1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TÁC ĐỘNG CỦA INTERNET ĐỐI VỚI THANH NIÊN HỌC SINH, SINH VIÊN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.62 MB, 131 trang )


công nghệ thông tin và truyền thông đối với sự phát triển công nghệ thông tin và

truyền thông ở Việt Nam" của TS. Phạm Mạnh Lâm. Đề tài đã tiến hành tổng kết các

nghiên cứu đánh giá tác động của môi trường thể chế và pháp lý trong lĩnh vực công

nghệ thông tin và truyền thông đối với sự phát triển của lĩnh vực này ở Việt Nam và

đề xuất phương pháp đánh giá tác động của môi trường thể chế và pháp lý đối với sự

phát triển công nghệ thông tin và truyền thông ở Việt Nam. Đây là đề tài nghiên cứu

về đánh giá tác động, nhưng là tác động của môi trường thể chế, pháp lý đối với sự

phát triển công nghệ thông tin và truyền thông. Vì thế công nghệ thông tin và truyền

thông (trong đó có Internet) được xem như là đối tượng tiếp nhận, bị tác động.

Qua tìm hiểu, tác giả cũng được tiếp cận với một số đề tài có nhiều nét tương

đồng với đề tài tác giả lựa chọn để viết luận văn này, đó là các đề tài: "Tác động xã

hội của Internet đến lối sống của sinh viên", của TS. Nguyễn Quý Thanh, "Tác động

của Internet đối với lối sống của thanh niên" của tác giả Dương Quốc Hưng. Đề tài

của TS. Nguyễn Quý Thanh tập trung nghiên cứu sự tác động tích cực và tiêu cực

của Internet đến hoạt động học tập của sinh viên; việc sử dụng thời gian rỗi của sinh

viên; tác động đến quan niệm sống cơ bản của sinh viên, nhưng chưa đưa ra những

giải pháp để phát huy tính tích cực, hạn chế tiêu cực đối với sự tác động của Internet

trong sinh viên; hoặc đề tài của tác giả Dương Quốc Hưng đi sâu nghiên cứu, đánh

giá những tác động của Internet đối với lối sống của thanh niên và đề xuất một số

biện pháp nhằm hạn chế những tác động tiêu cực và phát huy những tác động tích

cực nhằm góp phần định hướng, giáo dục lối sống cho thanh niên.

Nhìn chung, các đề tài trên chủ yếu nghiên cứu khía cạnh về sự tác động của

Internet đối với phát triển kinh tế- xã hội; hoặc là nghiên cứu ở góc độ đánh giá

những tác động của Internet đối với thanh niên, học sinh, sinh viên nhưng ở một

khía cạnh là lối sống của thanh niên hoặc của thanh niên học sinh, sinh viên trên

phạm vi cả nước. Đồng thời, nội dung nghiên cứu của một số đề tài chỉ tập trung vào

đánh giá những tác động của Internet mà không đi sâu và các biện pháp quản lý tác

động của Internet nhằm khai thác lợi thế, khắc phục bất lợi, thu hút sự quan tâm của

các lực lượng trong xã hội (cơ quan quản lý nhà nước, gia đình, nhà trường và xã

hội…) trong mục tiêu và cái đích hướng tới là những sự thay đổi tích cực của mỗi

thanh niên học sinh, sinh viên trong môi trường tương tác ngày càng thường xuyên

với phương tiện Internet. Vì vậy, ngoài việc tiến hành nghiên cứu về những tác động

7



của Internet, nhiệm vụ của luận văn này là đề ra những biện pháp phù hợp, hiệu quả

để quản lý những tác động của Internet đối với thanh niên học sinh, sinh viên trên

địa bàn Hà Nội trong giai đoạn hiện nay.

