1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

3 Thực trạng quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS THCS Chu Văn An

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.71 MB, 151 trang )


TT



Các loại kế hoạch



Số lƣợng



1



Kế hoạch GDĐĐ cho các ngày lễ kỷ niệm,

các đợt thi đua theo chủ đề



Tỷ lệ %



193



96,5



2



Kế hoạch GDĐĐ cho cả năm



193



96,5



3



Kế hoạch GDĐĐ cho từng học kỳ



86



43



4



Kế hoạch GDĐĐ cho từng tháng



71



35,5



5



Kế hoạch GDĐĐ cho từng tuần



70



35



Xây dựng kế hoạch là khâu rất cần thiết trong quá trình quản lý, tác giả đã

tiến hành khảo sát bằng phiếu đối với 200 cán bộ quản lý, cán bộ Đoàn, GV “Đồng

chí cho biết kế hoạch quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS đƣợc XD nhƣ thế nào?”

Kết quả ở trên cho thấy Trƣờng THCS Chu Văn An đã chủ động xây dựng

kế hoạch GDĐĐ cho HS trong cả năm học, cho các hoạt động kỷ niệm những ngày

lễ lớn, cho thời gian dài, còn kế hoạch tuần, tháng ít đƣợc sử dụng. Mặc dù trên

thực tế các kế hoạch GDĐĐ chủ yếu đƣợc lồng ghép trong kế hoạch công tác, nói

chung vẫn còn sơ sài, biện pháp và hình thức chƣa đủ sinh động, chƣa chú trọng đến

cơ chế phối hợp.

2.3.2 Thực trạng về công tác tổ chức GDĐĐ

Triển khai kế hoạch công tác GDĐĐ:

Phân công, bố trí, sắp xếp nhân lực do BGH .Trên thực tế, công tác này đôi

khi dựa trên tƣ tƣởng chủ quan chủ nghĩa, đây cũng là điều đáng lƣu tâm.

Chƣa đủ về số lƣợng giáo viên, nhiều môn còn thiếu, đặc biệt không có đủ

giáo viên chuyên biệt bộ môn GDCD hầu hết là GV dạy môn văn và GVCN giảng

dạy. Công tác sắp xếp đội ngũ vẫn dựa vào GV giỏi các cấp là chính… chƣa dựa

vào phẩm chất đạo đức nghề nghiệp… điều này cũng làm ảnh hƣởng không nhỏ tới

chất lƣợng GDĐĐ của nhà trƣờng

Kinh phí, cơ sở vật chất, phƣơng tiện cho các hoạt động hầu hết đều gặp khó

khăn, kinh phí của nhà trƣờng dựa vào nguồn thu do học phí, nguồn thu do khai



70



thác quỹ xã hội, nguồn thu do khai thác quỹ Nhà nƣớc,..Bên cạnh đó các việc phải

chi nhƣ chi thƣờng xuyên cho giảng dạy, học tập, chi cho xây dựng trƣờng lớp, chi

cho hiện đại hóa trang thiết bị giảng dạy, chi cho phát triển công nghệ tin học …

Trên thực tế chi cho công tác GDĐĐ chỉ chi bằng 1/15 trên tổng chi cả năm học

……Điều này cho thấy rằng BGH chƣa thực sự đầu tƣ về cơ sở vật chất cho công

tác GDĐĐ.

