1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ LIÊN HỒNG VÀ TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TÂN LẬP HUYỆN ĐAN PHƯỢNG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.62 MB, 92 trang )


Huyện Đan Phƣợng nằm ở phía Bắc tỉnh Hà Tây (cũ), huyện Đan

Phƣợng đã đạt tiêu chuẩn phổ cập THCS năm 1998, năm học 2007-2008

vừa qua, huyện Đan Phƣợng tiếp tục đƣợc công nhận phổ cập giáo dục

THCS đúng độ tuổi. Công tác xây dựng trƣờng chuẩn Quốc gia đƣợc huyện

Đan Phƣợng tiếp tục đẩy mạnh, đến nay, toàn huyện đã có 23/52 trƣờng

Mầm non, Tiểu học và THCS đạt chuẩn Quốc gia. Bên cạnh đó, toàn ngành

Giáo dục huyện Đan Phƣợng cũng đạt đƣợc nhiều thành tích về số lƣợng

học sinh giỏi các cấp, là một trong những huyện đứng đầu về chất lƣợng

giáo dục của tỉnh Hà Tây (cũ).

Trong kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh vừa qua, Đan Phƣợng đã có 52 em

đạt giải (trong đó có 5 giải Nhất, 13 giải Nhì, 16 giải Ba và 18 giải Khuyến

khích), xếp thứ 5 toàn tỉnh về số lƣợng học sinh đạt giải. Trong kỳ thi học

sinh giỏi cấp huyện, toàn huyện đã có 280 em đạt giải. Chất lƣợng giáo dục

toàn diện, đại trà, mũi nhọn của huyện đều đƣợc nâng lên, tỷ lệ học sinh

xếp loại khá ở bậc THCS đạt 65%.

Để tiếp tục nâng cao chất lƣợng giáo dục, huyện Đan Phƣợng đang

đầu tƣ trọng điểm, phấn đấu mỗi năm học có thêm 5 trƣờng đạt chuẩn

Quốc gia. Những nội dung và giải pháp chủ yếu mà ngành đề ra là tiếp tục

huy động số lƣợng học sinh ra lớp, thực hiện giáo dục toàn diện; không

ngừng phát triển đội ngũ giáo viên theo hƣớng đủ về số lƣợng, đảm bảo về

chất lƣợng; đẩy mạnh công tác xã hội hoá giáo dục trong xây dựng cơ sở

vật chất trƣờng học; phát động phong trào thi đua, nhân rộng điển hình tiên

tiến, phấn đấu đƣa chất lƣợng giáo dục Đan Phƣợng ngày càng đi lên.

2.2 Vài nét về trƣờng THCS Liên Hồng và trƣờng THCS Tân Lập.

2.2.1. Vài nét về trường THCS Liên Hồng

Trƣờng THCS Liên Hồng thuộc địa bàn xã Liên Hồng, với 34 giáo

viên, 416 học sinh, 7 phòng học, 1 phòng thí nghiệm. Trong năm học 20072008, trƣờng THCS Liên Hồng có 6 học sinh giỏi cấp huyện. Tỉ lệ HS hoàn



32



thành chƣơng trình lớp 9 là 95.9%; tỉ lệ học sinh thi đỗ vào trƣờng THPT

công lập là 65%, tỉ lệ học sinh bỏ học là 1.39%.

Cơ sở vật chất của trƣờng THCS Liên Hồng còn nhiều hạn chế: chƣa

có phòng học đa năng, chƣa có phòng vi tính và thƣ viện…

Trong hoạt động dạy và học, nhà trƣờng tiếp tục thực hiện nghiêm túc

phong trào hai không do Bộ Giáo dục và Đạo tạo phát động; đội ngũ giáo

viên thực hiện chƣơng trình môn học và dạy mô học tự chọn nghiêm túc,

đúng quy chế, đúng phân phối chƣơng trình. Đội ngũ giáo viên của trƣờng

đều đạt chuẩn, số giáo viên trên chuẩn chiếm 38%. Các giáo viên luôn có

đủ giáo án đúng quy chế chuyên môn khi lên lớp. Thực hiện giờ lên lớp

nghiêm túc theo đúng nội quy của nhà trƣờng, không vào muộn ra sớm.

