1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 2 THỰC TṚANG KỸ NĂNG ŚỐNG CỦA SINH VIÊN VÀ CÔNG T́C QUẢN LÝ HỌAT Đ̣ỘNG GÍAO ḌC KỸ NĂNG SỐNG CHO SINH VIÊN ṬẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG TÀI CHÍNH - QUẢN TRỊ KINH DOANH

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.62 MB, 108 trang )


toán, Tài chính và Quản trị kinh doanh của Việt Nam



. Với phương châm “Chất



lượng đào tạo là sự sống còn của nhà trường”, Đảng ủy, Ban giám hiệu nhà trường

luôn quan tâm đến vấn đề đảm bảo và không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo mà

trọng tâm là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực về mọi mặt cả trình độ nghề

nghiệp lẫn phẩm chất đạo đức, nhân cách.

Trường có khu giảng đường và hiệu bộ được xây dựng khang trang trên mặt

bằng 62.880m2 trong đó trụ sở làm việc là 2.288m2 , hội trường 1950m2 , giảng

đường 9.010m2, ký túc xá 11.866m2 , nhà ăn sinh viên 1.810m2, thư viện 800m2. Tất

cả các phòng học đều được trang bị đầy đủ hệ thống âm thanh, ánh sáng để phục vụ

tốt cho việc giảng dạy của giảng viên và hoạt động học tập của sinh viên. Nhà

trường cũng quan tâm đầu tư mua sắm nhiều phương tiện, dụng cụ nghe nhìn hiện

đại phục vụ cho hoạt động giáo dục như projector, cátset…Hệ thống thư viện nhà

trường với hơn 3 vạn đầu sách, được quản lý băng hệ thống phần mềm Libol đảm

bảo phục vụ tốt nhất nhu cầu mượn sách và tài liệu tham khảo của sinh viên và cán

bộ, giảng viên. Khu ký túc xá và các sân vận động mini đáp ứng được nhu cầu học

tập, rèn luyện thể chất, vui chơi giải trí dành cho sinh viên và một phần nhu cầu của

cán bộ, giảng viên và công nhân viên nhà trường.

2.1.2. Quy mô ngành nghề của trường Cao đẳng Tài chính – Quản trị kinh doanh

Ngay từ khi mới thành lâ ̣p , tâ ̣p thể lãnh đạo nhà trường đã



đề ra mục tiêu:



Xây dựng Trường Cao đẳng Tài chính – Quản trị kinh doanh thành trường kinh tế đa

ngành, đào tạo theo hướng kỹ năng thực hành; vững mạnh toàn diện theo hướng

chuẩn hóa, hiện đại hóa (chuẩn về chương trình đào tạo, đội ngũ cán bộ giảng dạy;

cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học; hệ thống quản lý), từng bước đạt mức I vào năm

2009 và mức II năm 2010 về kiểm định chất lượng đào tạo. Phấn đấu trở thành Đại

học kinh tế - Tài chính của vùng đồng bằng Sông Hồng vào năm 2012.

Để đạt được điều đó, nhà trường đặt ra yêu cầu trước mắt là phải đào tạo cử

nhân cao đẳng kinh tế đa ngành, có kỹ năng thực hành cao, có phẩm chất đạo đức và

sức khỏe tốt, thực hiện thành thạo các tác nghiệp về quản lý kinh tế cho cơ quan nhà

nước, các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong các thành phần kinh tế, các ngành kinh tế

theo đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa và một nền kinh tế hội nhập.



31



Hiện nay, nhà trường đào tạo hai cấp trình độ: Cao đẳng và trung cấp, các cấp

trình độ này có liên thông với nhau. Trong đó đào tạo hệ cao đẳng gồm 4 ngành với

10 chuyên ngành đào tạo như: Tài chính doanh nghiệp, Thuế, Tín dụng – Ngân

hàng, Kế toán – kiểm toán, Tin – Kế toán và Thẩm định giá. Các chuyên ngành này

chiếm 90% lượng học sinh, sinh viên toàn trường và là thế mạnh của trường ở trình

độ cao đẳng trong cả nước.