2.3.3 Thực trạng về chỉ đạo kiểm tra, đánh giá công tác GDĐĐ

Tác giả điều tra thực trạng chỉ đạo quản lý GDĐĐ cho HS qua 50 cán bộ bao

gồm 4 CBQL, 2 Tổng phụ trách, 44 GVCN, kết quả khảo sát đƣợc thể hiện ở bảng

2.13

Bảng 2.13: Thực trạng chỉ đạo kế hoạch GDĐĐ cho HS



1

2



Mức độ thực hiện



Nội dung khảo sát



TT



Số lƣợng



Chỉ đạo GDĐĐ thông qua hoạt động trên lớp

Chỉ đạo GDĐĐ thông qua hoạt động của Đội TN

và Đoàn TNCS HCM



Thứ bậc



50



1



43



4



3



Chỉ đạo GDĐĐ thông qua tiết sinh hoạt lớp



48



2



4



Chỉ đạo GDĐĐ thông qua hoạt động chào cờ



47



3



42



5



5



Chỉ đạo GDĐĐ thông qua nội dung GD theo chủ

điểm tháng



6



Chỉ đạo việc phối hợp các lực lƣợng GDĐĐ



41



7



7



Chỉ đạo GV đánh giá, xếp loại HS



42



5



39



8



8



Chỉ đạo việc đầu tƣ kinh phí cho hoạt động

GDĐĐ



71



Qua kết quả khảo sát bảng 12 cho thấy: Các đối tƣợng khảo sát đều cho rằng

chỉ đạo thực hiện kế hoạch GDĐĐ thông qua dạy học trên lớp là quan trọng và

thƣờng xuyên nhất(thứ 1). Hiện nay đại bộ phận GV đều có ý thức GDĐĐ cho

HS(uốn nắn thái độ, hành vi đạo đức…) nhất là những môn KHXH và môn GDCD.

Chỉ đạo GDĐĐ thông qua tiết sinh hoạt lớp, hay hoạt động chào cờ… đƣợc ƣu tiên

lựa chọn ở vị trí tiếp theo (thứ 2, thứ 3). Nhà trƣờng quản lý chặt chẽ tiết sinh hoạt

lớp(1 tiết/tuần), GVCN cùng đội ngũ cán bộ lớp tổ chức sinh hoạt, nhận xét ƣu,

khuyết điểm, khen chê kịp thời, uốn nắn những hành vi đạo đức của HS, giúp HS

phát triển nhân cách một cách toàn diện. Tiết chào cờ đầu tuần là tiết sinh hoạt

chính trị trong phạm vi toàn trƣờng nhằm tổng kết những hoạt động học tập, tu

dƣỡng của các tập thể cá nhân HS, cũng nhƣ khen thƣởng, động viên, kỷ luật HS vi

phạm, uốn nắn, nhắc nhở HS thực hiện tốt nội quy trƣờng lớp…Đây là những hoat

động có hiệu quả trong công tác GDĐĐ nên trƣờng THCS Chu Văn An thực hiện

tốt

chỉ đạo thực hiện kế hoạch GDĐĐ cho HS thông qua hoạt động của Đội

TNTP, Đoàn TNCS HCM là hoạt động có hiệu quả cao, dƣới sự chỉ đạo của BGH

nhà trƣờng, những tổ chức này có nhiệm vụ GDĐĐ,lối sống cho HS và trực tiếp

theo dõi, đánh giá thi đua một cách toàn diện, khách quan hoạt động học tập, tu

dƣỡng của HS. Chỉ đạo Công tác GDĐĐ cho HS thông qua mục tiêu, nội dung GD

theo chủ điểm tháng có điểm trung bình là 2,5 (thứ 5), đồng thứ hạng với việc chỉ

đạo GVCN đánh giá xếp loại hạnh kiểm HS. Qua tìm hiểu thực tế tác giả nhận thấy

chỉ đạo các HĐ GDĐĐ diễn ra trên bề rộng. chƣa thực sự đi vào bề sâu.

Chỉ đạo phối hợp các lực lƣợng GDĐĐ cho HS có điểm trung bình là 2,1

(thứ 7) có thực hiện nhƣng kết quả chƣa cao, các trƣờng chủ yếu phối hợp các tổ

chức, các lực lƣợng trong nhà trƣờng, nhà trƣờng chƣa kết hợp chặt chẽ, thƣờng

xuyên với các lực lƣợng XH để GDĐĐ cho HS, đây là hạn chế cần đƣợc khắc phục

trong thời gian tới.



