1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Chương 2 THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG VÀ QUẢN LÝ TÁC ĐỘNG CỦA INTERNET ĐỐI VỚI THANH NIÊN HỌC SINH, SINH VIÊN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.62 MB, 131 trang )


học sinh, sinh viên và có cơ sở để đề xuất những giải pháp phù hợp với đặc thù địa

bàn khá đa dạng của Thủ đô hiện nay.

2.2. Quá trình phát triển Internet

2.2.1. Quá trình phát triển Internet trên thế giới và tại Việt Nam

Trên thế giới, Internet ra đời từ những năm đầu của thập kỷ 60 và ngay sau

đó đã có sự ứng dụng và phát triển mạnh mẽ trong mấy thập kỷ vừa qua. Tỷ lệ số

người sử dụng Internet trên tổng dân số toàn cầu ngày càng tăng với tốc độ nhanh

hơn, cụ thể : năm 1999 là 3%, tỷ lệ này năm 2001 là 8%, năm 2003 là 11,32%, năm

2006 là 16,02%, đến cuối năm 2010, theo Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU) cho

biết thế giới sẽ có trên 2 tỷ người sử dụng Internet, trong đó khoảng 1,2 tỷ người ở

các nước đang phát triển.

Bảng 2.1: 20 Quốc gia có nhiều người sử dụng Internet nhất trên thế giới



Stt Quốc gia



Số người sử

dụng



% dân số

sử dụng



% người

dùng thế

giới



Dân số 2008

(ước tính)



Tăng

trưởng

(2000 2008)



1



United States



218.302.574



71,9 %



15,5 %



303.824.646



128,9 %



2



China



210.000.000



15,8 %



14,9 % 1.330.044.605



833,3 %



3



Japan



94.000.000



73,8 %



4



India



60.000.000



5,2 %



5



Germany



54.932.543



66,7 %



3,9 %



82.369.548



128,9 %



6



Brazil



50.000.000



26,1 %



3,6 %



191.908.598



900,0 %



7



United

Kingdom



41.042.819



67,3 %



2,9 %



60.943.912



166,5 %



8



France



36.153.327



58,1 %



2,6 %



62.177.676



325,3 %



9



Korea, South



34.820.000



70,7 %



2,5 %



49.232.844



82,9 %



10 Italy



33.712.383



58,0 %



2,4 %



58.145.321



155,4 %



11 Russia



30.000.000



21,3 %



2,1 %



140.702.094



867,7 %



12 Canada



28.000.000



84,3 %



2,0 %



33.212.696



120,5 %



13 Turkey



26.500.000



36,9 %



1,9 %



71.892.807



1.225,0 %



14 Spain



25.066.995



61,9 %



1,8 %



40.491.051



365,3 %



15 Mexico



23.700.000



21,6 %



1,7 %



109.955.400



773,8 %



16 Indonesia



20.000.000



8,4 %



1,4 %



237.512.355



900,0 %



38



6,7 %



127.288.419



99,7 %



4,3 % 1.147.995.898



1.100,0 %



17 Vietnam



19.774.809



23,50 %



1,4 %



86.116.559



9.561,5 %



18 Argentina



16.000.000



39,3 %



1,1 %



40.677.348



540,0 %



19 Australia



15.504.558



75,3 %



1,1 %



20.600.856



134,9 %



20 Taiwan



15.400.000



67,2 %



1,1 %



22.920.946



146,0 %



1.052.458.261



25,0 %



74,8 % 4.218.013.579



252,5 %



355.266.659



14,5 %



25,2 % 2.458.106.709



468,9 %



1.407.724.920



21,1 %



100,0 % 6.676.120.288



290,0 %



TOP 20

Countries

Rest of the World

Total World Users



Nguồn: Thống kê số liệu phát triển Internet Thế giới tính đến hết tháng 03/ 2008

(Nguồn: trang web http://www.vietwebpro.com và http://www.vnnic.vn)



Ở Việt Nam, vào cuối năm 1992, Viện Công nghệ thông tin tiến hành thử

nghiệm bước đầu cho việc truy nhập Internet phục vụ cho công tác nghiên cứu và

giáo dục. Thí nghiệm này được nối với Internet thông qua Trường Đại học Tổng hợp

Australia. Cũng trong thời gian này, mạng thông tin kinh tế, khoa học và công nghệ

- môi trường (mạng VESTENET) do Trung tâm Thông tin tư liệu khoa học và công

nghệ quốc gia phối hợp với tổ chức TOOLNET (Hà Lan) xây dựng thử nghiệm. Vào

cuối năm 1993, Trung tâm Kỹ thuật phần mềm thuộc Trung tâm Khoa học tự nhiên

và Công nghệ quốc gia cũng đã hình thành một mạng máy tính diện rộng ở trong

nước có khả năng nối với quốc tế thông qua Viện Công nghệ Châu Á đặt tại Thái

Lan. Đây là nền móng ban đầu cho việc phát triển Internet ở Việt Nam.

