục ngoài giờ lên lớp của Hiệu trưởng các trường THPT huyện Phú Xuyên tỉnh

Hà Tây trong giai đoạn hiện nay", đã khẳng định HĐGDNGLL với nội dung, hình

thức phong phú sẽ là phương thức để thực hiện nguyên lý giáo dục của Đảng "Học

đi đôi với hành". Nghiên cứu đã chỉ ra được một số biện pháp như: thành lập ban chỉ



6



đạo, kế hoạch hoá HĐGDNGLL, quy định tiêu chuẩn thi đua đối với việc tham gia

tổ chức hoạt động của giáo viên, chỉ đạo tổ chuyên môn, khối chủ nhiệm tham gia tổ

chức HĐGDNGLL... sẽ góp phần làm cho công tác quản lý chỉ đạo HĐGDNGLL

của Hiệu trưởng được hoàn thiện hơn .

Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, ở nước ta cũng đã xuất hiện một số

nhà nghiên cứu quan tâm, đi sâu vào khai thác đề tài trong lĩnh vực KNS này.

Đặc biệt phải kể đến những Luận án Tiến sỹ, Luận văn Thạc sỹ, Đề tài khoa học.

Chẳng hạn như:

“Kỹ năng sống của học sinh THCS TP.HCM” là một trong những công trình

nghiên cứu khoa học đầu tiên hiếm hoi về lĩnh vực này. Đây là luận văn thạc sĩ của

giảng viên tâm lý học Nguyễn Hữu Long.

Đề tài “Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ thông thông qua

hoạt động giáo dục ngoài giời lên lớp” của Tiến sỹ Phan Thanh Vân trường Đại học

Thái Nguyên vừa mới hoàn thành và bảo vệ năm 2010.

Như vậy, đã có không ít tác giả nghiên cứu về vấn đề giáo dục KNS, song về

góc độ hoạt động quản lý, nhất là quan tâm tới những biện pháp quản lý của nhà

trường để hoạt động GDKNS cho SV một cách hiệu quả là chưa được đề cập một

cách có hệ thống, đặc biệt chưa có công trình nào nghiên cứu vấn đề này tại trường

Cao đẳng Tài chính – Quản trị kinh doanh ở Hưng Yên.

1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài

Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc quản lí GDKNS cho sinh viên trường

Cao đẳng có những khái niệm mang tính khoa học liên quan đến đề tài, như: Quản

lí, quản lí giáo dục, quản lí nhà trường, chức năng quản lý, biện pháp quản lý. Trong

khuôn khổ của đề tài, đây là những khái niệm công cụ góp phần làm sáng tỏ nội

dung nghiên cứu của đề tài.

1.2.1. Quản lý

Quản lý về cơ bản và trước hết là tác động đến con người để họ thực hiện,

hoàn thành những công việc được giao; để họ làm những điều bổ ích, có lợi. Hoạt

động quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt

động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo(lãnh đạo) và kiểm tra.



7



Quản lý là thực hiện những công việc có tác dụng định hướng, điều tiết, phối

hợp các hoạt động của cấp dưới, của những người dưới quyền. Biểu hiện cụ thể qua

việc, lập kế hoạch hoạt động, đảm bảo tổ chức, điều phối, kiểm tra, kiểm soát.

Hướng được sự chú ý của con người vào một hoạt đông nào đó; điêu tiết được

nguồn nhân lực, phối hợp được các hoạt đông bộ phận.

Quản lý là thiết lập, khai thông các quan hệ cụ thể để hoạt động đông người

được hình thành, tiến hành trôi chảy, đạt hiệu quả cao bền lâu và không ngừng phát

triển. Chẳng thế mà người Nhật khẳng định rằng: "Biết cái gì, biết làm gì là quan

trọng nhưng quan trọng hơn là biết quan hệ”. Người Mỹ cho rằng: "Chi phí cho

thiết lập, khai thông các quan hệ thường chiếm 25% đến 50% toàn bộ chi phí cho

hoạt động".

Vậy "Quản lý là gì?", Cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về

quản lý. Đặc biệt là kể từ thế kỷ 21, các quan niệm về quản lý lại càng phong phú.

Các trường phái quản lý học đã đưa ra những định nghĩa về quản lý như sau:

- Frederik Winslon Tailor (1856 – 1915) người Mỹ: "Làm quản lý là bạn phải

biết rõ: muốn người khác làm việc gì và hãy chú ý đến cách tốt nhất, kinh tế nhất mà

họ làm” [26, tr. 89].