72



Chỉ đạo đầu tƣ về cơ sở vật chất kinh phí cho hoạt động GDĐĐ điểm trung

bình 1,9 (thứ 8), nhà trƣờng còn hạn chế về kinh phí việc đầu tƣ tuyên truyền

GDĐĐ tổ chức hội nghị trao đổi về kinh nghiệm GDĐĐ tọa đàm nói chuyện vè

ngƣời tốt việc tốt ….bị hạn chế. Trƣờng cần linh hoạt, sáng tạo, làm tốt công tác xã

hội hóa giáo dục để phục vụ mục tiêu giáo dục nói chung, và GDĐĐ nói riêng trong

giai đoạn hiện nay.

2.3.4. Những lý do làm hạn chế hiệu quả của quản lý hoạt động GDĐĐ cho học

sinh của trƣờng THCS Chu Văn An.

Để tìm hiểu nguyên nhân của những hạn chế trong việc quản lý hoạt động

GDĐĐ cho học sinh chúng tôi tiến hành điều tra bằng phiếu đối với 120 CBQL, bí

thƣ chi Đoàn, tổng phụ trách GVCN kết quả thể hiện ở bảng 14

Bảng 2.14: Nguyên nhân ảnh hƣởng đến hiệu quả quản lý hoạt động

GDĐĐ cho HS

Số lƣợng



TT Nguyên nhân

1



Do nhận thức chƣa đầy đủ về tầm quan trọng của

hoạt động GDĐĐ



Tỷ lệ



88



73,3



2



Chƣa xây dựng đƣợc màng lƣới tổ chức quản lý



87



72,5



3



Do thiếu chỉ đạo từ trên chi tiết cụ thể



74



61,6



4



Do thiếu văn bản pháp quy



54



45



5



Công tác thanh tra, kiểm tra chƣa thƣờng xuyên



68



56,6



6



Sự phối hợp giũa các lực lƣợng GD chƣa đồng bộ



84



70



7



Đánh giá, khen thƣởng chƣa khách quan kịp thời



67



55,8



8



Công tác kế hoạch hóa còn yếu



62



51,6



9



Do đội ngũ cán bộ thiếu và yếu



57



47,5



10



Còn nguyên nhân khác



5



4,16



73



Với kết quả nêu ở bảng trên cho thấy có hai nhóm nguyên nhân chủ yếu ảnh

hƣởng đến tính hiệu quả của việc quản lý GDĐĐ cho HS

a) Nhóm nguyên nhân khách quan

-



Do sự chỉ đạo thiếu đồng bộ từ trên xuống và do thiếu các tài liệu văn bản



pháp quy hƣớng dẫn. Trên thực tế nhà trƣờng chƣa có các văn bản hƣớng dẫn cụ thể

về việc đánh giá đạo đức, hạnh kiểm của HS, dẫn đến tình trạng không ít GVCN trẻ

lúng túng trong việc xếp loại hạnh kiểm HS

b) Nhóm nguyên nhân chủ quan

-



Do nhận thức chƣa đầy đủ về tầm quan trọng của hoạt động GDĐĐ. Vì



nhận thức còn hạn chế nên nhiều CBQL, GV chƣa thật nhiệt tình tham gia quản lý

hoạt động GDĐĐ cho HS, có GVCN buông lỏng công tác GDĐĐ cho HS, chƣa xây

dựng đƣợc màng lƣới tổ chức quản lý, công tác thanh tra, kiểm tra chƣa thƣờng

xuyên, chặt chẽ. Sự phối hợp thiếu đồng bộ giữa các lực lƣợng GD.