Được chuẩn bị kỹ lưỡng từ đầu năm 1996 cho đến tháng 12/1997 dịch vụ

Internet được chính thức cung cấp tại Việt Nam. Tổng Công ty Bưu chính viễn

thông Việt Nam đã xây dựng một mạng trục trong toàn quốc là Vietnamnet (VNN)

kết nối với mạng Internet toàn cầu. Mạng VNN được coi là cơ sở hạ tầng cho

Internet tại Việt Nam do Công ty Điện toán và truyền số liệu (VDC) quản lý và khai

khác. Tháng 11/1997, khi Việt Nam chính thức kết nối vào mạng Internet toàn cầu,

mạng VNN chỉ có cổng truy cập qua mạng điện thoại từ 3 thành phố lớn là Hà Nội,

TP. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng. Từ đó, mạng Internet đã tiếp tục được mở rộng và

nâng cao năng lực. Đến nay, 100% tỉnh, thành đã có điểm truy nhập (POP) Internet

trực tiếp (hoàn thành việc mở rộng POP tới 61 tỉnh vào cuối tháng 8 năm 2003). Các

luồng kết nối Internet quốc tế đã được mở rộng với tổng dung lượng là trên 300 Mb.



39



Cùng với tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh của Internet, các mạng nội địa, các

mạng diện rộng theo giải pháp Intranet, trong đó có một số mạng có thể nối thông ra

Internet quốc tế của một số tổ chức cũng đã được hình thành.

Cho đến nay, thị trường Internet Việt Nam đã thực sự có sự cạnh tranh với 90

doanh nghiệp được cấp phép cung cấp dịch vụ Internet, trong đó có các doanh

nghiệp là nhà cung cấp dịch vụ kết nối đường truyền (IXP - Internet Exchange

Provider); doanh nghiệp cung cấp dịch vụ truy nhập Internet (ISP- Internet Service

Provider ) và doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trực tuyến OSP (Online Service

Provider). Dù số đơn vị cung ứng dịch vụ có nhiều, nhưng thị phần (tính đến tháng

12/2009) vẫn chủ yếu nằm trong vài nhà cung ứng dịch vụ Internet (ISP) như: Tổng

công ty Bưu chính Viến thông Việt Nam (VNPT): 68,59%; Công ty đầu tư và phát

triển công nghệ (FPT): 13,71%; Tổng Công ty viễn thông quân đội (Viettel):

11,64%; ENV Telecom: 3,2%; SPT: 1,81% và các doanh nghiệp khác chiếm

1,05%.4

Hiện nay cả nước có 403/403 trường đại học, cao đẳng và học viện; 622/622

trường trung học chuyên nghiệp và dạy nghề; 2221/2267 (đạt 98%) trường trung học

phổ thông và trên nhiều trường trung học cơ sở, tiểu học, mầm non đã kết nối

Internet.

Chúng ta có thể thấy số người sử dụng Internet ở Việt Nam tăng với tốc độ

rất nhanh từ năm 2003 đến năm 2010 theo bảng dưới đây:

Bảng 2.2: Số người sử dụng Internet tại Việt Nam từ 2003-2010



Năm



Số người dùng



TL % dân số sử dụng



Số tên miền .vn đã đăng ký



2003



1.709.478



2,14



2.746



2004



4.311.336



5,29



7.088



2005



7.184.875



8,71



10.829



2006



12.911.637



15,53



18.530



2007



16.176.973



19,46



42.470



2008



19.774.809



23,50



74.625



2009



20.894.705



24,47



94.708



2010



25.781.898



29,98



170.245



4



Công nghệ thông tin và truyền thông Việt Nam (Sách trắng CNTT Việt Nam 2010). Nxb. Thông tin và

Truyền thông, 2010, tr.40.