- Fayel: "Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh nghiệp,

chính phủ) đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều

chỉnh và kiểm soát. Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh

và kiểm soát ấy” [26].

- Hard Koont: "Quản lý là xây dựng và duy trì một môi trường tốt giúp con

người hoàn thành một cách hiệu quả mục tiêu đã định"[20, tr.29].

- Peter F Druker: "Suy cho cùng, quản lý là thực tiễn. Bản chất của nó không

nằm ở nhận thức mà là ở hành động; kiểm chứng nó không nằm ở sự logic mà ở

thành quả; quyền uy duy nhất của nó là thành tích".

Đầu thế kỷ 20 nhà văn quản lý Mary Parker Follett định nghĩa Quản lý là

"nghệ thuật khiến công việc được làm bởi người khác".



8



Tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau, song có thể hiểu một cách khái

quát: "Quản lý là một quá trình tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể

quản lý tới khách thể quản lý trong một tổ chức, nhằm làm cho tổ chức vận hành và

đạt được mục đích đã đề ra".

Có thể khái quát quá trình quản lý bằng sơ đồ sau:

Sơ đồ 1.1: Quá trình quản lý



Bộ phận quản lý

(chủ thể quản lý)



Mục tiêu



Bộ phận bị quản lý

(khách thể quản lý)

1.2.2. Quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục là hoạt động có ý thức của con người nhằm đeo đuổi những

mục đích của mình. Mục đích của giáo dục cũng chính là mục đích của quản lý ( tuy

nó không phải là mục đích duy nhất của mục đích quản lý giáo dục ). Đây là mục

đích có tính khách quan. Nhà quản lý, cùng với đông đảo đội ngũ giáo viên, học

sinh, các lực lượng xã hội... bằng hành động của mình hiện thực hoá mục đích đó

trong hiện thực.

Đối với cấp vĩ mô quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác (có ý

thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp qui luật) của chủ thể quản lý đến

tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà

trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục đào

tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục.

Quản lý giáo dục là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ

thể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính trội của hệ thống; sử dụng một

cách tối ưu các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống nhằm đưa hệ thống đến mục tiêu



9



một cách tốt nhất trong điều kiện bảo đảm sự cân bằng với môi trường bên ngoài

luôn luôn biến động. Cũng có thể định nghĩa quản lý giáo dục là hoạt động tự giác

của chủ thể quản lý nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát,... một

cách có hiệu quả các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho mục

tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.

Đối với cấp vi mô quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự

giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp qui luật) của chủ thể

quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và

các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và

hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường. Cũng có thể định nghĩa quản lý giáo dục

thực chất là những tác động của chủ thể quản lý vào quá trình giáo dục (được tiến

hành bởi tập thể giáo viên và học sinh, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã

hội) nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào

tạo của nhà trường.

Để hiểu một cách chính xác hơn về "Quản lý giáo dục", ta xem xét một số

quan niệm sau đây:

- Theo M.M.Mechti Zađe, nhà lý luận Xô Viết trước đây đã nêu: "Quản lý

giáo dục là tập hợp những biện pháp (tổ chức, phương pháp, cán bộ, giáo dục, kế

hoạch hoá, tài chính…) nhằm bảo đảm sự vận hành bình thường của các cơ quan

trong hệ thống giáo dục, bảo đảm sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về

mặt số lượng cũng như về mặt chất lượng".

Ở Việt Nam, tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: “Quản lí nhà trường (quản lí

giáo dục nói chung) là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách

nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lí giáo dục để tiến tới

mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với

từng học sinh” [12].

Trong tài liệu “Những vấn đề quản lí nhà nước và quản lí giáo dục”, Hà Nội

1998, Trường cán bộ quản lí Giáo dục - Đào tạo viết: “Quản lí giáo dục là sự tác

động có ý thức của chủ thể quản lí tới khách thể quản lí nhằm đưa hoạt động sư

phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất”.

Cũng trong tài liệu này, P.GS Đặng Quốc Bảo viết: “Quản lí giáo dục là quản lí một



10



loại quá trình kinh tế - xã hội nhằm thực hiện đồng bộ, hài hoà sự phân hoá xã hội để

tái sản xuất sức lao động có kĩ thuật phục vụ các yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội”.