Hàng tuần nhà trƣờng luôn tổ chức họp tổ chuyên môn trao đổi kinh

nghiệm, dự giờ thăm lớp. Hàng tháng nhà trƣờng tổ chức họp hội đồng,

100% giáo viên tham gia đầy đủ và có ý thức đạo đức, phẩm chất tốt,

nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật và thực hiện nghiêm túc những chủ

chƣơng của Đảng, Nhà nƣớc và Ngành giáo dục. Trƣờng THCS Liên Hồng

tích cực tham gia thực hiện phong trào “xây dựng nhà trƣờng thân thiện,

học sinh tích cực”; tiếp tục thực hiện phong trào “hai không” của ngành

giáo dục, do đó tỷ lệ học sinh quay cóp và ngồi nhầm lớp giảm dần. Chất

lƣợng dạy học thực chất dần dần đƣợc cải thiện và nâng cao.

2.2.2 Vài nét về trường THCS Tân Lập

Trƣờng THCS Tân Lập giáp với thị trấn Phùng, có 58 giáo viên, 876

HS. Nhiều năm học trƣờng đạt danh hiệu trƣờng tiên tiến. Năm học 20072008, trƣờng có 1 HS giỏi cấp tỉnh, 16 HS giỏi cấp huyện, tỉ lệ HS hoàn

thành chƣơng trình là 97%, tỉ lệ học sinh thi đỗ vào các trƣờng THPT công

lập chiếm 73.6%; tỉ lệ học sinh lƣu ban là 1.25%.

Trong những năm học vừa qua, trƣờng luôn thực hiện tốt các phong

trào phát động của Bộ Giáo dục và đào tạo, cũng nhƣ của ngành giáo dục

đào tạo huyện Đan Phƣợng. Đội ngũ giáo viên của trƣờng đều đạt chuẩn, số

33



giáo viên trên chuẩn hai năm gần đây chiếm 76 %. Các giáo viên luôn có

đủ giáo án và soạn giảng đầy đủ đúng quy chế chuyên môn trƣớc khi lên

lớp. Thực hiện giờ lên lớp nghiêm túc theo đúng nội quy của nhà trƣờng,

không vào muộn ra sớm.

2.3. Thực trạng về hoạt động tự học của học sinh

Để tìm hiểu hoạt động tự học của học sinh và hoạt động quản lí tự học,

chúng tôi đã tiến hành khảo sát bằng phiếu trƣng cầu ý kiến đối với các

giáo viên và học sinh. Bên cạnh đó, chúng tôi còn trao đổi với một số cán

bộ quản lí, giáo viên và học sinh; đồng thời tham khảo các báo cáo tổng kết

năm học của trƣờng, các văn bản của ngành giáo dục đào tạo Đan Phƣợng.

Khảo sát đƣợc tiến hành với 92 giáo viên của hai trƣờng THCS Liên

Hồng và trƣờng THCS Tân Lập. Số học sinh tham gia vào khảo sát này là

296 học sinh gồm 138 học sinh trƣờng THCS Liên Hồng và 158 học sinh

trƣờng THCS Tân Lập. Trong số đó, có 140 học sinh nam và 156 học sinh

nữ. Tính theo khối lớp thì có 94 học sinh lớp 7; số học sinh lớp 8 là 104 em

và 98 học sinh lớp 9. Về học lực, có 18.2% đạt loại giỏi, 46.5% học sinh

khá và 35.3% học sinh xếp loại học lực trung bình.