-



Công tác đánh giá khen thƣởng chƣa động viên kịp thời, chƣa động viên



đƣợc phong trào thi đua của GV và HS. Nguyên nhân chủ quan rất cốt lõi là thiếu

và yếu GVCN, thiếu những GV tâm huyết với nghề, yêu trẻ và có nhiều kinh

nghiệm trong công tác GDĐĐ cho HS, nhiều GV trẻ mới ra trƣờng nên chƣa có

nhiều kinh nghiệm sống và công tác giảng dạy cũng nhƣ công tác chủ nhiệm. Chính

vì vậy cần thiết phải bồi dƣỡng đội ngũ GVCN- lực lƣợng nòng cốt GDĐĐ cho HS.

2.3.5 Thực trạng đa dạng các hình thức phối kết hợp giữa nhà trƣờng gia đình xã

hội

Công tác đa dạng các hình thức phối kết hợp giữa nhà trƣờng với gia đình và

xã hội trong công tác GDĐĐ là hết sức cần thiết. Để tìm hiểu thực trạng vấn đề này

tác giả đã trƣng cầu ý kiến của 5 CBQL và 50 GV.

Bảng 2.15: Mức độ phối hợp giữa BGH với các lực lƣợng ngoài nhà

trƣờng

TT



Các lực lƣợng giáo dục



Mức độ phối hợp

Tốt

Tƣơng

Chƣa



74



Điểm

TB



Xếp

thứ



1 Phối hợp với BPH trƣờng, lớp



5



đối tốt

46



2 Phối hợp với gia đình HS



8



44



3



2.09



2



1



22



32



1.43



6



26



20



9



2.3



1



5 Phối hợp với công an



2



45



8



1.89



4



6 Phối hợp với các tổ chức xã hội



0



21



34



1.38



7



7 Phối hợp với cơ quan y tế



5



37



13



1.85



5



3 Phối hợp với chính quyền địa

phƣơng

4 Phối hợp với Đoàn TNCS, Đội

TNTP các cấp



tốt

4



2.01



3



Qua trƣng cầu ý kiến cho thấy lãnh đạo nhà trƣờng quan tâm đến việc đa

dạng các hình thức phối kết hợp với PHHS và BCH PHHS, nhƣng lại yếu sự kết

hợp với các cơ quan đoàn thể khác…

Cũng nhận thấy rằng, trên thực tế việc kết hợp với gia đình và hội CMHS

chủ yếu cũng chỉ thông qua các đại hội đầu năm học và kết thúc học kỳ I mà thôi.

Việc phối hợp này chủ yếu chỉ để giải quyết các vấn đề tài chính và những học sinh

cá biệt, chƣa cùng bàn bạc, tổ chức các hoạt động giáo dục tại địa phƣơng, chƣa tổ

chức các hội thảo về sự đa dạng các hình thức phối kết hợp , chƣa bồi dƣỡng kiến

thức về GDĐĐ cho PHHS.

2.3.6 Thực trạng về việc quản lý các hoạt động tự quản của các tập thể HS

HS trong nhà trƣờng vừa là đối tƣợng giáo dục vừa là chủ thể tự giáo dục,

làm nhƣ thế nào để học sinh tự giáo dục, tự rèn luyện đạo đức một cách có hiệu quả,

hiệu trƣởng phải chỉ đạo các bộ phận trong nhà trƣờng, trƣớc hết là GVCN giúp HS

nâng cao năng lực tự quản ngay từ đầu cấp học và trong suốt quá trình dạy học.

Để tự quản tốt, trƣớc hết là việc nhận thức của HS, chỉ có nhận thức đúng

mới có thể tiến tới việc tự quản đƣợc. Nhƣng qua khảo sát đánh giá của HS và kết

quả giáo dục vẫn còn tỷ lệ đáng kể HS chƣa tự giác chấp hành nội quy trƣờng lớp ,



75



còn không ít biểu hiện vi phạm và vi phạm ở mức thƣờng xuyên, thực tế đó chứng

tỏ còn tỷ lệ đáng kể HS chƣa tự giác rèn luyện đạo đức cá nhân.

