1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRƯỜNG THCS

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.71 MB, 151 trang )


CHƢƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC

ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRƢỜNG THCS

1.1. Sơ lƣợc lịch sử nghiên cứu vấn đề

Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, có vai trò quan trọng trong bất kỳ xã

hội nào từ trƣớc đến nay. Do đó, từ xa xƣa con ngƣời đã rất quan tâm nghiên cứu

đạo đức, xem nó nhƣ động lực tinh thần để hoàn thiện nhân cách con ngƣời trong

từng giai đoạn lịch sử nhất định.

Đạo đức là tổng hợp những nguyên tắc, quy định chuẩn mực hƣớng con

ngƣời ngƣời tới cái chân, cái thiện, cái mỹ chống lại cái giả cái ác cái xấu… các

chuẩn mực đạo đức xuất hiện do nhu cầu của đời sống xã hội, là sản phẩm của lịch

sử xã hội, do cơ sở kinh tế- xã hội quyết định. Bất kỳ trong thời đại lịch sử nào, đạo

đức con ngƣời nếu đƣợc đánh giá theo khuôn phép chuẩn mực và qui tắc đạo đức.

Đạo đức là sản phẩm của xã hội, cùng với sự phát triển của sản xuất, của các mối

quan hệ xã hội, hệ thống các quan hệ đạo đức, ý thức đạo đức, hành vi đạo đức cũng

theo đó ngày càng phát triển, ngày càng nâng cao, phong phú, đa dạng và phức tạp

hơn.

Ở phƣơng Tây, thời cổ đại, nhà triết học Socrate (469-399 TCN) cho rằng cái

gốc của đạo đức là tính thiện. Bản tính con ngƣời vốn thiện, nếu tính thiện ấy đƣợc

lan tỏa thì con ngƣời sẽ có hạnh phúc. Muốn xác định đƣợc chuẩn mực đạo đức,

theo Socrate, phải bằng nhận thức lý tính với phƣơng pháp nhận thức khoa học

[10,tr34].

Khổng Tử (551-478 TCN) là nhà hiền triết nổi tiếng của Trung Quốc. Ông

xây dựng học thuyết “Nhân- Lễ- Chính danh”, trong đó, “Nhân”- Lòng thƣơng

ngƣời- là yếu tố hạt nhân, là yếu tố cơ bản nhất của con ngƣời. Đứng trên lập trƣờng

coi trọng GDĐĐ, Ông có câu nổi tiếng truyền lại đến ngày nay “Tiên học lễ, hậu

học văn”



10



Thế kỷ XVII, Komemxky- Nhà giáo dục học vĩ đại Tiệp Khắc đã có nhiều

đóng góp cho công tác GDĐĐ qua tác phẩm “Khoa sƣ phạm vĩ đại”. Komemxky đã

chú trọng phối hợp môi trƣờng bên trong và bên ngoài để GDĐĐ cho HS [23]

Thế kỷ XX, một số nhà giáo dục nổi tiếng của Xô Viết cũng nghiên cứu về

GDĐĐ HS nhƣ: A.C. Macarenco, V.A Xukhomlinxky… Nghiên cứu của cho việc

GDĐĐ mới trong giai đoạn xây dựng CNXH ở Liên Xô.

Ở Việt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh là ngƣời đặc biệt quan tâm đền đạo đức

và GDĐĐ cho cán bộ, HS. Bác cho rằng đạo đức cách mạng là gốc, là nền tảng của

ngƣời cách mạng. Bác còn căn dặn Đảng ta phải chăm lo GDĐĐ cách mạng cho

đoàn viên và thanh niên, HS thành những ngƣời thừa kế xây dựng CNXH vừa

“hồng’’ vừa “chuyên”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh coi nội dung cơ bản trong quan điểm đạo đức cách

mạng là: Trung với nƣớc, hiếu với dân; cần kiệm liêm chính, chí công vô tƣ; yêu

thƣơng con ngƣời; tinh thần quốc tế trong sáng.