40



Nguồn: Thống kê số liệu phát triển Internet Việt Nam tính đến tháng 09 năm 2010

(theo trang web http://www.vietwebpro.com và http://www.vnnic.vn )



Mặc dù sự phát triển Internet tại Việt Nam chậm hơn so với nhiều nước trên

thế giới, nhưng tốc độ phát triển, cũng như số người sử dụng Internet của Việt Nam

phát triển tương đối nhanh. Nếu như năm 2003, số người sử dụng Internet của Việt

Nam là 1.709.478, đạt tỷ lệ 2,14 %, thì đến tháng 9/2010, số người sử dụng đã là

25.782.898 người, đạt tỷ lệ 29,98% dân số.

2.2.2. Các chính sách của Nhà nước về phát triển Internet tại Việt Nam

Để chuẩn bị cho sự ra đời của Internet tại Việt Nam, Chính phủ đã ban hành

nghị định số 21/CP ngày 05/03/1997 về việc ban hành "Quy chế tạm thời về quản lý,

thiết lập, sử dụng mạng Internet ở Việt Nam" qui định các điều kiện cơ bản của việc

quản lý, sử dụng, kết nối mạng Internet tại Việt Nam. Tiếp đó, Thông tư liên tịch số

08/TTLT ngày 24/05/1997 giữa Tổng cục Bưu Điện (nay là Bộ Thông tin và Truyền

thông), Bộ Nội vụ và Bộ Văn hoá-Thông tin (nay là Bộ Văn hóa-Thể thao-Du lịch)

ban hành hướng dẫn cấp phép việc kết nối, cung cấp và sử dụng Internet ở Việt

Nam; Quyết định số 1110/BC ngày 21/05/1997 về việc cấp phép cung cấp thông tin

lên mạng Internet của Bộ Văn hoá - Thông tin qui định về thủ tục xin cấp phép cung

cấp thông tin lên mạng; Quyết định số 679/1997/QĐ-TCBĐ ngày14/1 1/1997 của Tổng

cục Bưu điện về việc ban hành Thể lệ dịch vụ Internet ở Việt Nam, qui định việc quản

lý nhà nước đối với mọi hoạt động kết nối, truy nhập, cung cấp và sử dụng Internet

tại Việt Nam; Quyết định số 848/1997/QĐ-BNV ngày 23/10/1997 của Bộ trưởng Bộ

Nội vụ (nay là Bộ Công an) ban hành qui định về biện pháp và trang thiết bị kiểm

tra, kiểm soát bảo đảm an ninh quốc gia trong hoạt động Internet ở Việt Nam…

Nhận thức được tầm quan trọng của việc ứng dụng dịch vụ Internet vào cuộc

sống, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản đối với việc phát triển Internet, cụ

thể:

Ngày 20/11/2000, Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị số 58/CT-TW về đẩy mạnh ứng

dụng và phát triển công nghệ thông tin. Đây là một chủ trương lớn thể hiện quan

điểm của Đảng về phát triển công nghệ thông tin và Internet tại Việt Nam.

Ngày 24/5/2001, Thủ tướng Chính phủ có quyết định số 81/2001/QĐ-TTg

phê duyệt Chương trình hành động triển khai Chỉ thị 58/CT-TW của Bộ Chính trị,



41



đề ra những giải pháp và sự chỉ đạo cụ thể đối với việc ứng dụng công nghệ thông

tin.

Ngày 23/8/2001, Chính phủ đã ban hành Nghị định 55/2001/NĐ-CP về quản lý,

cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet.

Ngày 08/02/2002, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 33/2002/QĐ-TTg

phê duyệt kế hoạch phát triển Internet Việt Nam giai đoạn 2001 - 2005 tạo lập môi

trường cạnh tranh với nhiều doanh nghiệp tham gia cung cấp dịch vụ.

Ngày 07/06/2002, Chủ tịch nước ký lệnh công bố Pháp lệnh Bưu chính Viễn

thông. Đây là văn bản pháp quy cao nhất trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về Bưu

chính Viễn thông và Internet .