2.2. Thực trạng về KNS của sinh viên và nhận thức của đội ngũ CB, GV trƣờng

Cao đẳng Tài chính – Quản trị kinh doanh về trách nhiệm GD KNS cho SV

2.2.1 Thực trạng về KNS của SV trường Cao đẳng Tài chính – Quản trị kinh doanh

Theo tác giả luận văn, để đánh giá được một cách đúng đắn nhất thực trạng về

KNS của sinh viên trường Cao đẳng Tài chính – Quản trị kinh doanh, trước hết cần

khảo sát về mức độ thuần thục KNS của SV trong trường. Từ nhận thức đó, tác giả luận

văn đã tiến hành điều tra bằng phương pháp bảng hỏi kết hợp với phỏng vấn sâu các

CBQL, GV và SV của trường và thu được kết quả được thể hiện ở biểu đồ sau:

Biểu đồ 2.1: Đánh giá mức độ thuần thục KNS của SV

Mức độ thuần thục kỹ năng sống của SV (%)



5.3%



2%



9.7%



3%

Rất tốt



80 %



Tốt

Không có ý kiến

Còn hạn chế

Không tốt



(Số lượng khảo sát: 300 sinh viên)

Như vậy, khi được hỏi về mức độ thuần thục KNS của SV hiện nay phần

đông SV của trường Cao đẳng Tài chính – Quản trị kinh doanh đều cho rằng mức độ

thuần thục KNS của sinh viên hiện nay còn hạn chế (80%), còn mức độ rất tốt là

2%, tốt 9,7%, không tốt là 5,3%.



32



Khi tiến hành phỏng vấn sâu một số SV của trường, chúng tôi thu được một

số ý kiến như sau:

“Em cho rằng, Sinh viên trường ta hầu hết chưa nhận thức đúng về vai trò và

ý nghĩa của việc rèn luyện KNS đối với cá nhân. Bản thân những KNS cần thiết mà

chúng em đang có vẫn còn rất hạn chế cả về mặt nhận thức, lẫn hành động. Dẫn

đến, khi chúng em áp dụng vào thực tế thì bị lúng túng, không biết xử lý như thế

nào, hiệu quả công việc là chưa cao”.

B.T.V, SV năm thứ 3 khoa Tài chính – ngân hàng.

Điều đó chứng tỏ, nhận thức và hành động của một bộ phận không nhỏ sinh

viên nhà trường về giáo dục KNS còn chưa đúng và đầy đủ . Đây cũng là thực trạng

của không ít sinh viên các trường cao đẳng, đại học ở nước ta hiện nay.

Cùng quan điểm về vấn đề trên thì đội ngũ cán bộ quản lý và giảng viên của

trường có đánh giá về mức độ thuần thục về KNS của sinh viên thể hiện qua hiện

qua bảng sau:

Bảng 2.1: Bảng đánh giá mức độ thuần thục (hoàn thiện) về KNS sinh viên

của đội ngũ CBQL,GV

STT



Tỷ lệ



Mức độ thuần thục



Số lƣợng



%



1



Rất tốt



2



5,0



2



Tốt



4



10,0



3



Không ý kiến



6



15,0



4



Còn hạn chế



26



65,0



5



Không tốt



2



5,0



(Số lượng khảo sát: 40 người)

Như vậy, cũng như sinh viên, đội ngũ CBQL, GV của trường cũng nhận

thấy mức độ thuần thục về KNS của SV- HS hiện nay còn hạn chế (65%). Phần

lớn họ đều cho rằng học sinh, sinh viên còn thiếu những KNS cơ bản để phục vụ

cho học tập và cuộc sống. Qua tìm hiểu, phỏng vấn sâu, chúng tôi thu được một

số ý kiến sau:



33



“Theo tôi, KNS của sinh viên hiện nay còn thiếu và yếu rất nhiều. Đó chính

là một trong những nguyên nhân khiến các em bị mất điểm trước nhà tuyển dụng

sau khi ra trường và gây khó khăn cho quá trình tìm kiếm công việc của họ”.

Ths.Đ.T.T, Trƣởng phòng QLSV

“Tôi thấy KNS của các bạn trẻ hiện nay còn khá yếu. Các bạn chưa được

giảng dạy hoặc thực hành những kỹ năng cơ bản, kể cả những kỹ năng rất gần gũi

với các bạn như học tập sao cho thật hiệu quả hay giải quyết các vấn đề thường

nhật”.