Trong những năm gần đây, nhiều giáo trình đạo đạo đức đƣợc biên soạn khá

công phu. Tiêu biểu nhƣ giáo trình của Trần Hậu Kiểm(Nxb Chính trị Quốc gia,

1997); Phạm Khắc Chƣơng- Hà Nhật Thăng (Nxb Giáo dục, 2001); Giáo trình đạo

đức học…

Khi nghiên cứu về vấn đề GDĐĐ các tác giả đã đề cập đến mục tiêu, nội

dung, phƣơng pháp GDĐĐ và một số vấn đề về quản lý công tác GDĐĐ.

Về mục tiêu GDĐĐ, GS.VS Phạm Minh Hạc đã nêu rõ: “Trang bị cho mọi

ngƣời những tri thức cần thiết về tƣ tƣởng chính trị, đạo đức nhân văn, kiến thức

pháp luật và văn hóa xã hội. Hình thành ở mọi công dân thái độ đúng đắn, tình cảm,

niềm tin đạo đức trong sáng đối với bản thân, mọi ngƣời, với sự nghiệp cách mạng

của Đảng, dân tộc và với mọi hiện tƣợng xẩy ra xung quanh. Tổ chức tốt giáo dục

giới trẻ; rèn luyện để mọi ngƣời tự giác thực hiện những chuẩn mực đạo đức xã hội,

có thói quen chấp hành qui định của pháp luật, nỗ lực học tập và rèn luyện, tích cực

cống hiến sức lực, trí tuệ vào sự nghiệp CNH-HĐH đất nƣớc” [ 18, tr 168-170]



11



Để nâng cao chất lƣợng đạo đức trong thời kỳ đổi mới đã có một số nhà khoa

học nghiên cứu về quản lý công tác GDĐĐ. Tuy còn ít ỏi nhƣng có thể kể đến:

-“Một số biện pháp quản lý của hiệu trƣởng nhằm nâng cao chất lƣợng giáo

dục cho học sinh các trƣờng THPT Thành phố Hải Phòng” Trần Thị Quang

(ĐHSP HN, 2003)

-“Biện pháp tổ chức phối hợp giữa gia đình với nhà trƣờng và xã hội trong

công tác giáo dục đạo đức cho học sinhTHPT Huyện Mỹ Đức (Hà Tây) hiện nay”

Bùi Đức Thảo (Khoa Sƣ phạm ĐHQG HN, 2008)

- “Các biện pháp quản lý công tác giáo dục của hiệu trƣởng trƣờng THPT

Tỉnh Hƣng Yên” Đỗ Quang Hợp (Khoa Sƣ phạm ĐHQG HN, 2007)

Nhìn chung các đề tài nghiên cứu trên đi sâu vào việc xác định các nội dung

GDĐĐ, định hƣớng các giá trị đạo đức, các biện pháp GDĐĐ cho học sinh THPT.

Đặc biệt, hiện nay chƣa có đề tài nào nghiên cứu về những biện pháp quản lý hoạt

động GDĐĐ cho học sinh THCS nói chung và học sinh THCS Chu Văn An nói

riêng. Vì vậy tác giả chọn đề tài “Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho

học sinh ở trƣờng THCS Chu Văn An-Quận Tây Hồ - TP Hà Nội” với hy vọng đây

là sự kế thừa cần thiết các nghiên cứu đi trƣớc và cùng góp phần thêm công sức và

sự vận dụng hệ thống lý luận quản lý giáo dục nhằm góp phần nâng cao chất lƣợng

GDĐĐ HS trƣờng THCS Chu Văn An, cũng nhƣ các trƣờng THCS trên địa bàn

thành phố Hà Nội.