2.2.3. Kết cấu hạ tầng viễn thông cho phát triển Internet tại Việt Nam

Nếu như môi trường pháp lý là điều kiện tiền đề cho phát triển Internet ở Việt

Nam thì kết cấu hạ tầng viễn thông là yếu tố quyết định thúc đẩy ứng dụng các tiện

ích của Internet. Ngành Viễn thông là một ngành dịch vụ có công nghệ phát triển ở

trình độ cao nhất của Việt Nam trong những năm đổi mới. Mạng viễn thông quốc tế,

hạ tầng kỹ thuật thiết yếu cho phát triển Internet của Việt Nam đã có những bước

phát triển nhanh chóng với 3 tổng đài Gateway và 8 trạm mặt đất có khả năng cung

cấp các kênh liên lạc trực tiếp tới gần 40 nước và liên lạc gián tiếp với trên 200 nước

trên thế giới. Đến nay mạng truyền dẫn quốc tế đã có 4 tuyến cáp quang. Dung lượng chuyển mạch quốc tế hiện có 900 luồng EL, tổng số kênh liên lạc trực tiếp là

5.801 kênh với 37 hướng, tổng số kênh quốc tế thuê riêng là 2.167 kênh. Hệ thống

cáp quang Thái Lan - Việt Nam - Hồng Kông với tốc độ hơn 500 Mbps đã được đưa

vào khai thác góp phần đáng kể vào nâng cao năng lực viễn thông quốc tế của Việt

Nam. Mạng đường trục Internet quốc gia được kết nối với Internet toàn cầu với

dung lượng truyền dẫn là 1.038 Mbps. Đặc biệt, từ khi nước ta phóng thành công vệ

tinh VINASAT đã góp phần tăng cường năng lực kết nối Internet của quốc gia, nhất

là đối với các khu vực cùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.

2.3. Thực trạng việc sử dụng Internet của thanh niên học sinh, sinh viên trên

địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay

Theo kết quả khảo sát của tác giả, thực trạng sử dụng Internet của thanh niên

học sinh, sinh viên trên địa bàn thành phố Hà Nội được đánh giá như sau:

2.3.1. Độ tuổi

42



Theo kết quả khảo sát của tác giả tại Bảng 2.3, trong tổng số 109 thanh niên

học sinh, sinh viên truy cập Internet hàng ngày (Bảng 2.6) thì nhóm có độ tuổi trên

18 - 24 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (48,6%), tiếp đến là nhóm từ 16-18 tuổi (35,8%) và

nhóm trên 24 tuổi (9,2%). Có thể thấy, nhóm có độ tuổi trên 18-24 tuổi đa số là học

sinh, sinh viên các trường TCCN&DN, cao đẳng và Đại học. Ở bậc học này đòi hỏi

khả năng tự học, tự nghiên cứu và tìm kiếm thông tin khá nhiều và thường xuyên

nên HSSV truy cập Internet nhiều hơn; đồng thời khi học lên các bậc học này,

HSSV đã được trang bị nhiều hơn các kiến thức cơ bản để sử dụng Internet đáp ứng

các nhu cầu của mình. Nhóm từ 16-18 tuổi chủ yếu là học sinh THPT, là lớp thanh

niên mới lớn, có nhu cầu tìm hiểu, khám phá cái mới lạ, nhất là đối với một phương

tiện hiện đại và tiện dụng như Internet nên cũng thường xuyên truy cập, sử dụng

Internet.

Bảng 2.3: Tỷ lệ TNHSSV truy cập Internet hàng ngày tính theo độ tuổi



Độ tuổi



Số lượng



Tỷ lệ %



16-18

Trên18-24

Trên 24

Missing

Total



39

53

10

7

109



35.8

48.6

9.2

6.4

100



Biểu đồ 2.1: Tỷ lệ TNHSSV truy cập Internet hàng ngày tính theo độ tuổi

60



48.6%



50



40

35.8%



30



Series1



20



9.2%



10



0



16-18 tuổi



Trên 18-24 tuổi



2.3.2. Giới tính



43



Trên 24 tuổi



Qua kết quả tổng hợp phiếu khảo sát tại bảng 2.4 so sánh về số lượng và tỷ lệ

nam, nữ thanh niên học sinh, sinh viên truy cập Internet theo tần suất hằng ngày và

2-3 lần/tuần cùng với quan sát của tác giả cho thấy không có sự khác biệt đáng kể về

giới tính trong việc sử dụng truy cập, sử dụng Internet. Trong tổng số 109 TNHSSV

truy cập Internet hàng ngày, có 56 nam (51,3%) và 53 nữ (48,7%); cũng tương tự,

trong tổng số 139 TNHSSV truy cập Internet 2-3 lần/tuần, có 67 nam (48,2%) và 72

nữ (51,8%). Tuy nhiên, cũng có những khác biệt nhất định về tỷ lệ nam-nữ khi xem

xét với những chỉ báo khác nhau liên quan đến địa điểm truy cập Internet hay các

nội dung tìm kiếm, sử dụng trên Internet…(phân tích ở phần sau).