Qua trao đổi với một số GVCN về việc thực hiện công tác này cho biết: mỗi

lớp đều có một cơ cấu tổ chức lớp do các em tự bầu ra từ đầu năm, GVCN hƣớng

dẫn lớp thảo luận về kế hoạch năm học của lớp và các chỉ tiêu thi đua. Mỗi tổ

trƣởng lập sổ theo dõi của mình, cuối tuần tổ chức sơ kết, ngoài ra các tiết hoạt

động ngoài giờ lên lớp GV cũng đã để cho HS tự tổ chức (sau một vài lần GVCN

làm mẫu). Tuy nhiên công tác tự quản của HS chỉ dừng lại ở những việc đơn thuần

nhƣ vậy thì hoạt động tự quản của HS không thể đạt đƣợc kết quả cao.

Nguyên nhân nữa, học sinh chƣa đƣợc trang bị các kỹ năng tự quản, công tác

GDĐĐ cho HS phải là quá trình tự giáo dục cá nhân và thực hiện tốt trong môi

trƣờng các tập thể tự quản.

Hoạt động tự quản của HS vốn rất đa dạng và phong phú bao gồm: tự quản

nề nếp học tập, sinh hoạt tập thể, vui chơi giải trí, tham gia các phong trào của

trƣờng, lớp, hoạt động tự kiểm tra, đánh giá các mặt hoạt động của lớp hành tuần,

hàng tháng, tự tổ chức các hội thi, các hoạt động xã hội… Để làm tốt cần có sự tổ

chức hƣớng dẫn của nhà tƣờng, trƣớc hết là của GVCN, của cô Tổng phụ trách, cố

vấn Đoàn trƣờng và của BGH. Vì vậy ngƣời hiệu trƣởng cần phải chỉ đạo sâu sát

cho GVCN làm tốt khâu tự quản của HS, nhất là phải phát huy vai trò “thủ lĩnh”

điều hành mọi hoạt động của lớp, tin tƣởng vào việc GDĐĐ nhẹ nhàng mà hiệu

quả.

2.3.7 Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học

sinh trƣờng THCS Chu Văn An

2.3.6.1 Những mặt tích cực

Trong nhƣng năm học qua, các thầy cô giáo trƣờng THCS Chu Văn An với

sự nỗ lực của mình đã trau dồi phẩm chất và năng lực, thể hiện tấm gƣơng sáng cho

học sinh noi theo. Ngày càng xuất hiện nhiều hơn những tấm gƣơng tiêu biểu trong



76



công tác giảng dạy, học tập và ràn luyện, nhiều GV đạt giải cao trong các kỳ thi cấp

quận và thành phố.

Việc phối hợp các lực lƣợng GD trong và ngoài nhà trƣờng đã có tác dụng

tích cực trong công tác phòng chống các tệ nạn xã hội xâm nhập vào học đƣờng, giữ

đƣợc môi trƣờng lành mạnh, đồng thời cung cấp cho nhau những thông tin cần thiết

trong công tác GDĐĐ hình thành nhân cách học sinh.

Công tác GVCN đƣợc nhà trƣờng chú trọng về lực lƣợng, coi đây là cầu nối

giữa nhà trƣờng với tập thể lớp, với từng học sinh và cũng là đƣờng dây liên lạc

hiệu quả nhất để truyền và thu nhận thông tin từ hai phía nhằm điều khiển, điều

chỉnh kịp thời công tác chỉ đạo của hiệu trƣởng. Đồng thời đội ngũ GVCN cũng giữ

đƣợc mối liên lạc với phụ huynh, nắm bắt cụ thể hoàn thành từng gia đình học sinh

để vận dụng các biện pháp giáo dục phù hợp, và thực sự có hiệu quả.