1.2. Một số khái niệm cơ bản

1.2.1. Đạo đức và giáo dục đạo đức

1.2.1.1. Đạo đức

Đạo đức đƣợc xem là khái niệm luân thƣờng đạo lý của con ngƣời, nó thuộc

về vấn đề tốt-xấu, hơn nữa xem nhƣ là đúng-sai, đƣợc sử dụng trong ba phạm vi:

lƣơng tâm con ngƣời, hệ thống phép tắc đạo đức và trừng phạt đôi lúc còn đƣợc gọi

giá trị đạo đức; nó gắn với nền văn hoá, tôn giáo, chủ nghĩa nhân văn, triết học và



12



những luật lệ của một xã hội về cách đối xử từ hệ thống này.

Dưới góc độ Triết học, đạo đức là một trong những hình thái sớm nhất của ý

thức xã hội, bao gồm những nguyên lý, quy tắc, chuẩn mực điều tiết hành vi của

con ngƣời trong quan hệ với ngƣời khác và với cộng đồng. Căn cứ vào những quy

tắc ấy, ngƣời ta đánh giá hành vi, phẩm giá của mỗi ngƣời bằng các quan niệm về

thiện ác, chính nghĩa và phi nghĩa, nghĩa vụ, danh dự [21, tr 145]. Trần Hậu Kiểm

(1997), Giáo trình đạo đức học, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội.

Dưới góc độ Đạo đức học, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt

bao gồm một hệ thống các quan điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn

mực xã hội [21, tr 12] Trần Hậu Kiểm (1997), Giáo trình đạo đức học, NXB

Chính trị quốc gia Hà Nội.

Dưới góc độ Giáo dục học, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt

bao gồm một hệ thống các quan niệm về cái thực, cái có trong mối quan hệ của con

ngƣời với con ngƣời [17, tr 170-171]. Phạm Minh Hạc (2001), Về phát triển con

người toàn diện thời kỳ Công nghiệp hóa-Hiện đại hoá, NXB Chính trị Quốc gia.

Theo nghĩa rộng, khái niệm đạo đức liên quan chặt chẽ với phạm trù chính

trị, pháp luật, lối sống. Đạo đức là thành phần cơ bản của nhân cách, phản ánh bộ

mặt nhân cách của một cá nhân đã đƣợc xã hội hoá. Đạo đức đƣợc biểu hiện ở cuộc

sống tinh thần lành mạnh, trong sáng, ở hành động giải quyết hợp lý, có hiệu quả

những mâu thuẫn. Khi thừa nhận đạo đức là một hình thái ý thức xã hội thì đạo đức

của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng, mỗi tầng lớp giai cấp trong xã hội cũng phản ánh

ý thức chính trị của họ đối với các vấn đề đang tồn tại [21, tr 153-154]. Ngày nay,

đạo đức đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt

bao gồm một hệ thống những quan điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyên tắc,

chuẩn mực xã hội. Nó ra đời, tồn tại và biến đổi từ nhu cầu của xã hội, nhờ đó con

người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của

con người và sự tiến bộ của xã hội trong mối quan hệ giữa con người với con



13



người, giữa cá nhân và xã hội”. [ 21, tr 12 ] Trần Hậu Kiểm (1997), Giáo trình đạo

đức học, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội.

Bản chất đạo đức là những qui tắc, những chuẩn mực trong quan hệ xã hội,

nó đƣợc hình thành, tồn tại và phát triển trong cuộc sống, đƣợc xã hội thừa nhận và

tự giác thực hiện. Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội phản ánh những quan hệ

xã hội đƣợc hình thành trên cơ sở kinh tế, xã hội. Mỗi hình thái kinh tế hay mõi giai

đoạn đều có những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức tƣơng ứng. Vì vậy, đạo đức có

tính giai cấp, tính dân tộc và tính thời đại. Nghĩa là những giá trị đạo đức của ngày

hôm qua nhƣng lại không phù hợp với ngày hôm nay hoặc có những giá trị đạo đức

phù hợp với giai cấp này nhƣng lại không phù hợp với giai cấp khác, dân tộc khác.