1.1.2. Một số nghiên cứu ngoài nước

Qua tìm hiểu, có một số các đề tài nghiên cứu, các bài viết về Internet và tác

động của Internet như: nghiên cứu về Chứng nghiện Internet; tác động tiêu cực của

Internet và những giải pháp; tác động của Internet tới kết quả học tập của sinh viên;

tác động của Internet đối với việc giảng dạy và học tập; tác động của Internet đến

sinh viên…

Trong nghiên cứu về Chứng nghiện Internet (Research on Internet Addiction)

của các tác giả Chien Chou, Linda Condron, and John C. Belland đã tập trung

nghiên cứu và đề cập đến thời gian sử dụng Internet; các vấn đề liên quan đến

nghiện Internet; sự khác biệt giới tính trong nghiện Internet; nghiện Internet và các

vấn đề về tâm lý xã hội; nghiện Internet và thái độ đối với máy tính…

Nghiên cứu về Tác động tiêu cực của Internet và những giải pháp của Trung

tâm thông tin khoa học công nghệ quân đội Ru Guangrong, Trung Quốc (The

Negative Impact of the Internet and Its Solutions) đã đề cập đến hàng loạt các tác

động tiêu cực của Internet như: ảnh hưởng chính trị của những tư tưởng phản động;

xâm chiếm về văn hóa; đe dọa về an ninh; “bội thực” thông tin dẫn tới lãng phí về

nguồn lực và thời gian… Các giải pháp để giảm thiểu những tác động tiêu cực của

Internet được đề ra là: Tăng cường giáo dục lòng yêu nước; xây dựng tư tưởng và

đạo đức trong sáng; tăng cường giáo dục cá nhân và sự tự chủ của mỗi cá nhân; tổ

chức các chương trình chống lại sự xâm chiếm và phản truyên truyền trên mạng; chủ

động học cách đối mặt với xâm nhập trực tuyến trên mạng Internet; hoàn thiện hệ

thống luật pháp chống tội phạm trên mạng Internet; tăng cường phát triển hệ thống

truyền thông và tạo ảnh hưởng trên Internet; phát triển các phần mềm tìm kiếm

thông tin hữu ích để tránh lãng phí nguồn lực và thời gian…

Với một nghiên cứu khác của nhóm tác giả Awais, Bilal, M.Usman,

M.Waqas, Sehrish với chủ đề Tác động của việc sử dụng Internet đối với kết quả

học tập của sinh viên (Impacts of Internet Usage on Students’ Academic

Performance), đã kết luận: Internet là một công cụ hữu ích trong thời đại công nghệ

thông tin. Nó không chỉ phục vụ tốt cho các hoạt động kinh doanh mà còn hữu ích

8



cho việc học tập, giúp sinh viên nâng cao kỹ năng và khả năng của của mình trong

học tập kiến thức và chuyên môn, nghiệp vụ. Những sinh viên có được kết quả học

tập tốt đã sử dụng nhiều hơn Internet cho mục đích học tập, nghiên cứu và đã thu

nhận được nhiều kiến thức và thông tin trên khắp thế giới…

Nghiên cứu của tác giả Hossein Arsham với đề tài Tác động của Internet đối

với việc giảng dạy và học tập (Impact of the Internet on Learning and Teaching) đề

cập đến việc giảng dạy - học tập thông qua mạng Internet và sử dụng Internet phục

vụ cho mục đích nâng cao hiệu quả dạy - học. Những vấn đề tác giả quan tâm đi sâu

phân tích như: Internet - vấn đề chi phí và lợi ích; chia nhóm để đạt hiệu quả học tập

tối ưu; phương thức giảng dạy và học tập; việc hiểu rõ và đáp ứng các nhu cầu học

tập của người học; sự bảo đảm về kết quả đạt được; khắc phục khoảng cách về

không gian; đánh giá chất lượng thường xuyên; bảo đảm chất lượng bằng các công

cụ đánh giá; bảo đảm bằng quyền lợi của người học; đáp ứng yêu cầu phản hồi

nhanh chóng và đầu tư về thời gian dạy - học qua mạng; tạo cho người học những cơ

hội và thử thách; sự tin cậy; thách thức với việc dạy học sinh ảo; quan hệ đối tác với