Công tác giáo dục ngoài giờ lên lớp, mặc dù mới đƣợc triển khai nhƣng

trƣờng THCS Chu Văn An đã có nhiều các phong trào phong phú, các phong trào

gia lƣu văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, tham quan du lịch… đã thực sự đem lại

những bổ ích trong suy nghĩ và hành động của HS.

Về phía học sinh thì đại đa số các em có nhận thức đúng đắn về những giá trị

chuẩn mực, luôn vâng lời thày cô giáo, ra sức phấn đấu tu dƣỡng rèn luyện phẩm

chất của mình để trở thành con ngoan trò giỏi, nhiều em đã tỏ rõ sự quyết tâm cố

gắng trở thành ngƣời con ngoan ngƣời trò giỏi.

Ƣu điểm cơ bản nhất đó chính là đội ngũ. Đại đa số GV nhà trƣờng đều có ý

thức quan tâm đến công tác GDĐĐ, nhiều cá nhân đã cố gắng cao trong cƣơng vị

công tác của bản thân để thực hiện tốt công tác này.

2.3.6.2 Những mặt hạn chế

BGH còn chƣa quan tâm đúng mức đến công tác quản lý công tác GDĐĐ

cho HS, điều này thể hiện ở việc chƣa có kế hoạch chuyên đề về GDĐĐ hành năm,

hàng tháng, nội dung GDĐĐ cho HS chƣa thiết thực, chƣa thật phù hợp với tình

hình cụ thể của nhà trƣờng, hình thức GDĐĐ cho HS đề ra trong kế hoạch chung



77



còn chƣa phong phú, hấp dẫn, nội dung GDĐĐ chƣa thiết thực, còn mang tính bề

nổi, thiếu bề sâu.

Quy trình quản lý công tác GDĐĐ chƣa rõ ràng, chƣa xây dựng đƣợc cơ chế

phối hợp đồng bộ giữa GVCN, GVBM và các tổ chức khác trong nhà trƣờng để

thực hiện công tác GDĐĐ cho HS. Việc phối hợp với các lực lƣợng giáo dục ở

ngoài nhà trƣờng còn thiếu chủ động, chƣa tập trung vào các mục tiêu GDĐĐ

Chƣa có các biện pháp chủ động phát hiện sớm, phân công quản lý các HS

có biểu hiện cá biệt để có phƣơng pháp giáo dục hiệu quả ngày tử khi những HS cá

biệt này còn ở mức độ vi phạm chƣa có hệ thống hoặc ở mức độ nhẹ… Chính vì

đơn giản và quá thụ động nên dễ làm học sinh quá nhàm chán, nhất là đối tƣợng học

sinh chƣa ngoan về đạo đức thì chƣa tạo đƣợc tình cảm mãnh liệt cần giúp các em

nhận thức và điều chỉnh.

Việc kiểm tra đánh giá chƣa tập trung vào các hoạt động GDĐĐ của các tổ

chức cá nhân trong nhà trƣờng, chƣa thƣờng xuyên coi trọng đúng mức kiểm tra

đánh giá chuyên sâu về các hoạt động GDĐĐ và chƣa gắn chặt các hoạt động này

với công tác khen thƣởng, kỷ luật cán bộ, giáo viên và học sinh.Chủ yếu sơ kết,

tổng kết chỉ thông qua sinh hoạt động dƣới cờ, sinh hoạt động bằng những khen,

chê theo vụ việc. Ngoài ra kế hoạch và triển khai thực hiện kế hoạch của nhà trƣờng

cung chƣa hợp lý và chƣa kịp thời đúng lúc.