Các giá trị đạo đức truyền thống tồn tại và phát triển trong xã hội dƣới những

phạm trù:

 Thiện và ác.

 Có lƣơng tâm và bất lƣơng tâm

 Có trách nhiệm và tắc trách nhiệm.

 Hiếu nghĩa và bất nghĩa, bất hiếu.

 Vinh và nhục.

 Hạnh phúc và bất hạnh.

 Tính ngay thẳng, lòng trung thực.

 Tính nguyên tắc, sự kiên tâm.

 Tính khiêm tốn, sự lễ độ.

 Tính hào hiệp, sự tế nhị.

 Tính tiết kiệm, sự giản dị.

 Lòng dũng cảm, phẩm chất anh hùng.

Ngày nay trong nền kinh tế thị trƣờng và sự hội nhập quốc tế, thì khái niệm

đạo đức cũng có thay đổi theo tƣ duy và nhận thức mới. Tuy nhiên, không có nghĩa



14



là các giá trị đạo đức cũ hoàn toàn mất đi, thay vào đó là các giá trị đạo đức mới.

Theo quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc ta, các giá trị đạo đức hiện nay là sự kết

hợp sâu sắc truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc với xu hƣớng tiến bộ của thời

đại, của nhân loại. Đó là tinh thần cần cù lao động, sáng tạo, tình yêu quê hƣơng đất

nƣớc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật,

có nếp sống văn minh lành mạnh, có tinh thần nhân đạo và tinh thần quốc tế cao cả.

Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, chịu sự chi phối của điều kiện kinh tế vật

chất xã hội, đồng thời nó cũng có quan hệ tƣơng tác với các hình thái ý thức xã hội

khác nhƣ pháp luật, văn hoá, nghệ thuật, giáo dục, khoa học,v.v.. Vì vậy trong quá

trình hình thành và phát triển nhân cách có 3 thành tố:

Hành vi đạo đức

Hành vi pháp luật

Hành vi văn hoá

Đƣợc coi là phẩm đức của con ngƣời hoàn thiện gồm hai mặt đức và tài.

Trong đó hành vi đạo đức đƣợc đánh giá là thành tố quan trọng nhất, tốt đẹp nhất

theo triết lý:

“Pháp luật là đạo đức tối thiểu

Đạo đức là pháp luật tối đa”

Theo triết lý trên thì pháp luật và đạo đức là hai bậc thang của một hành vi

liên quan chặt chẽ với nhau cùng một mục đích làm điều thiện, tránh điều ác. Pháp

luật là đạo đức tối thiểu, chung quy lại là không đƣợc làm điều ác. Đạo đức là pháp

luật tối đa, chung quy lại là không những không làm điều ác mà cần tự nguyện làm

điều thiện đem lại lợi ích vật chất hay tinh thần cho ngƣời khác.

Xuất phát từ mối liên hệ biện chứng giữa các hình thái ý thức đã trình bày ở

trên thì việc giáo dục đạo đức trong nhà trƣờng cần đƣợc hiểu theo một khái niệm

rộng là bao gồm hành vi đạo đức, hành vi pháp luật và hành vi văn hoá.

1.2.1.2. Giáo dục đạo đức



15



Theo giáo sƣ Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt: “Giáo dục đạo đức là quá trình

biến các chuẩn mực đạo đức, từ những đòi hỏi bên ngoài của xã hội đối với cá nhân

thành những đòi hỏi bên trong của bản thân, thành niềm tin, nhu cầu, thói quen của

người được giáo dục”.

Giáo dục đạo đức trong trƣờng phổ thông là một bộ phận của của quá trình

giáo dục tổng thể có quan hệ biện chứng với các quá trình giáo dục khác nhƣ giáo

dục trí tuệ, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục thể chất, giáo dục lao động và giáo dục

hƣớng nghiệp nhằm hình thành cho học sinh niềm tin, thói quen, hành vi, chuẩn

mực về đạo đức.