2.3.1. Nhận thức của học sinh về vấn đề tự học

Để tìm hiểu quan niệm của học sinh về sự cần thiết của vấn đề tự học,

chúng tôi đã yêu cầu học sinh đánh giá mức độ cần thiết của tự học đối với

hoạt động học tập của các em, kết quả cho thấy nhƣ sau: các học sinh đều

khẳng định ở mức độ “rất cần thiết” và “cần thiết” của vấn đề tự học. So

sánh theo trƣờng thì số học sinh trả lời ở mức rất cần thiết ở trƣờng THCS

Liên Hồng (78.6%) chiếm tỉ lệ cao hơn so với trƣờng THCS Tân Lập

(71.2%). Xét theo khối lớp thì không có sự khác biệt nhiều về ý kiến của

học sinh ở cả ba khối lớp 7, lớp 8 và lớp 9 về sự cần thiết của vấn đề tự

học.

Trƣờng



Mức độ



Tân Lập



Lớp



Liên Hồng

34



Lớp 7



Lớp 8



Lớp 9



SL



(%)



SL



(%)



SL



(%)



SL



(%)



SL



(%)



Rất cần thiết



99



71.2



103



78.6



22



75.9



93



75.6



79



73.1



Cần thiết



40



28.8



28



21.4



7



24.1



30



24.4



29



26.9



Bảng 2.1: Nhận thức của học sinh về tự học

Tự học là một quá trình tự giác, chủ động và tích cực của mỗi học

sinh. Để có thể tự học tốt thì một trong những yếu tố quan trọng là mỗi học

sinh phải có nhận thức đúng về vai trò và ý nghĩa của việc tự học. Tìm hiểu

về vấn đề này, chúng tôi thu đƣợc kết quả trả lời của học sinh đƣợc trình

bày trong bảng số liệu dƣới đây:

Đồng ý



Phân vân



Các ý kiến



Không

đồng ý

SL

%



SL

1. Tự học tốt giúp em đạt kết quả cao

trong học tập

2. Tự học tốt giúp em hiểu kiến thức sâu

sắc hơn

3. Tự học giúp em vận dụng kiến thức vào

thực tế tốt hơn

4. Tự học tốt giúp rèn luyện phong cách

làm việc độc lập, chủ động, tích cực

5. Tự học giúp hình thành năng lực tự học

suốt đời

6. Cốt lõi của học tập là hoạt động tự học



%



SL



%



239



81.6



49



16.7



4



1.4



235



80.2



52



17.7



5



1.7



214



73.8



64



22.1



11



3.8



187



64.3



89



30.6



15



5.2



126



43.3



113



38.8



51



17.5



145



50.7



103



36.0



37



12.9



B¶ng2.2: Ý kiến của học sinh về ý nghĩa và vai trò của tự học

Nhìn vào bảng số liệu trên cho thấy, phần lớn học sinh tham gia khảo

sát này nhận thức đƣợc vai trò và tầm quan trọng của tự học đối với việc

tiếp thu kiến thức cũng nhƣ kết quả học tập của bản thân. Cụ thể, có 81.6%

học sinh trả lời rằng “Tự học tốt giúp em đạt kết quả cao trong học tập”;

tƣơng tự có 80.2% học sinh đƣợc hỏi cho rằng “Tự học tốt giúp em hiểu

kiến thức sâu sắc hơn”. Việc tự học không chỉ giúp cho học sinh nắm bắt

kiến thức tốt hơn mà còn giúp các em có khả năng vận dụng những kiến



35



thức đã học vào thực tế cuộc sống, có 73.8% học sinh đồng ý với ý kiến

rằng: “Tự học giúp em vận dụng kiến thức vào thực tế tốt hơn”. Ngoài ra, tự

học còn giúp các em học sinh chủ động và tích cực hơn trong hoạt động

học tập của chính mình, 64.3% học sinh đồng ý với ý kiến rằng: “Tự học

tốt giúp rèn luyện phong cách làm việc độc lập, chủ động, tích cực” và

43.3% đồng ý rằng, tự học còn giúp “Hình thành năng lực tự học suốt đời”.