Cũng ở tài liệu nêu trên, trong chủ đề “Quản lí nhà nước về Giáo dục - Đào tạo” tác

giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc định nghĩa: “Quản lí nhà nước trong giáo dục là việc nhà

nước thực hiện quyền lực công, được xã hội uỷ thác để điều chỉnh toàn bộ các hoạt

động giáo dục - đào tạo trong phạm vi toàn xã hội”.

Quản lý giáo dục là quá trình tác động có tính định hướng của chủ thể quản lý

lên các thành tố tham gia vào quá trình hoạt động giáo dục nhằm thực hiện có hiệu quả

mục tiêu giáo dục.

Quá trình giáo dục là một quá trình bao gồm hai hoạt động thống nhất biện

chứng: hoạt động giáo dục của nhà trường và hoạt động tự giáo dục của người được

giáo dục dưới sự tổ chức, lãnh đạo của nhà giáo dục. Người được giáo dục tự giác,

tích cực tự giáo dục nhằm hình thành những phẩm chất của người công dân. Quá

trình giáo dục được tổ chức giúp người học nắm được những nội dung: hệ thống tri

thức, thái độ, kỹ năng, hành vi ứng xử và thói quen hành vi thể hiện trong cuộc sống

của cộng đồng, của xã hội. Từ đó hình thành ở người học những mặt xã hội, tâm lý,

thể chất, cách ứng xử đúng đắn thông qua các mối quan hệ cùng nhau trong tập thể,

trong các hoạt động học tập, lao động, vui chơi, văn nghệ, thể dục thể thao, hoạt

động xã hội-cộng đồng.

1.2.3. Quản lý trường học

Quản lí trường học là một bộ phận trong quản lí giáo dục (GD). Trường học

là tổ chức GD mang tính quyền lực nhà nước - xã hội, trực tiếp làm công tác Giáo

dục đào tạo, thực hiện việc giáo dục cho thế hệ trẻ. Trường học là tế bào cơ sở, chủ

chốt và cơ bản của tất cả các cấp quản lí nhưng lại vừa là hệ thống độc lập tự quản

của xã hội. Vì thế quản lí trường học vừa có tính nhà nước, vừa có tính xã hội. Trên

thực tế, có rất nhiều quan điểm khác nhau về quản lý trường học, có thể nêu ra đây

một số quan điểm sau:

Phạm Khắc Chương cho rằng: "Quản lý giáo dục trên cơ sở quản lý nhà

trường là một phương hướng cải tiến quản lý giáo dục theo nguyên tắc tăng cường

phân cấp quản lý nhà trường nhằm phát huy tối đa năng lực, trách nhiệm và quyền



11



hạn của các chủ thể quản lý trực tiếp thực hiện mục tiêu giáo dục, đào tạo mà xã hội

đang yêu cầu.

Nhà trường là một tổ chức giáo dục cơ sở trực tiếp thực hiện mục tiêu đào

tạo, giáo dục nhân cách bằng việc truyền thụ những tri thức, đạo đức mà nhân loại

đã sàng lọc, triết xuất được cho thế hệ trẻ. Vì vậy, nhà trường trong bất cứ xã hội

nào cũng sẽ là tâm điểm hội tụ của hoạt động giáo dục và quản lý giáo dục" .

Còn theo tác giả Hà Nhật Thăng, quản lí nhà trường là quản lí quy trình (từ

mục tiêu, nội dung, kiểm tra đánh giá) và quản lí các điều kiện thực hiện các quá

trình đó như đội ngũ GV, các trang thiết bị, phương tiện, không gian, thời gian

thực hiện mục tiêu và nội dung chương trình.

Tác giả Phạm Minh Hạc: Quản lí nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục

của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo

nguyên lí GD để tiến tới mục tiêu GD, mục tiêu đào tạo đối với ngành GD, với thế

hệ trẻ và từng HS [12].

Theo tác giả Nguyễn Trọng Hậu, có thể hiểu quản lí nhà trường là tổ chức

hoạt động dạy học; có tổ chức được hoạt động dạy học, thực hiện được các tính

chất của nhà trường phổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa mới quản lí được GD; tức

là cụ thể hóa đường lối GD của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng

yêu cầu của nhân dân, của đất nước .

Tác giả Phạm Viết Vượng cho rằng: “Quản lí trường học là hoạt động của các

cơ quan quản lí nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của GV, HS và các lực

lượng GD khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực GD để nâng cao chất lượng

GD và đào tạo trong nhà trường” .