Giáo dục đạo đức là quá trình tác động tới học sinh của nhà trƣờng, gia đình

và xã hội, nhằm hình thành cho học sinh ý thức, tình cảm, niềm tin đạo đức và xây

dựng thể hiện đƣợc những thói quen, hành vi đạo đức trong đời sống xã hội. Song

giáo dục trong nhà trƣờng giữ vai trò chủ đạo định hƣớng. “giáo dục đạo đức cho

học sinh là bộ phận quan trọng có tính chất nền tảng của giáo dục trong nhà trƣờng

xã hội chủ nghĩa”.

- Tạp chí nghiên cứu giáo dục.

Trong bài nói chuyện tại lớp đào tạo hƣớng dẫn viên các trại hè cấp I. Ngày

12 tháng 6 năm 1956, Bác Hồ có dạy: “… Trong giáo dục không những phải có tri

thức phổ thông mà phải có đạo đức cách mạng. Có tài phải có đức. Có tài mà không

có đức, tham ô hủ hoá có hại cho nƣớc. Có đức mà không có tài nhƣ ông bụt ngồi

trong chùa, không giúp ích gì đƣợc ai…”.

Ngày nay, giáo dục đạo đức cho học sinh là giáo dục đạo đức xã hội chủ

nghĩa. Nâng cao chất lƣợng giáo dục chính trị, đạo đức, pháp luật, làm cho học sinh

có tinh thần yêu nƣớc, thấm nhuần lý tƣởng xã hội chủ nghĩa, thật sự say mê học

tập, có ý thức tổ chức kỷ luật, kính thầy, yêu bạn, có nếp sống lành mạnh, biết tôn

trọng pháp luật.

1.2.2. Hoạt động giáo dục đạo đức



16



Quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh bao gồm tác động của nhiều yếu tố

khách quan và chủ quan, bên ngoài và bên trong. Có thể hiểu rằng có bao nhiêu mối

quan hệ trong nhà trƣờng và xã hội mà học sinh tham gia hoạt động thì có bấy nhiêu

yếu tố tác động đến học sinh. Đó là gia đình, nhà trƣờng và xã hội. Mỗi lực lƣợng

có tầm quan trọng, có nhiệm vụ, có phƣơng pháp và tính ƣu việt riêng.

- Gia đình là một tế bào xã hội , là nơi lƣu giữ và phát triển vững chắc nhất

giá trị truyền thống. Từ gia đình có thể giáo dục tất cả các lứa tuổi lòng kính yêu

cha mẹ, ngƣời thân trong gia đình, yêu thƣơng đồng loại. Gia đình hạnh phúc dựa

trên nguyên tắc cơ bản là mọi ngƣời đều phải yêu thƣơng quí mến nhau, giúp đỡ

nhau trong công việc và là chỗ dựa tinh thần cho mỗi thành viên.

- Nhà trƣờng là một tổ chức xã hội đặc thù với cấu trúc tổ chức chặt chẽ, có

nhiệm vụ chuyên biệt là giáo dục, đào tạo nhân cách trẻ em theo những định hƣớng

của xã hội.

Quá trình thể hiện các chức năng trên là quá trình tổ chức các hoạt động dạy

học, hoạt động giáo dục,... theo hệ thống chƣơng trình, nội dung đƣợc tổ chức một

cách chặt chẽ, có kế hoạch.

- Các lực lƣợng xã hội bao gồm: Các cơ quan, các tổ chức chính trị, xã hội,

các tổ chức kinh tế, các tổ chức đoàn thể quần chúng, các cơ quan chức năng,...