Bên cạnh đó cần nhấn mạnh một số mặt cụ thể nhƣ sau: Vẫn còn một số bộ

phận nhỏ cán bộ quản lý, giáo viên chƣa có nhận thức đúng và chƣa thực sự quan

tâm đến công tác GDĐĐ cho HS, khi chƣa có nhận thức đúng đắn thì hiển nhiên

hành động sẽ bị sai lệch, GDĐĐ chủ yếu quan tâm đến mặt nhận thức(lý luận) mà

chƣa chú trọng đến việc rèn luyện ý chí, thái độ hành vi cho học sinh. Các hình thức

tổ chức GD tuy có đa dạng, nhƣng nội dung còn quá nghèo nàn, dập khuôn, không

đổi mới, phƣơng pháp chƣa phù hợp nên chƣa uốn nắn kịp thời những hành vi sai

lệch của học sinh. Tuy dạy lồng ghép trong các môn học thông qua “dạy chữ” để

“dạy ngƣời” chƣa đồng bộ chƣa đƣa vào tiêu chí đánh giá giờ dạy, môn GDCD



78



chƣa đƣợc chú trọng, bị xem là môn phụ. Công tác phối hợp giữa nhà trƣờng, gia

đình và xã hội trong qua trình GDĐĐ cho HS chƣa tạo đƣợc sự đa dạng các hình

thức phối kết hợp chặt chẽ, trên thực tế có những HS bỏ học nhiều buổi mà gia đình

không hay biết. Cơ sở vật chất, tài chính hỗ trợ cho các hoạt động của Đoàn, Đội

còn nghèo nàn, quá eo hẹp do vậy khó khăn thu hút đông đảo HS tham gia công tác

GDĐĐ đạt hiệu quả cao.

Trên cơ sở phân tích thực trạng hoạt động quản lý GDĐĐ cho HS trƣờng

THCS Chu Văn An thấy rằng: Công tác GDĐĐ cho HS đã đƣợc mọi cấp, ban,

ngành quan tâm, nhà trƣờng đã chú trọng và đã đạt đƣợc kết quả nhất định. Nhƣng

công tác GDĐĐ cho HS THCS chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu của xã hội .

Để giải quyết đƣợc vấn đề này, trƣớc tiên phải tạo đƣợc sự chuyển biến về

nhận thức và hành động, của CBQL, GVCN, GVBM, PHHS…Làm đƣợc điều này

cần xác lập các biện pháp quản lý của HT nhằm nâng cao chất lƣợng GDĐĐ cho

HS THCS Chu Văn An, đó chính là nội dung trong chƣơng 3 của luận văn.



79



TIỂU KẾT CHƢƠNG 2

Công tác GDĐĐ cho HS ở trƣờng THCS Chu Văn An quận Tây Hồ- TP Hà

Nội đã đạt đƣợc những thành tích đáng kể, BGH và đội ngũ cán bộ giáo viên đã

luôn nâng cao tinh thần trách nhiệm, thực hiện tốt các hoạt động GD trong nhà

trƣờng.Chỉ đạo, dẫn dắt nhà trƣờng theo đúng quy trình quản lý: Có thành lập ban

chỉ đạo, có các kế hoạch hoạt động, có tổ chức triển khai, giao nhiệm vụ cụ thể tới

từng bộ phận, từng cá nhân trong nhà trƣờng. Chính vì vậy phần lớn là số học sinh

ngoan, có ý thức tu dƣỡng đạo đức, chăm chỉ học tập, trở thành con ngoan trò giỏi.

Tuy nhiên vẫn còn những trƣơng hợp học sinh chƣa ngoan, vi phạm đạo đức ngày

càng nhiều. Nguyên nhân cơ bản là công tác quản lý GDĐĐ cho HS còn hạn chế,

các biện pháp quản lý GDĐĐ chƣc thiết thực và khả thi. Để khắc phục vấn đề này,

đòi hỏi cán bộ làm công tác quản lý phải tìm tòi nghiên cứu tìm ra những biện pháp

nhằm nâng cao chất lƣợng GDĐĐ cho HS làm giảm hẳn tình trạng học sinh yếu

kém về đạo đức. Đó là nội dung tác giả diễn giải cụ thể ở chƣơng 3.



80



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (151 trang)

×