người học; sự lựa chọn khó khăn đối với người dạy và dễ dàng với người học; người

học không chỉ là khách hàng; thầy trò là một; sự cam kết của người học bảo đảm sự

thành công; làm sao tăng cường sự giao tiếp người dạy - người học…

Có thể nhận thấy, một số nghiên cứu của tác giả nước ngoài đã không chỉ

quan tâm đến vấn đề quản lý sử dụng Internet, mà đi sâu nghiên cứu những tác động

của Internet tới xã hội, tới giới trẻ, tới việc dạy và học… ở góc nhìn của một tổ chức

đại diện cho quốc gia cũng như của một nhóm tác giả hay một cá nhân (Chứng

nghiện Internet, Tác động tiêu cực của Internet và những giải pháp, Tác động của

việc sử dụng Internet đối với kết quả học tập của sinh viên…). Tuy nhiên, các

nghiên cứu cũng không đề cập nhiều và sâu trong việc đánh giá tác động cũng như

quản lý những tác động của Internet trong đối tượng thanh niên học sinh, sinh viên.

1.2. Một số vấn đề về quản lý

1.2.1. Khái niệm quản lý

Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể (người

quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn

hóa, xã hội, kinh tế… bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc,

các phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự

9



phát triển của đối tượng. Đối tượng quản lý có thể trên quy mô toàn cầu, khu vực,

quốc gia, ngành, đơn vị, có thể là một con người cụ thể, sự vật cụ thể.

Quản lý thể hiện việc tổ chức, điều hành tập hợp người, công cụ, phương tiện

tài chính… để kết hợp các yếu tố đó với nhau nhằm đạt mục tiêu định trước. Chủ thể

muốn kết hợp được các hoạt động của đối tượng theo một định hướng quản lý đặt ra

phải tạo ra được “quyền uy” buộc đối tượng phải tuân thủ.

Quản lý nền sản xuất - xã hội là loại hình quản lý đặc biệt phát sinh từ tính

chất xã hội hóa lao động. Mác viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao

động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến

một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng

chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể khác với sự vận động của những

khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn

một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”.

Các nhà lý luận quản lý quốc tế như: Fredrich Wiliam Taylor người Mỹ;

Henri Fayol người Pháp; Max Weber người Đức đều đã khẳng định: Quản lý là khoa

học và đồng thời là nghệ thuật thúc đẩy sự phát triển xã hội.

Về nội dung, thuật ngữ “quản lý” có nhiều cách hiểu không hẳn như nhau.

Trong giáo trình Khoa học quản lý (Tập 1. Nxb Khoa học kỹ thuật, Hà Nội,

1999) đã ghi rõ: “Quản lý là các hoạt động được thực hiện nhằm bảo đảm sự hoàn

thành công việc qua những nỗ lực của người khác. Quản lý là công tác phối hợp có

hiệu quả các hoạt động của những người cộng sự khác cùng chung một tổ chức.

Quản lý là một hoạt động thiết yếu để đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm

đạt được các mục đích của nhóm. Quản lý là sự có trách nhiệm về một cái gì đó…”.

Đồng thời cũng có những quan điểm và định nghĩa khác nhau như:

 Quản lý là tác động vừa có tính khoa học, vừa có tính nghệ thuật vào hệ

thống con người, nhằm đạt các mục tiêu kinh tế - xã hội.

 Quản lý là một quá trình tác động có định hướng, có tổ chức dựa trên các

thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường nhằm giữ cho sự vận

hành của đối tượng được ổn định và phát triển tới mục tiêu đã định.



10



 Quản lý là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến

khách thể quản lý (mà trực tiếp là tập thể những người lao động) nhằm thực

hiện mục tiêu đề ra.

 Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối

tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm

năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến

động của môi trường.