[28,tr7]. Hồ Chí Minh (1990), Về vấn đề giáo dục đạo đức, Nxb Hà Nội.Trong các

lực lƣợng giáo dục nhà trƣờng có vai trò chủ đạo, là trung tâm tổ chức phối hợp và

dẫn dắt công tác giáo dục bởi vì:

+ Nhà trƣờng là cơ quan thuộc sự quản lý của Nhà nƣớc, đƣợc sự lãnh đạo

trực tiếp và chặt chẽ của Đảng, nắm quan điểm và đƣờng lối giáo dục xã hội chủ

nghĩa, có đội ngũ chuyên gia sƣ phạm xã hội chủ nghĩa.



17



+ Nhà trƣờng có chức năng thực hiện mục tiêu giáo dục đào tạo nhân cách.

+ Nhà trƣờng có nội dung giáo dục và phƣơng pháp giáo dục đƣợc chọn lọc

và tổ chức chặt chẽ.

+ Nhà trƣờng có lực lƣợng giáo dục mang tính chất chuyên nghiệp.

+ Môi trƣờng giáo dục trong nhà trƣờng có tính chất sƣ phạm, có tác dụng

tích cực trong quá trình giáo dục đạo đức.

1.2.3. Khái niệm quản lý và quản lý hoạt động giáo dục đạo đức

1.2.3.1. Quản lý

Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có mục đích của chủ thể (ngƣời

quản lý, tổ chức quản lý) về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế,… bằng một

hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phƣơng pháp và các biện

pháp cụ thể nhằm đạt tới các mục tiêu đề ra.

Từ quan niệm trên thì quản lý bao gồm các yếu tố sau:

+ Phải có ít nhất một chủ thể quản lý và tác nhân tạo ra các tác động và

khách thể quản lý (ít nhất là một đối tƣợng quản lý tiếp nhận trực tiếp các tác động

của chủ thể quản lý).

+ Phải có mục tiêu và một quĩ đạo đặt ra cho cả đối tƣợng và chủ thể, mục

tiêu này là căn cứ để tạo ra các động lực chủ yếu.

+ Phải có hệ thống công cụ quản lý cần thiết (hệ thống các văn bản qui phạm

pháp luật về giáo dục và các công cụ khác).

+ Tác động của chủ thể quản lý phải phù hợp với khách thể quản lý, phù hợp

với hoàn cảnh và điều kiện cụ thể của mỗi đơn vị hoặc tổ chức. Tác động của chủ

thể có thể là một lần nhƣng cũng có thể là liên tục nhiều lần.

+ Bất luận một tổ chức có mục đích gì, cơ cấu, qui mô ra sao đều cần phải có

sự quản lý của ngƣời quản lý để tổ chức hoạt động và đạt mục đích của mình.

Lý luận và thực tế cho thấy quản lý không những là một môn khoa học mà

nó còn là một “nghệ thuật” đòi hỏi sự vận dụng tinh tế, khôn khéo để đạt tới mục



18



đích.

Mục tiêu quản lý là định hƣớng toàn bộ hoạt động quản lý đồng thời là công

cụ để đánh giá kết quả quản lý. Để thực hiện những mục tiêu đó, quản lý phải thực

hiện bốn chức năng: Kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, chỉ đạo thực hiện kế

hoạch và kiểm tra đánh giá.

1.2.3.2. Biện pháp quản lý

“Biện pháp là cách làm, cách thức tiến hành một vấn đề cụ thể nào đó(Từ

điển Tiếng Việt, Nxb Khoa học xã hội Hà Nội.1997). Trong quản lý đối tƣợng quản

lý có tính phức hợp và phức tạp, đòi hỏi phải có biện pháp quản lý đa dạng và phù

hợp đối tƣợng. Do đó, biện pháp quản lý thƣờng đƣợc dùng với nghĩa cụ thể hóa

các phƣơng pháp quản lý trong các công việc cụ thể.