V.C.T, Trƣởng khoa Lý luận – Mác Lênin

Thực trạng trên đặt ra một vấn đề cấp thiết đối với các trường cao đẳng cũng

như Đại học ở nước ta là song song với việc dạy chữ, dạy kiến thức, dạy nghề thì

việc cần tăng cường giáo dục cho SV những kỹ năng sống cần thiết cho cuộc sống tự

lập sắp tới trong tương lai sau khi ra trường như kỹ năng phỏng vấn xin việc, kỹ

năng làm việc nhóm, kỹ năng giao tiếp ứng xử ở nơi làm việc, kỹ năng ứng phó với

các tình huống thiên tai, dịch bệnh bất thường, kỹ năng đảm nhận trách nhiệm…

cũng là điều vô cùng quan trọng. Khi có được những kỹ năng đó không những giúp

cho SV có được chất lượng cao trong học tập các môn văn hóa, chuyên ngành ở

trường mà còn giúp họ có đủ tự tin để bước ra cuộc sống và tìm cho mình một công

việc thích hợp , phù hợp với khả năng và nguyện vọng của mình.

Những thông tin trên phần nào đã cung cấp cho chúng ta cách nhìn tổng quát

về thực trạng nhận thức về KNS của SV trường Cao đẳng Tài chính – Quản trị kinh

doanh, và để chi tiết hơn tác giả luận văn đã tiến hành đánh giá thực trạng về một số

kỹ năng sống của sinh viên nhà trường và thu được kết quả như sau:



34



Bảng 2.2: Đánh giá thực trạng về một số KNS của sinh viên

Mức độ đánh giá

STT



Kỹ năng



Rất tốt



Tốt



Chưa tốt



SL



%



SL



%



SL



%



1



Nghiên cứu khoa học



12



4



75



25



213



71



2



Làm việc nhóm



17



5,67



115



38,33



168



56



3



Kỹ năng sinh tồn



19



6,33



165



55



116



38,67



4



Kỹ năng ứng phó với các tình



10



3,33



42



14



248



82,67



12



4



105



35



183



61



13



4,33



105



35



182



60,67



15



5



113



37,66



172



57,34



huống bất thường

5



Kỹ năng phòng chống ma túy,

mại dâm



6



Kỹ năng kiểm soát cảm xúc



7



Kỹ năng tìm kiếm và sử lý

thông tin



8



Kỹ năng giao tiếp



28



9,33



93



31



179



59,67



9



Kỹ năng ra quyết định



18



6



101



33,67



181



60,33



10



Kỹ năng đảm nhận trách nhiệm



23



7,66



109



36,34



168



56



( Số sinh viên khảo sát: 300 sinh viên)

Qua những nhận xét trên chúng ta có thể khẳng định rằng thực trạng KNS của

SV trường Cao đẳng Tài chính – Quản trị kinh doanh còn khá khiêm tốn. Sinh viên

còn thiếu các KNS cơ bản, mặt khác đội ngũ nhà quản lý giáo dục và người được

giáo dục vẫn chưa dành sự quan tâm đầu tư thỏa đáng về mặt thời gian, tư liệu và

nguồn lực cho việc học tập và rèn luyện KNS.

Đặc biệt, Sinh viên chưa tìm thấy ở các môn học chuyên môn nhiều kiến thức

về giáo dục về KNS, tạo cho họ sự thú vị khiến người học say mê yêu thích tìm tòi

học hỏi để trang bị những kiến thức, kỹ năng cần thiết cho bản thân mình.

Vậy đâu là nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên? Đây cũng là điều mà tác giả

luận văn muốn tìm kiếm và luận giải. Và để làm được điều đó, tác giả luận văn đã

tiến hành điều tra, khảo sát thì thấy rằng: có rất nhiều nguyên nhân làm cho mức độ

thuần thục về KNS của HS- SV còn hạn chế song theo họ chủ yếu là do nhận thức



35



của sinh viên và đội ngũ những nhà quản lý giáo dục về vai trò tầm quan trọng của

KNS đối với sự phát triển toàn diện của người học còn chưa đầy đủ, nội dung cũng

như phương pháp giáo dục nói chung và giáo dục KNS nói riêng còn nhiều bất cập,

trang thiết bị phục vụ GD KNS chuyên biệt còn thiếu. Để làm rõ được ý kiến đánh

giá đó, chúng tôi đã tiến hành điều tra về thực trạng nhận thức của đội ngũ CBQL,

GV về tầm quan trọng của KNS. Bởi theo tác giả, nếu đội ngũ cán bộ, giảng viên có

nhận thức đúng đắn về hoạt động GDKNS thì đó chính là điều kiện thuận lợi cho

việc tổ chức các hoạt động giáo dục liên quan đến giáo dục KNS cho sinh viên tại

trường Cao đẳng Tài chính – Quản trị kinh doanh đạt hiệu quả tốt nhất.