Những định nghĩa trên đây khác nhau về cách diễn đạt, nhưng đều gặp nhau ở

những nội dung cơ bản, quản lý phải bao gồm các yếu tố (các điều kiện) sau:

 Phải có ít nhất một chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động và ít nhất là

một đối tượng bị quản lý tiếp nhận trực tiếp các tác động của chủ thể quản lý

tạo ra và các khách thể khác chịu các tác động gián tiếp của chủ thể quản lý.

Tác động có thể chỉ là một lần, mà cũng có thể là liên tục nhiều lần.

 Phải có một mục tiêu và một quỹ đạo đặt ra cho cả đối tượng và chủ thể, mục

tiêu này là căn cứ để chủ thể tạo ra các tác động.

 Tác động của chủ thể phải có kế hoạch và có tính mục đích.

 Chủ thể có thể là một người, nhiều người, còn đối tượng có thể là một hoặc

nhiều người (trong tổ chức xã hội).

Bất luận một tổ chức có mục đích gì, cơ cấu và quy mô ra sao đều cần phải có

sự quản lý và có người quản lý để tổ chức hoạt động và đạt được mục đích của

mình.

Hiện nay, quản lý thường được định nghĩa rõ hơn: quản lý là quá trình đạt

đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch

hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra.

Như vậy có thể khái quát: quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng

dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích

đã đề ra. Sự tác động quản lý phải bằng cách nào đó để người bị quản lý luôn luôn

hồ hởi, phấn khởi đem hết năng lực và trí tuệ để sáng tạo ra lợi ích cho bản thân, cho

tổ chức và cho cả xã hội.

Quản lý là một môn khoa học sử dụng tri thức của nhiều môn khoa học tự

nhiên và xã hội nhân văn khác nhau như: toán học, thống kê, kinh tế, tâm lý và xã



11



hội học… Nó còn là một “nghệ thuật” đòi hỏi sự khôn khéo và tinh tế cao để đạt tới

mục đích.

1.2.2. Đặc điểm và chức năng của quản lý

* Đặc điểm của quản lý:

- Quản lý bao giờ cũng chia thành chủ thể quản lý và đối tượng bị quản lý.

Đây là đặc điểm cơ bản, đầu tiên của quản lý đã được đề cập sơ bộ ở trên.

Nếu chủ thể quản lý không có thì việc quản lý đặt ra là vô nghĩa. Thực tế chỉ rõ,

nhiều tổ chức mặc dù có tồn tại chủ thể quản lý trên danh nghĩa, như do bất lực về

tiềm năng, về lực lượng vật chất, về pháp lý, về nhân cách…, khái niệm quản lý trở

thành hình thức và phù phiếm. Hoặc cũng có trường hợp ngược lại, có những tổ

chức do xuất hiện quá nhiều chủ thể quản lý mà các chủ thể này thế lực lại tương

đồng nhau, trong khi những mục tiêu của họ khác nhau, thì việc quản lý sẽ rất phức

tạp, đối tượng bị quản lý sẽ gặp muôn vàn trở ngại, khó có thể tồn tại và phát triển

bình thường.

Tất cả các tình huống trên đều có thể diễn ra trên thực tế do sự tác động biến

đổi của môi trường xung quanh với tư cách là các khách thể. Rõ ràng là việc quản lý

của một tổ chức trong thời đại ngày nay không thể nào không tính đến sự chi phối từ

nhiều phía của nhiều tổ chức khác nhau và từ các lực lượng chi phối của tự nhiên.

Điều này khẳng định quản lý là một diễn trình năng động.

- Quản lý bao giờ cũng liên quan đến việc trao đổi thông tin và đều có mối

liên hệ ngược.