Từ các nghiên cứu trên, chúng ta có thể thấy: Quản lí trường học là quản lí

giáo dục được thực hiện trong phạm vi xác định của một đơn vị GD nhà trường,

nhằm thực hiện nhiệm vụ GD thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội.

Công tác quản lý nhà trường bao gồm quản lý các hoạt động diễn ra trong nhà

trường và sự tác động qua lại giữa nhà trường với các hoạt động ngoài xã hội. Quản

lý nhà trường là quản lý một hệ thống bao gồm các thành tố sau:

+ Thành tố tinh thần: mục đích giáo dục, nội dung giáo dục, các kế hoạch,

biện pháp giáo dục.



12



+ Thành tố con người: cán bộ giáo viên, nhân viên và học sinh.

+ Cơ sở vật chất, tài chính, các trang thiết bị, phương tiện phục vụ giảng dạy

và học tập.

Trọng tâm trong quản lý ở trường cao đẳng là quản lý các hoạt động giáo dục

diễn ra trong nhà trường và các quan hệ giữa nhà trường với xã hội trên những nội

dung sau đây:

+ Quản lý hoạt động dạy học.

+ Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức, lối sống cho SV.

+ Quản lý hoạt động xã hội của nhà trường, hoạt động của các tổ chức, đoàn

thể.

+ Quản lý đội ngũ cán bộ, giảng viên.

+ Quản lý hoạt động giáo dục đào tạo.

+ Quản lý học sinh, sinh viên.

+ Quản lý và sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật, tài chính.

Việc quản lý hoạt động GDKNS của nhà trường có trong tất cả các nội dung

trên của quản lý nhà trường.

1.2.4.Chức năng quản lý

Chức năng: là hoạt động, tác dụng, vai trò bình thường hoặc đặc trưng của

một cơ quan hoặc một hệ cơ quan nào đó. Chức năng quản lí gắn liền với sự xuất

hiện và tiến bộ của sự phân công, hợp tác lao động trong một quá trình sản xuất của

một tập thể người lao động. Cũng như các hoạt động quản lí kinh tế - xã hội, quản lí

giáo dục có hai chức năng tổng quát: Chức năng ổn định, duy trì quá trình đào tạo

đáp ứng nhu cầu hiện hành của nền kinh tế - xã hội; Chức năng đổi mới phát triển

quá trình đào tạo đón đầu tiến bộ, phát triển kinh tế - xã hội.

Giáo dục là một dạng hoạt động đặc biệt của con người, là hoạt động có mục

đích, có chương trình, có kế hoạch. Chức năng quản lí giáo dục ra đời cũng là một

tất yếu khách quan để thực hiện mục đích giáo dục.

Từ những phân tích trên, có thể quan niệm: chức năng quản lí giáo dục là sự

tác động của chủ thể quản lí giáo dục đến khách thể quản lí giáo dục nhằm thực hiện

mục tiêu, mục đích giáo dục.



13



Tất cả các chức năng quản lí chung đều có thể vận dụng vào quản lí giáo dục.

Ðồng thời, xuất phát từ 2 chức năng tổng quát nêu trên, quản lí giáo dục có 4 chức

năng cụ thể như sau:

- Kế hoạch hoá: đưa mọi hoạt động Giáo dục - Ðào tạo và công tác kế hoạch

hoá với mục tiêu, phương pháp, biện pháp rõ ràng, các bước đi cụ thể, ấn định tường

minh các điều kiện cung ứng cho việc thực hiện mục tiêu.

- Tổ chức thực hiện: hình thành và phát triển tổ chức tương xứng với sứ

mệnh, với nhiệm vụ chính trị với các loại mục tiêu (dài hạn, trung hạn, ngắn hạn).

- Chỉ đạo (chỉ huy, điều hành, điều khiển): chức năng này mang tính tác

nghiệp. Trong quá trình kế hoạch hoá, cần chú ý thực hiện dân chủ, lấy ý kiến từ cơ

sở, đồng thời lưu ý sự tập trung, thống nhất điều khiển.

- Kiểm tra đánh giá: công việc này gắn với sự đánh giá, tổng kết kinh

nghiệm giáo dục, điều chỉnh mục tiêu.