2.2.2. Thực trạng nhận thức của đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên nhà trường

trường về trách nhiệm giáo dục KNS cho sinh viên

Tác giả đã thực hiện khảo sát nhận thức của 45 cán bộ quản lý, giảng viên

nhà trường về trách nhiệm giáo dục KNS cho sinh viên và nhận được kết quả sau:

Bảng 2.3: Nhận thức của đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên về trách

nhiệm phải giáo dục KNS cho SV

TT



Mức độ nhận thức



Nội dung



Đồng ý



SL

1

2

3

4

5

6

7



8



%



Không Đ.ý



Ý kiến khác



SL



SL



%



2



4.5



3



6.7



9



20



11



24.5



3



6.7



11



24.5



0



0



10



22.2



%



GD KNS là trách nhiệm của xã

3

6.7

40 88.8

hội

GD KNS là trách nhiệm của

35

77.8

7

15.5

nhà trƣờng

GD KNS là trách nhiệm của

25

55.6

11 24.4

các tổ chức đoàn thể

GD KNS là trách nhiệm của

19

42.2

15 33.3

GVCN và cố vấn học tập

GD KNS là trách nhiệm của

32

71.1

10 22.2

GV các khoa, bộ môn

GD KNS là trách nhiệm của

19

42.2

15 33.3

các trung tâm huấn luyện KNS

GD KNS cần phải có sự phối

hợp của các lực lƣợng giáo

100

0

0

dục, thực hiện đồng loạt ở cả 3 45

môi trƣờng : Nhà trƣờng -Gia

đình -xã hội.

GD KNS chỉ là trách nhiệm

3

6.7

32 71.1

của gia đình

(Số lượng khảo sát: 45 cán bộ, giảng viên)



36



Như vậy, qua những phân tích, đánh giá ở trên cho thấy hầu hết các CBQL,

GV và SV của trường Cao đẳng Tài chính – Quản trị kinh doanh đều nhận thức

đúng vai trò quan trọng của hoạt động GDKNS và cần thiết phải giáo dục KNS

trong nhà trường (77,8%) và theo họ để thực hiện tốt GD KNS thì cần phải có sự

phối hợp của các lực lượng giáo dục, thực hiện đồng loạt ở cả 3 môi trường : Nhà

trường -Gia đình -xã hội(100%). Đây theo tác giả là một tín hiệu tích cực đáng

mừng, bởi khi họ đã nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của hoạt động này thì họ

sẽ tích cực, chủ động tham gia vào hoạt động ấy và điều đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi

cho hoạt động này diễn ra và mang lại hiệu quả thiết thực cho hoạt động này.

Sau khi tiến hành khảo sát đánh giá thực trạng về KNS của sinh viên và đánh

giá nhận thức của đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên, sinh viên về trách nhiệm giáo

dục kỹ năng sống. Tác giả tiếp tục đi tìm hiểu về thực trạng hoạt động GDKNS tại

trường Cao đẳng Tài chính – Quản trị kinh doanh.

2.2. Thực trạng hoạt động GDKNS cho SV ở trường Cao đẳng Tài chính – Quản

trị kinh doanh

2.2.1. Thực trạng hoạt động GDKNS trong việc tích hợp vào các môn học của

giảng viên các khoa, bộ môn

Theo các chuyên gia, việc đưa giáo dục KNS vào các môn học chính khóa

trong nhà trường(theo hướng lồng ghép, tích hợp hóa) về bản chất là thực hiện việc

đổi mới phương pháp dạy và học. Trong đó, đổi mới về nội dung phải bảo đảm vừa

sức, thiết thực, giảm lý thuyết, tăng thực hành và ứng dụng, gắn với thực tiễn cuộc

sống. Mà đổi mới về phương pháp dạy học trong các trường là dựa trên hoạt động

tích cực, chủ động của học sinh, sinh viên.

Nội dung chương trình giáo dục KNS trong trường hiện nay theo chương

trình khung của Bộ giáo dục và Đào tạo là chưa có, phần lớn các cán bộ, giảng viên

trong trường tùy theo năng lực và sở thích của mình mà lồng ghép hay tích hợp các

bài học có nội dung giáo dục kỹ năng sống vào các môn học hay bài học của mình.