Đây là đặc điểm thứ hai của quản lý. Quản lý được diễn ra nhờ các tín hiệu

của mình, đó là thông tin. Thông tin chính là các tín hiệu mới, được thu nhận, được

hiểu và được đánh giá là có ích cho các hoạt động quản lý (tức cho cả chủ thể quản

lý và đối tượng bị quản lý). Chủ thể quản lý muốn tác động lên đối tượng thì phải

đưa ra các thông tin (chỉ thị, mệnh lệnh, nghị quyết, quyết định…), đó chính là

thông tin điều khiển. Còn đối tượng muốn định hướng hoạt động của mình thì phải

tiếp nhận các thông tin điều khiển của chủ thể cùng các bảo đảm vật chất khác để

tính toán và tự điều khiển lấy mình (nhằm thực thi mệnh lệnh của chủ thể).

Chính vì lý do kể trên, người ta kết luận quá trình quản lý là quá trình thông

tin.



12



Đối với chủ thể quản lý, sau khi đưa ra các quyết định cùng các bảo đảm vật

chất cho đối tượng thực hiện, thì họ phải thường xuyên theo dõi kết quả thực hiện

các quyết định của đối tượng thông qua các thông tin phản hồi (được gọi là các mối

liên hệ ngược) của quản lý.

- Quản lý bao giờ cũng có khả năng thích nghi (luôn biến đổi). Đây là đặc

điểm thứ ba của quản lý.

Khi đối tượng quản lý mở rộng về quy mô, phức tạp về các mối quan hệ thì

không phải chủ thể quản lý chịu bó tay, mà nó vẫn tiếp tục quản lý có hiệu quả nếu

nó đổi mới quá trình quản lý thông qua việc cấu trúc lại hệ thống và việc ủy quyền

quản lý cho các cấp trung gian.

Trường hợp ngược lại, khi chủ thể quản lý trở nên xơ cứng, quan liêu, đưa ra

những tác động quản lý độc đoán, lỗi thời, phi lý thì không phải tất cả các đối tượng

quản lý đều chịu bó tay, mà họ vẫn có thể thích nghi tồn tại theo hai cách: i) họ phải

tồn tại tương ứng với các tác động quản lý của chủ thể; ii) họ biến đổi cấu trúc của

bản thân để thích nghi với các mệnh lệnh quản lý phi lý của chủ thể.

- Quản lý vừa là khoa học, vừa là một nghề, vừa là một nghệ thuật.

Đây cũng là đặc điểm quan trọng của quản lý. Nói quản lý là một khoa học vì

quản lý như đã xét ở trên, có đối tượng nghiên cứu riêng là các mối quan hệ quản lý.

Quản lý còn có phương pháp luận nghiên cứu riêng và chung, đó là quan điểm triết

học Mác - Lênin, là quan điểm hệ thống. Quản lý có những phương pháp cụ thể

được được sử dụng để nghiên cứu như các phương pháp phân tích, các phương pháp

toán kinh tế, các phương pháp tổ chức-hành chính, các phương pháp xã hội học, các

phương pháp tâm lý, các phương pháp lịch sử… Quản lý đồng thời còn là một nghệ

thuật vì nó còn tùy thuộc một phần vào tài nghệ, bản lĩnh, trí tuệ, nhân cách, bề dày

kinh nghiệm của người lãnh đạo của tổ chức. Quản lý còn là một nghề với nghĩa các

nhà lãnh đạo tổ chức phải có tri thức quản lý (qua tự học, tự tích lũy và qua các quá

trình được đào tạo ở các cấp độ khác nhau, hoặc ít nhất họ phải có các chuyên gia về

quản lý trợ giúp cho họ).

- Quản lý gắn với quyền lực, lợi ích và danh tiếng.

Người lãnh đạo có ưu thế quan trọng trong tổ chức, họ có khả năng điều

khiển người khác và chi phối các nguồn lực và tài sản của tổ chức. Người lãnh đạo

còn là người có điều kiện thuận lợi nhất để thực hiện các mong muốn của mình

13



thông qua việc sử dụng các con người khác trong quá trình dẫn dắt, thu hút, lôi kéo

họ nhằm thực hiện mục tiêu chung của tổ chức. Người lãnh đạo đồng thời dễ để lại

danh tiếng cho người khác và cộng đồng nếu họ lãnh đạo tổ chức của mình phát

triển và đạt được mục tiêu của tổ chức.