Qua kết quả nêu trên, chúng ta có thể thấy rằng, về mặt nhận thức,

phần lớn HS của hai trƣờng THCS Tân Lập và Liên Hồng tham gia khảo

sát này đều thấy đƣợc tầm quan trọng của vấn đề tự học đối với việc tiếp

thu kiến thức và vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống; tự

học còn giúp cho các em học sinh có phƣơng pháp học tập chủ động và tích

cực trong quá trình tiếp thu, lĩnh hội tri thức hình thành kỹ năng kỹ xảo, tự

học ảnh hƣởng trực tiếp đến kết quả học tập của học sinh, đồng thời hình

thành nên năng lực tự học, tự tìm tòi, nghiên cứu suốt đời ở mỗi ngƣời.

Bên cạnh những học sinh có nhận thức tốt thì vẫn còn một bộ phận

học sinh có nhận thức chƣa đầy đủ về vấn đề tự học. Cụ thể là, có 38.8%

học sinh phân vân và 17.5% học sinh không đồng ý rằng “Tự học giúp hình

thành năng lực tự học suốt đời”; có 48.9% học sinh phân vân và không

đồng ý “Cốt lõi của học tập là hoạt động tự học” và 35.8% phân vânkhông đồng ý rằng “Tự học tốt giúp rèn luyện phong cách làm việc độc lập,

chủ động, tích cực”. Với nhận thức nhƣ vậy thì những học sinh này khó có

thể có lòng say mê, vƣợt mọi khó khăn để tự mình chiếm lĩnh tri thức.

Học sinh lứa tuổi THCS chiếm một vị trí đặc biệt trong quá trình phát

triển của trẻ em. Đây là giai đoạn chuyển biến từ trẻ em sang ngƣời lớn. Về

tƣ duy, học sinh THCS đã có khả năng phân tích, tổng hợp, liên tƣởng phức

tạp hơn. Tƣ duy trừu tƣợng và tƣ duy độc lập dần chiếm ƣu thế; ghi nhớ

máy móc giảm dần thay vào đó là ghi nhớ logic và ghi nhớ ý nghĩa. Học

sinh lứa tuổi THCS cũng bắt đầu hình thành những phẩm chất mới về trí



36



tuệ, nhân cách phù hợp cho hình thành năng lực tự học của các em để tạo

nền tảng cho các em phát triển năng lực tự học ở mức độ cao.

2.3.2. Thực trạng hoạt động tự học của học sinh

- Kế hoạch tự học

Học sinh muốn có kết quả tự học tốt thì các em phải xây dựng đƣợc kế

hoạch tự học cụ thể. Việc xây dựng kế hoạch tự học giúp cho HS biết mình

phải làm gì để đạt mục tiêu nào, nó làm cho quá trình tự học diễn ra đúng

dự kiến, giúp HS thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ tự học và kiểm soát

đƣợc toàn bộ quá trình tự học một cách thuận lợi, tiết kiệm thời gian.

Kế hoạch tự học của HS càng rõ ràng thì càng thuận lợi cho việc kiểm

tra, đánh giá kết quả. Muốn vậy kế hoạch tự học của HS cần đƣợc cụ thể

hoá thành thời gian biểu tự học cho từng buổi học, từng tuần, từng tháng...

Việc xây dựng kế hoạch tự học ở nhà, có 53,3% học sinh cho biết “có

thời gian biểu cho việc tự học và thực hiện đúng thời gian biểu” của mình,

không có sự khác biệt giữa học sinh của hai trƣờng Liên Hồng và Tân Lập.

Số học sinh trả lời “Em không có thời gian biểu cho việc tự học” là 8.4%,

trong đó, học sinh trƣờng THCS Liên Hồng chiếm tỉ lệ cao hơn là

10.4%/6.5%. Ngoài ra, còn không ít học sinh đƣợc hỏi đã trả lời rằng “tự

học khi rảnh rỗi, không theo thời gian biểu” (chiếm 32.1%), không có sự

khác biệt đáng kể giữa học sinh của hai trƣờng.