Bảng 2.4: So sánh tần suất truy cập Internet hàng ngày giữa nam và nữ TNHSSV



Tần suất truy cập Internet



Số lượng

Tổng



Nam



Hàng ngày



109



56



2-3 lần/tuần



139



67



Tỷ lệ %

Nữ



Nam



Nữ



53



51.3



48.7



48.2



51.8



72



Biểu đồ 2.2: So sánh tần suất truy cập Internet giữa nam và nữ TNHSSV

70



60

Nữ: 51.8%



Nam: 51.3%

Nữ: 48.7%



Nam: 48.2%



50



40

Nam

Nữ



30



20



10



0



2-3 lần/tuần



Hàng ngày



2.3.3. Địa bàn cư trú

Theo kết quả khảo sát của tác giả và phân tích trong số TNHSSV truy cập

Internet hàng ngày (Bảng 2.5) cho thấy sự khác biệt khá lớn về tỷ lệ truy cập

Internet giữa TNHSSV ở địa bàn các quận nội thành so với địa bàn các huyện ngoại



44



thành. Trong tổng số 109 TNHSSV truy cập Internet hàng ngày, có tới 74,3% HSSV

đang sống trên địa bàn các quận nội thành, và chỉ có 25,7% HSSV đang sống trên

địa bàn các huyện ngoại thành.

Với những đặc thù của đô thị ở khu vực các quận nội thành: kinh tế-xã hội

phát triển hơn, hạ tầng cơ sở viễn thông tốt, trình độ mặt bằng dân trí cao hơn, đồng

thời là nơi tập trung của nhiều trường học, nhất là các trường chuyên nghiệp, cao

đẳng, đại học…, vì vậy HSSV cư trú trên địa bàn các quận nội thành truy cập và sử

dụng Internet nhiều hơn cũng là điều dễ hiểu. Đồng thời, sau khi sáp nhập và mở

rộng Thủ đô thì các huyện ngoại thành mới còn đang gặp rất nhiều khó khăn, vì thế

cơ hội để TNHSSV được tiếp cận và sử dụng Internet cũng ít hơn.

Bảng 2.5: Tỷ lệ TNHSSV truy cập Internet hàng ngày tính theo địa bàn cư trú



Theo địa bàn



Số lượng



Tỷ lệ %



81

28

109



74.3

25.7

100



Quận nội thành

Huyện ngoại thành

Total



Biểu đồ 2.3: Tỷ lệ TNHSSV truy cập Internet hàng ngày tính theo địa bàn cư trú



Huyện ngoại thành

25.7%



Quận nội thành

Huyện ngoại thành



Quận nội thành,

74.3%



2.3.4. Tần suất truy cập Internet

Kết quả khảo sát (Bảng 2.6) cho thấy, có 47,1% số thanh niên học sinh, sinh

viên được hỏi cho biết họ truy cập Internet từ 2-3 lần/tuần; có 36,9% truy cập hàng

ngày; có 1 thanh niên học sinh, sinh viên được hỏi cho biết chưa bao giờ truy cập

Internet (0,3%).



45



Bảng 2.6: Tần suất truy cập Internet của TNHSSV



Tần suất truy cập Internet



Số lượng



Tỷ lệ %



109

139

41

1

5

295



36.9

47.1

14.0

0.3

1.7

100



Hàng ngày

2-3 lần/tuần

4-5 lần /tuần

Chưa bao giờ

Missing

Total



Biểu đồ 2.4: Tỷ lệ tính theo tần suất truy cập mạng Internet của TNHSSV



Chưa bao giờ



0.3%



4-5 lần/tuần



14%



2-3 lần/tuần



47.1%



Hàng ngày



36.9%



0



5



10



15



20



25



30



35



40



45



50



Ta có thể thấy trên Biểu đồ 2.5, trong số những thanh niên học sinh, sinh viên

truy cập mạng Internet hàng ngày thì sinh viên chiếm tỷ lệ cao nhất (44,5%), tiếp

sau đó là nhóm học sinh THPT (34,6%) và học sinh chuyên nghiệp (17,9%).