Nói cách khác, biện pháp quản lý là cách thức cụ thể để thực hiện một mục

tiêu cụ thể trong quá trình quản lý, bản thân mỗi biện pháp có thể bao gồm một tập

hợp các việc làm, tác động cụ thể. Các biện pháp quản lý thƣờng đƣợc đề xuất để

giải quyết một loạt vấn đề trong mỗi quá trình quản lý một hệ điều (một cơ sở đào

tạo, một hệ thống giáo dục…) nên thƣờng đƣợc đƣa ra dƣới dạng một biện pháp,

trong đó mỗi biện pháp có một vai trò nhất định và có mối quan hệ với việc thực thi

các biện pháp khác.

Các biện pháp quản lý thƣờng đƣợc phân loại theo các dạng cơ bản của các

phƣơng pháp quản lý (các biện pháp hành chính- tổ chức/ các biện pháp kinh tế/ các

biện pháp xã hội- tâm lý);hoặc theo các chức năng của quá trình quản lý(các biện

pháp tác động và khâu kế hoạch hóa/ các biện pháp tác động và khâu tổ chức- triển

khai/ các biện pháp kiểm tra, đánh giá)… có trƣờng hợp để nhấn mạnh vai trò một

yếu tố, một khâu, một tình huống nào đó… ngƣời ta cũng dành riêng một biện pháp

trong hệ biện pháp để ƣu tiên xử lý.

Biện pháp quản lý giáo dục thể hiện tính năng động sáng tạo của chủ thể

quản lý trong các điều kiện công tác thực tế của một cơ sở giáo dục - đào tạo cụ thể,

nhằm giúp cho nhà quản lý thực hiện các phƣơng pháp quản lý quá trình giáo



19



dục.Hiệu quả quản lý phụ thuộc rất nhiều vào việc chọn lựa đúng và áp dụng linh

hoạt các biện pháp.

1.2.3.3. Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THCS

Từ các khái niệm về quản lý và HĐ GDĐĐ cho học sinh THCS có thể đi đến

khái niệm về biện pháp quản lý HĐ GDĐĐ cho học sinh THCS nhƣ sau:

Biện pháp quản lý HĐ GDĐĐ cho học sinh THCS là hệ thống những tác

động có kế hoạch, có hƣớng đích của chủ thể quản lý đến tất cả các khâu, các bộ

phận của nhà trƣờng nhằm giúp nhà trƣờng sử dụng tối ƣu các tiềm năng, các cơ hội

để thực hiện hiệu quả các mục tiêu quản lý GDĐĐ cho học sinh ở cấp học này.

Đó là một quá trình, bao gồm nhiều cấp độ và nhiều phạm vi:

Về cấp độ





Quản lý công tác GDĐĐ cấp hệ thống GD quốc gia: Đây chính là



công tác GDĐĐ cho thế hệ trẻ, với tƣ cách một nhiệm vụ giáo dục cơ bản nhằm

thực hiện mục đích giáo dục toàn diện nhân cách. Ở cấp độ này, quản lý công tác

GDĐĐ là công tác quản lý hệ thống xã hội, mà nòng cốt là hệ thống nhà trƣờng,

các bậc học, các cấp học, thuộc các cấp quản lý vĩ mô (quốc hội, chính phủ, các

đoàn thể, các cơ quan QLNN về GDĐT…)





Quản lý công tác GDĐĐ HS cấp cơ sở giáo dục- đào tạo (các nhà



trƣờng) là quản lý các hoạt động GDĐĐ tác động trực tiếp đến sự hình thành các

phẩm chất của nhân cách ngƣời học.

Về phạm vi

Quản lý hoạt động GDĐĐ HS đƣợc xác định chính là một nội dung quan

trọng đặc biệt trong công tác quản lý nhà trƣờng của hiệu trƣởng. Điều đó cũng

đồng nghĩa đề tài chỉ giới hạn phạm vi bàn về hoạt động GDĐĐ học đƣờng trong

trƣờng THCS và một số nội dung cơ bản của quản lý hoạt động này:

- Mục tiêu quản lý công tác GDĐĐ HS

- Nội dung cơ bản của quản lý giáo dục đạo đức HS



20



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (151 trang)

×