* Chức năng của quản lý:

Bàn về hoạt động quản lý và người quản lý, chúng ta cần tìm hiểu người quản

lý - cũng chính là tìm hiểu các chức năng của quản lý; và họ làm công việc ấy như

thế nào; nói cách khác, cần xem xét họ phải sắm những vai trò quản lý nào.

Trong phần này, chúng ta đề cập đến bốn chức năng quản lý chủ yếu, cơ bản,

đó là: kế hoạch hóa (planning), tổ chức (organizing), chỉ đạo-lãnh đạo (leading) và

kiểm tra (controlling).

- Chức năng kế hoạch hóa: Kế hoạch hóa là một chức năng quản lý. Kế

hoạch hóa có nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ

chức và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó. Có

ba nội dung chủ yếu của chức năng kế hoạch hóa: i) xác định, hình thành mục tiêu,

phương hướng đối với tổ chức; ii) xác định và bảo đảm (có tính chắc chắn, có tính

cam kết) về các nguồn lực của tổ chức để đạt được các mục tiêu này; iii) và quyết

định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được các mục tiêu đó.

- Chức năng tổ chức: Khi người quản lý đã lập xong kế hoạch, họ cần phải

chuyển hóa những ý tưởng khá trừu tượng ấy thành hiện thực. Một tổ chức lành

mạnh sẽ có ý nghĩa quyết định đối với sự chuyển hóa như thế. Xét về mặt chức năng

quản lý, tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành

viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các

kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức. Nhờ việc tổ chức có hiệu quả,

người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn vật lực và nhân lực.

Thành tựu của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của người quản lý sử

dụng các nguồn lực này sao cho có hiệu quả và có kết quả.

- Chức năng lãnh đạo (chỉ đạo): Sau khi kế hoạch đã được lập, cơ cấu bộ

máy đã hình thành, nhân sự đã được tuyển dụng thì phải có ai đó đứng ra lãnh đạo,

dẫn dắt tổ chức. Một số học giả gọi đó là quá trình chỉ đạo hay tác động. Dù gọi tên

thế nào, lãnh đạo bao hàm việc liên kết, liên hệ với người khác và động viện họ hoàn

thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức. Hiển nhiên việc

14



lãnh đạo không chỉ bắt đầu sau khi việc lập kế hoạch và thiết kế bộ máy đã hoàn tất,

mà nó thấm vào, ảnh hưởng quyết định tới hai chức năng kia.

- Chức năng kiểm tra: Kiểm tra là một chức năng quản lý, thông qua đó một

cá nhân, một nhóm hoặc một tổ chức theo dõi giám sát các thành quả hoạt động và

tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết. Một kết quả hoạt động

phải phù hợp với những chi phí bỏ ra, nếu không tương ứng thì phải tiến hành những

hành động điều chỉnh, uốn nắn. Đó cũng là quá trình tự điều chỉnh, diễn ra có tính

chu kỳ như sau: i) người quản lý đặt ra những chuẩn mực thành đạt của hoạt động;

ii) người quản lý đối chiếu, đo lường kết quả, sự thành đạt so với chuẩn mực đã đặt

ra; iii) người quản lý tiến hành điều chỉnh những sai lệch; iv) người quản lý hiệu

chỉnh, sửa lại chuẩn mực nếu cần.

1.3. Một số vấn đề về thông tin, truyền thông và Internet

1.3.1. Thông tin và quản lý thông tin

- Thông tin là sự phản ánh sự vật, sự việc, hiện tượng của thế giới khách

quan và các hoạt động của con người trong đời sống xã hội. Điều cơ bản là con

người thông qua việc cảm nhận thông tin làm tăng hiểu biết cho mình và tiến hành

những hoạt động có ích cho cộng đồng.