Tìm hiểu thêm ý kiến của giáo viên về kế hoạch tự học của học sinh

cho thấy, có 6.7% giáo viên nói rằng, “phần lớn học sinh có thời gian biểu

tự học và thực hiện đúng”; 11.1% nói rằng “phần lớn học sinh có thời gian

biểu tự học nhưng không thực hiện đúng”; 31.1% giáo viên cho rằng “phần

lớn học sinh không có thời gian biểu tự học” và 51.1% giáo viên cho rằng,

“phần lớn học sinh tự học khi rảnh rỗi”.

Tân Lập



37



Liên

Hồng



Chung



Kế hoạch tự học

SL

1. Em có thời gian biểu tự học và thực

hiện đúng thời gian biểu.

2. Em có thời gian biểu tự học nhƣng

không thực hiện đúng

3. Em không có thời gian biểu tự học

4. Em tự học khi rảnh rỗi, không theo

thời gian biểu.



%



SL



82



53.6



71



53.0 153 53.3



12



7.8



6



4.5



18



6.3



10



6.5



14



10.4



24



8.4



49



32.0



43



32.1



92



32.1



%



SL



%



Bảng 2.3: Ý kiến học sinh về kế hoạch tự học

Với kết quả trả lời trên đây của các em học sinh và giáo viên, chúng

ta thấy, nhiều học sinh chƣa đặt ra cho mình kế hoạch tự học rõ ràng mà

mang tính cảm hứng hoặc khi các em có thời gian rảnh rỗi. Với tính chất tự

học nhƣ vậy thì khó có thể đạt đƣợc kết quả tốt, và cũng khó hình thành

đƣợc ở các em thói quen tự học, tự tìm tòi khám phá tri thức mới.

- Nội dung tự học

Khi đƣợc hỏi về nội dung tự học ở nhà, phần lớn các em học sinh trả

lời là “Làm bài tập về nhà và chuẩn bị bài mới”. Học sinh khá, giỏi chiếm

tỉ lệ cao hơn so với học sinh trung bình (Giỏi: 96.2%; Khá: 94.7%; Trung

bình: 84.5%). Ý kiến của giáo viên cũng cho thấy, phần lớn học sinh dành

thời gian tự học để “Làm bài tập về nhà và chuẩn bị bài mới” (56.7%). Nội

dung tự học thứ hai của các em là “Học lý thuyết và bài tập thầy cô sẽ kiểm

tra” (Giỏi: 61.5%, Khá: 63.6% và Trung bình: 52.6%). Thực vậy, hai nội

dung tự học này chủ yếu là để thực hiện nhiệm vụ mà thầy cô giáo giao cho

hơn là tự tìm tòi, học hỏi để mở rộng và nâng cao kiến thức của bản thân.

Còn những nội dung tự học khác thể hiện tính tích cực của học sinh thì tỉ lệ

không cao nhƣ: “Đọc sách tham khảo, nâng cao” hoặc “học các môn mà

em ưa thích”. Qua kết quả này, chúng ta thấy, học sinh khá giỏi thƣờng

chiếm tỉ lệ cao hơn học sinh trung bình ở tất cả các nội dung tự học. Điều



38



này là phù hợp với nhận xét ở phân tích trên của đội ngũ giáo viên là học

sinh khá giỏi hứng thú với việc tự học cao hơn so với học sinh trung bình.

Kết quả trả lời về nội dung tự học của học sinh cũng cho chúng ta

thấy, việc tự học của các em tại hai trƣờng THCS Tân Lập và Liên Hồng

thƣờng chỉ là đáp ứng những yêu cầu của giáo viên mà chƣa có sự tìm tòi,

mở rộng kiến thức hoặc hƣớng vào tự học các môn yêu thích nhằm phát

triển năng lực của bản thân. Tuy nhiên, khi xem xét ý kiến của giáo viên thì

hầu hết lại cho rằng, nội dung tự học của học sinh là “học các môn mà em

yêu thích” (93.3%). Ngoài ra, có 46.7% giáo viên cho rằng, nội dung tự học

của học sinh ở nhà là “Làm bài tập về nhà và chuẩn bị bài mới” và “Học lý

thuyết và bài tập thầy cô kiểm tra”.