Hệ thống quản lí giáo dục, nhà trường hoạt động trong trạng thái đa dạng,

phức hợp. Quản lí giáo dục, quản lí dạy học thực chất là quản lí các mục tiêu vừa

tường minh, vừa trong mối tương tác của các thành tố cơ bản của quá trình giáo dục

nói chung, quá trình dạy học nói riêng.

Theo Ðặng Quốc Bảo trong cuốn “Những vấn đề cơ bản về quản lí giáo dục”,

Hà Nội, 1998 đã nhấn mạnh: hoạt động tương tác của các thành tố cơ bản của quá

trình giáo dục làm nảy sinh các vấn đề và tình huống có vấn đề đòi hỏi được giải

quyết kịp thời. Quản lí giáo dục chính là quá trình xử lí các tình huống có vấn đề

(mâu thuẫn, gây cấn, xung đột) trong việc đào tạo để giáo dục, để nhà trường phát

triển, đạt tới chất lượng tổng thể và bền vững, làm cho giáo dục vừa là mục tiêu, vừa

là sức mạnh của kinh tế - xã hội” [20].

1.2.5. Biện pháp quản lý giáo dục

Biện pháp quản lí: là định hướng quan điểm cho công tác quản lí một lĩnh

vực nào đó; là cách thức, con đường, cách làm cụ thể để đạt được hiệu quả cao nhất

của quá trình quản lí, nhằm tiết kiệm thời gian, tiền của, công sức của các thành

phần tham gia quản lí.

Biện pháp giáo dục, từ góc độ phương pháp luận, được hiểu như những định

hướng chung, quan điểm chung cho một lĩnh vực giáo dục xác định; từ góc độ lí



14



luận dạy học, biện pháp được hiểu như một hệ thống kết nối giữa định hướng chung

của lí luận dạy học với hoạt động dạy học cụ thể của giáo viên. Khái niệm biện pháp

có khi được hiểu là các thao tác, thủ thuật, cách thức dạy học của giáo viên trong

hoạt động dạy học.

1.3. Giá trị sống, kỹ năng sống và tầm quan trọng của giáo dục kỹ năng sống

cho sinh viên

1.3.1. Giá trị sống

Theo từ điển Tiếng Việt giải nghĩa: Giá trị là cái dựa vào đó để xem xét

một con người đáng quý đến mức nào về mặt đạo đức, trí tuệ, nghề nghiệp, tài

năng. Giá trị cũng là những quan niệm và thực tại về cái đẹp, sự thật, điều thiện

của một xã hội [16,tr.32 ]

Dưới góc độ Xã hội học, giá trị được quan tâm ở nội dung, nguyên nhân, điều

kiện kinh tế - xã hội cụ thể trong quá trình hình thành hệ thống giá trị nhất định của

một xã hội.

Giá trị trong Đạo đức học gắn với các khái niệm khác như: cái thiện, cái ác,

sự bình đẳng, lòng bác ái…

Xét dưới góc độ Tâm lý học, giá trị được nghiên cứu để tìm hiểu hành vi,

hoạt động của con người và dự báo sự phát triển nhân cách [38,tr.32 ].

Giá trị sống (hay còn gọi là “giá trị cuộc sống”) là những điều mà một con

người cho là tốt, là quan trọng, là có ý nghĩa với cuộc sống của mỗi con người,

chúng ta coi đó là động lực để nỗ lực phấn đấu để có được bằng mọi cách và vì thế

giá trị sống chi phối hành vi hướng thiện của mỗi con người.

Giá trị sống của con người thì có rất nhiều, song có những giá trị sống mà con

người cho là đích thực, mang tính căn bản, phổ quát, chúng trở thành những giá trị

chung cho nhiều người và toàn thể xã hội như: Sự hợp tác, Tự do, Hạnh phúc, Lòng

trung thực, Đức khiêm tốn, Tình yêu thương, Hòa bình, Tôn trọng, Trách nhiệm,

Giản dị, Khoan dung và Đoàn kết [theo cuốn NGTS T18]

Giá trị sống mang tính cá nhân, không phải giá trị sống của tất cả mọi người

đều giống nhau và cũng không phải ai cũng nhận thức đúng giá trị của cuộc sống.

Có người cho rằng trở thành người giàu có mới là “giá trị đích thực”. Khi ấy, họ sẽ

phấn đấu để có tiền bằng mọi giá, kể cả giết người, buôn lậu, trộm cắp. Nhưng rồi



15



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (108 trang)

×