Thông tin được lưu trữ trên nhiều dạng vật liệu khác nhau như được khắc trên

đá, được ghi lại trên giấy, trên bìa, trên băng từ, đĩa từ... Ngày nay, thuật ngữ "thông

tin" (information) được sử dụng khá phổ biến. Thông tin chính là tất cả những gì

mang lại hiểu biết cho con người. Con người luôn có nhu cầu thu thập thông tin

bằng nhiều cách khác nhau: đọc báo, nghe đài, xem truyền hình, giao tiếp với người

khác... Thông tin làm tăng hiểu biết của con người, là nguồn gốc của nhận thức và là

cơ sở của quyết định.

Môi trường vận động thông tin là môi trường truyền tin, nó bao gồm các kênh

liên lạc tự nhiên hoặc nhân tạo như sóng âm, tia sáng, dây dẫn, sóng điện từ (sóng

âm thanh, sóng hình...). Kênh liên lạc thường nối các thiết bị của máy móc với nhau

hay nối với con người. Con người có hình thức liên lạc tự nhiên và cao cấp là tiếng

nói, từ đó nghĩ ra chữ viết. Ngày nay nhiều công cụ phổ biến thông tin đã xuất hiện:

bút viết, máy in, điện tín, điện thoại, phát thanh, truyền hình, phim ảnh và Internet…

Về nguyên tắc, bất kỳ cấu trúc vật chất nào hoặc bất kỳ dòng năng lượng nào

cũng có thể mang thông tin. Các vật có thể mang thông tin được gọi là giá mang tin

15



(support). Thông tin luôn mang một ý nghĩa xác định nhưng hình thức thể hiện của

thông tin thì rõ ràng mang tính quy ước. Chẳng hạn ký hiệu “V” trong hệ đếm La

Mã mang ý nghĩa là 5 đơn vị, nhưng trong hệ thống chữ La tinh nó mang nghĩa là

chữ cái V. Trong máy tính điện tử, nhóm 8 chữ số 01000001 nếu là số sẽ thể hiện số

65, còn nếu là chữ sẽ là chữ “A”.

Có nhiều cách phân loại thông tin. Chúng ta quan tâm đến cách phân loại dựa

vào đặc tính liên tục hay rời rạc của tín hiệu vật lý. Tương ứng, thông tin sẽ được

chia thành thông tin liên tục và thông tin rời rạc.

- Quản lý thông tin: Xuất phát từ sự đa dạng, phức tạp và tính phổ biến của

thông tin nên quản lý thông tin là một việc làm vô cùng khó khăn. Nguồn cung cấp

thông tin có thể từ trong tự nhiên hay trong xã hội; nhiều thông tin có thể đến cùng

một thời điểm hay vào những thời điểm khác nhau; thông tin có thể là thông tin chủ

quan hay khách quan, có thể có chủ định hay không có chủ định; thông tin có thể

đúng, song cũng có thể không đúng với sự thật và bản chất của nó. Với sự phát triển

nhanh, mạnh của các phương tiện thông tin, truyền thông hiện đại như đài, TV, đặc

biệt là mạng Internet thì nhu cầu về thông tin của con người được đáp ứng một cách

tối đa, ở mọi lúc, mọi nơi, trong mọi hoàn cảnh, phục vụ tốt nhất cho nhu cầu tìm

hiểu thông tin, học tập, sinh sống và làm việc. Hiện nay, nhiều người cho rằng chúng

ta đang sống trong một xã hội thông tin, ai có thông tin nhiều, nhanh và chính xác

người đó sẽ có được lợi thế vượt trội trong cạnh tranh và phát triển. Hay nói cách

khác, nhiều người cho rằng thế giới đang phát triển kinh tế tri thức, nước nào, tổ

chức nào, cá nhân nào có nhiều thông tin (trở thành tri thức) thì nước đó, tổ chức đó

và cá nhân đó sẽ có tiềm năng phát triển nhanh, phát triển vượt bậc.