Biểu đồ 2.5: Tỷ lệ TNHSSV truy cập Internet hàng ngày tính theo bậc học



46



50

44.5%



45

40

35



34.6%



30

25



Series1



20



17.9%



15

10

5

0

THPT



CĐ, ĐH



TCCN&DN



2.3.5. Mục đích và các nội dung quan tâm khi truy cập Internet

Mục đích truy cập Internet:

Truy cập Internet đồng nghĩa với việc bước vào một thế giới khác, thế giới đó

không còn sự cách biệt về thời gian, không gian. Internet cũng là kho thông tin

khổng lồ và kèm theo đó là nhiều hoạt động giải trí hấp dẫn. Chính vì vậy, thanh

niên học sinh, sinh viên truy cập Internet với rất nhiều những mục đích khác nhau.

Bảng 2.7: Mục đích truy cập Internet của thanh niên học sinh, sinh viên



Mục đích



Số lượng

174

156

236

121

205

28

150

82

20

294



Check mail

Chat

Vào các trang web để cập nhật thông tin

Chơi Games

Tham gia các mạng xã hội

Thương mại điện tử (mua bán qua mạng)

Tìm kiếm tài liệu học tập

Download các phần mềm

Mục đích khác

Total



Tỷ lệ %

59.2

53.1

80.2

41.1

69.7

9.5

51.0

27.8

6.8



Kết quả khảo sát (Bảng 2.7) cho thấy có tới 80,2% số thanh niên học sinh,

sinh viên được hỏi cho biết họ truy cập Internet để cập nhật thông tin; 69,7% nhằm

mục đích tham gia các mạng xã hội; 59,2% nhằm mục đích check mail; có tới 53,1%

sử dụng dịch vụ chát; 51% truy cập Internet để tìm hiểu các kiến thức phục vụ học

tập; tỷ lệ truy cập chơi games là 41,1%. Trong khi đó, việc truy cập để mua bán qua

mạng đối với thanh niên học sinh, sinh viên chưa phổ biến, chỉ ở mức 9,5%.



47



Biểu đồ 2.6: Tỷ lệ tính theo mục đích truy cập Internet của TNHSSV



Có thể nói, trước đây, sách tham khảo, sách giáo khoa, giáo trình dùng cho

việc học tập đều là các tài liệu in ấn. Ngày nay, với sự phát triển không ngừng của

khoa học, xuất hiện nhiều loại hình mới như băng, đĩa và đặc biệt là Internet. Chỉ

cần ngồi trước màn hình máy tính có nối mạng, chúng ta có thể tìm kiếm được bất

kỳ thông tin gì trong mọi lĩnh vực, ở bất cứ đâu, vào bất cứ thời gian nào. Internet là

một kho thông tin khổng lồ, vô cùng đa dạng mà chúng ta có thể khai thác vô tận với

sự tiết kiệm nhất về thời gian và tiền bạc. Thanh niên, mà cụ thể là thanh niên học

sinh, sinh viên là tầng lớp rất năng động và họ đã biết sử dụng ưu thế này để phục vụ

cho việc học tập, tìm kiếm các thông tin, giải trí, giao lưu kết bạn, mở rộng tầm hiểu

biết và tăng cường các mối quan hệ giao tiếp.

Thông tin thanh niên học sinh, sinh viên muốn tìm kiếm khi truy cập mạng

Internet:

Trong Bảng 2.8 về kết quả khảo sát những thông tin thanh niên học sinh, sinh

viên muốn tìm kiếm khi truy cập mạng Internet cho thấy: có tới 70,2% các bạn trẻ

tìm kiếm thông tin về văn hoá; 64,6% tìm kiếm các thông tin phục vụ học tập và

nghiên cứu khoa học; 49,7% tìm kiếm các thông tin về giải trí, văn học, nghệ thuật;

44,1% tìm kiếm các thông tin tư vấn về tình bạn, tình yêu, giới tính; các thông tin

khác chiếm tỷ lệ thấp hơn như thể thao (38,l%); học bổng (28,4%); pháp luật

(27,7%); kinh tế (20,8%)...



48



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (131 trang)

×