ý kiến Học sinh



Nội dung tự học



ý kiến

Giáo viên



Giỏi

SL

%



Khá

SL

%



T.Bình

SL

%



SL



%



1. Học các môn học mà

em thích



23



44.2



41



31.1



35



36.1



84



93.3



2. Học lý thuyết và bài

tập thầy cô kiểm tra



32



61.5



84



63.6



51



52.6



42



46.7



3. Đọc sách nâng cao,

tham khảo



30



57.7



64



48.5



39



40.2



6



6.7



50



96.2 125 94.7



82



84.5



42



46.7



4. Làm bài tập về nhà và

chuẩn bị bài mới



Bảng 2. 4: Nội dung tự học của học sinh

- Thời gian tự học

Tìm hiểu thời gian dành cho việc tự học của học sinh, chúng tôi thu

đƣợc kết quả nhƣ sau:

Số học sinh giỏi dành thời gian tự học từ 2 giờ trở lên chiếm tỉ lệ là

53.8%, học sinh khá là 35,6% và học sinh trung bình là 27,0%. Ngƣợc lại,

số học sinh trung bình dành thời gian tự học ở nhà dƣới 1 giờ chiếm tỉ lệ là



39



14%, học sinh khá là 8.3% và học sinh giỏi là 3,8%. Nhƣ thế, chúng ta thấy

có sự liên quan nhất định giữa học lực của học sinh với việc dành thời gian

tự học. Học sinh khá, giỏi dành thời gian tự học nhiều hơn là học sinh trung

bình. Điều này đƣợc 84.8% giáo viên tham gia khảo sát khẳng định rằng

“Những học sinh khá, giỏi là những học sinh có ý thức tự học cao”.

Tính theo trƣờng thì học sinh trƣờng THCS Liên Hồng có thời gian tự

học trên 2 giờ chiếm tỉ lệ cao hơn học sinh trƣờng THCS Tân Lập

(37%/34.6%). Nếu tính theo khối lớp thì học sinh khối lớp 7 có thời gian tự

học trên 2 giờ chiếm tỉ lệ cao nhất (56,7%), sau đó là học sinh khối lớp 8

(41,2%) và thấp nhất là học sinh khối lớp 9 (26%)..

80



62.6

60



56.6

50.4

Dưói 1 giờ



41.2



40



Từ 1-2 giờ



36.7



Trên 2 giờ



26

20



11.4



8.4



6.7

0

Lớp 7



Lớp 8



Lớp 9



Biểu đồ2.1: Thời gian tự học của học sinh

Nhìn vào biểu đồ trên chúng ta thấy học sinh dành thời gian tự học

trên 2 tiếng giảm dần. Điều này phản ánh đặc trƣng tâm lí lứa tuổi, học sinh

khi lên lớp cao hơn thì ngoài thời gian dành cho việc học tập, tự học thì

các em có xu hƣớng còn tham gia tích cực vào các mối quan hệ bạn bè, các



40



hoạt động đoàn thể của trƣờng-lớp, hoạt động giải trí. Vì thế, thời gian

dành cho việc tự học cũng bị ảnh hƣởng

Học lực



Thời gian

tự học



Giỏi

SL (%)



Trƣờng



Khá

SL (%)



T.bình

SL (%)



Tân Lập

SL (%)



L.Hồng

SL (%)



Dƣới 1 giờ



2



3,8



11



8,3



14



14,0



13



8.3



15



10.8



Từ 1-2 giờ



22



42,3



74



56,1



59



59,0



89



57.1



72



52.2



Trên 2 giờ



28



53,8



47



35,6



27



27,0



54



34.6



51



37.0



Bảng 2.5: Thời gian tự học ở nhà của học sinh

- Hình thức tự học

Nhƣ phân tích ở trên, về nhận thức, nhiều học sinh thấy đƣợc ý nghĩa, vai

trò và sự cần thiết của hoạt động tự học, song hoạt động tự học của các em

trong thực tế nhƣ thế nào? Sau đây là kết quả tìm hiểu về vấn đề này:

Đồng ý



Hình thức tự học



Phân vân



Không

đồng ý

SL (%)



SL



(%)



SL



(%)



1. Em tự suy nghĩ, tự tìm hiểu các tài

liệu để trả lời câu hỏi và làm bài tập 209

của GV



71.8



76



26.1



6



2.1



2. Em viết lại bài giảng của giáo viên

theo ý hiểu của mình để tự làm bài tập



109



37.5



107



36.8



75



25.8



153



52.9



86



29.8



50



17.3



4. Em thƣờng xuyên đƣợc thảo luận

nhóm và tự trình bày sau đó thầy cô 191

đánh giá.



66.3



72



25.0



25



8.7



5. Thay vì tự học ở nhà, thì em thƣờng đi

135

học thêm



47.4



106



37.2



44



15.4



3. Em thƣờng tự học ở nhà cùng nhóm

bạn



41



Bảng 2.6: Hình thức tự học của học sinh

Hình thức tự học đƣợc học sinh nói đến nhiều nhất là học sinh “Tự suy

nghĩ, tự tìm hiểu tài liệu để trả lời câu hỏi và làm bài tập của giáo viên ở lớp”

(71.8%). Thời gian gần đây, chúng ta đã tiến hành mạnh mẽ việc đổi mới

phƣơng pháp dạy học nhằm phát huy tính chủ động, tích cực của học sinh.

Chính vì vậy việc học sinh phải tự học ở trên lớp có giáo viên hƣớng dẫn cũng

tạo cho các em khả năng tự chủ tốt hơn. Khi giáo viên đƣa ra câu hỏi hay bài

tập, các em đều tự suy nghĩ, tự tìm hiểu để trả lời câu hỏi và làm bài tập chứ

không thụ động đợi thầy cô giải đáp. Mặc dù vậy học sinh chƣa đạt đƣợc cái

đích cuối cùng của việc tự học là sau khi nghe giảng, sau khi học các em có

thể tự viết lại theo cách hiểu của mình. Chỉ có 37.5% học sinh đƣợc hỏi trả lời

rằng: “Em viết lại bài giảng của giáo viên theo ý hiểu của mình để tự làm bài

tập”.

Việc tự học của học sinh có thể thực hiện theo nhiều cách đa dạng khác

nhau. Ngay bản thân một học sinh cũng không phải chỉ có một cách học duy

nhất mà tùy từng môn học các em sẽ có cách học phù hợp.

Hình thức tự học của các em cũng rất đa dạng; tiếp theo là hình thức “tự thảo

luận nhóm và tự trình bày sau đó thầy cô đánh giá” (chiếm 66,3%). Đây là

hình thức tự học rất có ý nghĩa, giúp học sinh chủ động và tích cực hơn trong

hoạt động học tập của mình. Còn giáo viên chỉ giữ vai trò hƣớng dẫn học sinh.

Thông qua đó, học sinh sẽ nắm bài tốt hơn. Hình thức tự học tiếp theo của học

sinh là: “Tự học ở nhà cùng nhóm bạn” (52.9%). Đây cũng là một hình thức

tự học tốt để học sinh có thể trao đổi và hiểu bài tốt hơn. Thông qua hình thức

tự học này, các em học sinh học khá giỏi có thể hỗ trợ các bạn học trung bình.

Bên cạnh những học sinh có hình thức tự học tích cực trong học tập nhƣ trên

thì vẫn còn một bộ phận học sinh chƣa thể hiện đƣợc sự tích cực. Các em đã

chọn hình thức đi học thêm để thay cho việc tự học ở nhà, có 47.4% học sinh

tham gia trả lời là “Thay vì tự học ở nhà thì em thường đi học thêm”. Học

thêm gần đây có lẽ là một nhu cầu không chỉ từ phía học sinh mà thậm chí còn



42



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (92 trang)

×