Các chương trình giáo dục kỹ năng sống cơ bản nhất thì hầu hết do các tổ chức như:

Phòng công tác sinh viên, Đoàn thanh niên, Hội sinh viên ...tổ chức theo các chuyên

đề hoặc kế hoạch giáo dục chính trị đầu khóa cho sinh viên ở đầu mỗi năm học.



37



Tác giả đã thực hiện khảo sát 40 cán bộ, giảng viên của khoa Lý luận chính

trị Mác –lê nin, bộ môn GDTC và một số khoa bộ môn trong nhà trường về việc tự

đánh giá việc dạy học tích hợp giáo dục KNS cho sinh viên, kết quả được thể hiện

qua bảng số liệu sau:

Bảng 2. 4: Đánh giá hoạt động tích hợp giáo dục KNS vào các môn học

của GV các khoa, bộ môn

Mức độ thực hiện

TT



Nội dung



Tốt



Khá



Không tốt



SL



1



2



%



SL



%



0



8



20



32



80



0



0



10



25



30



75



0



tích hợp vào môn học



SL



0



Có Xây dựng nội dung GD KNS



%



0



3



7.5



37



92.5



Có Triển khai dạy học có đan xen,

tích hợp các tình huống giáo dục

KNS vào các môn học chuyên

ngành



3



Đánh giá, điều chỉnh, bổ xung kế

hoạch giáo dục KNS sau khi thực

hiện.



(Số lượng khảo sát: 40 cán bộ, giảng viên)

Như vậy, có tới 80% giảng viên chưa xây dựng kế hoạch thực hiện, chỉ có

20% giáo viên tự đánh giá việc xây dựng kế hoạch có nội dung GDKNS ở mức tốt

và khá. Có 25% giáo viên được hỏi có thực hiện giảng dạy tích hợp các nội dung

GDKNS vào bài dạy, còn lại 75% cho biết chưa thực hiện việc tích hợp GD KNS

vào môn học, bài học. Việc đánh giá, bổ xung, điều chỉnh kế hoạch GD KNS sau khi

thực hiện mới chỉ có 7,5% số GV áp dụng.

Nguyên nhân của tình trạng trên là do giảng viên chưa có quy định bắt buộc

phải thực hiện giảng dạy tích hợp các KNS cần thiết (gắn với chuyên môn, chuyên

ngành giảng dạy của mình), mặt khác bản thân nhiều giảng viên cũng chưa xác định

được các cách thức triển khai giáo dục KNS cần thiết cho sinh viên một cách bài bản



38



và khoa học. Việc triển khai GD các KNS cho sinh viên đòi hỏi người dậy và hướng

dẫn phải có sự trải nghiệm sâu sắc thì mới thu hút được học viên, các lực lượng giáo

dục khác trong và ngoài nhà trường chưa có sự phối hợp tốt trong việc cùng giáo

dục KNS.

2.2.2. Thực trạng hoạt động GDKNS trong các hoạt động giáo dục khác

2.2.2.1. Hoạt động của GVCN và Cố vấn học tập

Hoạt động của các giảng viên làm công tác chủ nhiệm, cố vấn học tập của các

lớp ở cao đẳng, đại học vẫn rất cần thiết. Sinh viên cần được sự dẫn dắt, chỉ đạo,

quan tâm của người giáo viên chủ nhiệm, cố vấn học tập bởi lẽ họ là người gần gũi,

hiểu rõ được về động cơ, hoàn cảnh của mỗi sinh viên mình phụ trách rồi động viên,

dẫn dắt sinh viên trong học tập và cuộc sống thường ngày.

Những kỹ năng cơ bản cần thiết trong học tập, nghiên cứu khoa học và thực

tiễn cuộc sống được giáo viên chủ nhiệm truyền tải đến người học một cách nhẹ

nhàng, gần gũi và sát thực tế sẽ giúp sinh viên tự tin và trưởng thành nhanh hơn

trong học tập, cũng như sinh hoạt xã hội.

Giáo viên chủ nhiệm và cố vấn học tập nói chung trong trường đã cố gắng kịp

thời nắm bắt tâm tư, tình cảm và tình hình học tập, rèn luyện của lớp và các cá nhân

mình phụ trách. Thường xuyên động viên, hướng dẫn và uốn nắn kịp thời những ưu

và nhược điểm của các thành viên tổ chức mình phụ trách, đồng thời chia sẻ các

kinh nghiệm, vốn sống của mình giúp sinh viên học tập, rèn luyện và hòa nhập cuộc

sống một cách an toàn, và hiệu quả.