Tuy nhiên, trong một xã hội tràn ngập thông tin, con người mà rộng hơn là tổ

chức, quốc gia nếu không biết quản lý, chọn lọc thông tin thì sẽ bị “chết chìm” trong

“biển thông tin” hỗn độn ấy. Vì thế, hơn lúc nào hết, mỗi quốc gia trên thế giới hiện

nay đều rất coi trọng việc quản lý, khai thác và định hướng thông tin trong phạm vi

lãnh thổ quốc gia mình để phục vụ cho đường lối chiến lược lâu dài cũng như mục

tiêu phát triển trong từng thời kỳ cụ thể. Ngày nay, muốn phát triển được, các quốc

gia không còn cách nào khác là mở cửa mạnh mẽ để giao lưu với thế giới, trong đó

việc mở cửa về lĩnh vực thông tin, truyền thông, đặc biệt thông qua việc phát triển

mạng Internet.

16



Trong phạm vi đề tài này, đối với nước ta, việc hoạch định chiến lược phát

triển cũng như quản lý thông tin và những tác động từ mạng Internet có ý nghĩa hết

sức quan trọng góp phần cho phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường giao thương và

giao lưu quốc tế, bảo đảm quốc phòng, an ninh... Trong đó, việc quản lý những tác

động của Internet đối với người trong lứa tuổi thanh thiếu niên - nguồn nhân lực, thế

hệ tương lai của nước nhà - có ý nghĩa và tầm quan trọng đặc biệt. Vì thế hệ trẻ

ngày nay, nhất là lứa tuổi học sinh, sinh viên rất năng động, sáng tạo, có khả năng sử

dụng, khai thác thông tin trên phương tiện truyền thông hiện đại như Internet; đồng

thời họ cũng luôn có mong muốn tìm hiểu, khám phá cái mới và dễ thích nghi với

cái mới, với sự thay đổi. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích to lớn mà Internet mang

lại cho xã hội nói chung, giới trẻ nói riêng thì bản thân nó cũng chứa đựng nhiều

nguy cơ với những thông tin nhiều chiều, không thống nhất, có tính ảo và khó có thể

kiểm định và kiểm soát. Thông tin trên Internet có thể mang cho người ta sự thành

công rực rỡ, song cũng có thể hướng con người ta, nhất là người trẻ, thanh niên học

sinh, sinh viên tới chỗ sống lai căng, phi đạo đức, thực dụng, dối trá, lừa đảo và

thậm chí là vi phạm pháp luật, nhận thức lệch lạc, phiến diện, xâm phạm đến an ninh

quốc gia... Vì thế việc quản lý thông tin nói chung, thông tin trên mạng Internet nói

riêng là việc làm cần thiết, cấp bách và rất khó khăn mà các cơ quan chức năng và

toàn xã hội cần quan tâm và chung tay giải quyết.

1.3.2. Internet

Internet là một mạng máy tính khổng lồ, kết nối hàng tỷ máy tính điện tử (chủ

yếu là máy tính cá nhân) trên khắp thế giới theo một số quy tắc nhất định, nhằm trao

đổi thông tin được với nhau một cách trực tiếp, nhanh chóng và thuận tiện.

Internet được phát triển từ mạng máy tính của các nhà khoa học quân sự Mỹ,

thiết lập từ năm 1969, nhằm duy trì mối liên hệ với nhau ngay cả khi có chiến tranh.

Vào những năm 80 của thế kỷ 20, mạng này được mở rộng cho các trường đại học,

viện nghiên cứu khắp nước Mỹ. Sau đó, mạng này vươn ra nhiều nước khác, chủ

yếu phục vụ cộng đồng những người làm công tác khoa học và giáo dục. Ngày nay,

Internet trở thành siêu lộ thông tin quốc tế quan trọng nhất, cung cấp nhiều dịch vụ

thông tin cho hàng tỷ người. Từ một mạng máy tính không có mục đích vụ lợi, ngày

nay Internet đã được thương mại hoá. Tuy nhiên, nhiều dịch vụ thông tin vẫn được

cung cấp miễn phí, nhất là phục vụ cho khoa học và giáo dục.

17



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (131 trang)

×