Chúng tôi, cũng đã tiến hành khảo sát 30 giảng viên là giáo viên chủ nhiệm

lớp, cố vấn học tập về công tác GD KNS. Kết quả thu được được phản ánh trong

bảng 2.5 dưới đây:



39



Bảng 2.5: Mức độ thực hiện các hình thức GD KNS của GVCN và Cố vấn học tập

Mức độ thực hiện

Thƣờng

Hình thức GDKNS



xuyên



Thỉnh thoảng



Không bao

giờ



SL



%



SL



%



SL



%



Trong giờ sinh hoạt lớp



3



10



21



70



6



20



Trong hoạt động GD ngoài giờ lên lớp



7



23,33



17



56,67



6



20



5



16,67



22



73,33



3



10



2



6,67



12



40



16



53,33



Thông qua các hoạt động VHVN,TDTT



13



43,33



15



50



2



6,67



Thông qua các hội thi



11



36,67



17



56,67



2



6,67



Thông qua các CLB, tổ, đội, nhóm



2



6,67



11



36,67



17



56,67



Thông qua các loại hình hoạt động khác



8



26.66



17



56.66



5



16,67



Trong các hoạt động thăm quan, dã

ngoại

Trong các hoạt động XH, hoạt động tập

thể



( Số lượng khảo sát: 30 người)

Như vậy, việc lựa chọn các hình thức giáo dục KNS của đội ngũ GVCN và

Cố vấn học tập tại trường là khá đa dạng, tuy nhiên hiệu quả và mức độ thực hiện

các hình thức trên còn chưa tốt: Chỉ có 10% GVCN và cố vấn học tập thường xuyên

giáo dục KNS qua các giờ sinh hoạt lớp; 23,33% GVCN giáo dục thường xuyên qua

hình thức ngoại khóa; Có đến 93,33% GVCN đánh giá không bao giờ hoặc thỉnh

thoảng mới GD KNS thông qua các CLB,Tổ đội, nhóm.

Mặt khác, tác giả tiến hành khảo sát hiệu quả của công tác triển khai các hoạt

động giáo dục KNS của 50 giảng viên, GVCN, Cố vấn học tập, kết quả thu được thể

hiện ở biểu đồ sau:



40



Biểu đồ 2.2: Hiệu quả thực hiện hoạt động giáo dục KNS của đội ngũ GV,

cố vấn học tập

70

60

50

Tốt

40



Khá



30



Trung bình

Còn hạn chế



20

10

0

Có kế hoạch

Tổ chức triển khai Có sự phối hợp Có kiểm tra, đánh

ngắn, trung và dài các hoạt động GD giữa nhà trường,

giá, điều chỉnh

hạn về GD KNS

với nội dung

gia đình và xã hội

sau mỗi hoạt

phong phú, hấp

động

dẫn, phù hợp với

đối tượng sinh

viên



( Số lượng khảo sát: 50 người)

Như vậy, qua biểu đồ tự đánh giá của đội ngũ GVCN,Cố vấn học tập cho

thấy hiệu quả thực hiện hoạt động GD KNS của đội ngũ trên là ở mức khá, và trung

bình. Việc lập kế hoạch cho các hoạt động GD KNS chưa được quan tâm, chú trọng

đúng mức (chiếm 86% ở mức trung bình và hạn chế), có tới 40% GVCN tự đánh giá

chưa thực hiện tốt kế hoạch.

Việc tổ chức triển khai các hoạt động giáo dục KNS với nội dung phong phú,

hấp dẫn, phù hợp với đối tượng sinh viên và tập thể do mình phụ trách, có 40%

giảng viên tự đánh giá ở mức trung bình, 18% đánh giá hiệu quả chưa tốt; 82%

giảng viên đánh giá sự phối hợp giữa ba môi trường: Gia đình –nhà trường –xã hội ở

mức trung bình và chưa tốt; Có đến 52 % giáo viên nhận xét việc kiểm tra, rút kinh

nghiệm sau mỗi hoạt động được thực hiện thiếu thường xuyên, hiệu quả trung bình,

hoặc chưa tốt.

Có thể nói rằng, hoạt động GDKNS cho SV ở đội ngũ giáo viên chủ nhiệm,

cố vấn học tập vẫn còn mang tính chất tự phát là chủ yếu mà chưa có công văn giấy

tờ nào quy định bắt buộc giáo viên họ phải có nội dung và thời lượng chương trình



41



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (108 trang)

×