1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Chương 2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐÀO TẠO CỦA TRƯỜNG CAO ĐẲNG MÚA VIỆT NAM

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.51 MB, 116 trang )


Chƣơng 2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐÀO TẠO CỦA

TRƢỜNG CAO ĐẲNG MÚA VIỆT NAM

2.1. Sơ lƣợc về Trƣờng Cao đẳng Múa Việt Nam

Trƣờng Cao đẳng Múa Việt Nam - cái nôi nuôi dƣỡng và chắp cánh cho

nhiều nhân tài ngành múa Việt Nam. Với bề dày truyền thống 50 năm đào tạo và

với vị thế của một truờng đầu ngành, nhà trƣờng đang trở thành địa chỉ đáng tin cậy

về đào tạo đội ngũ cán bộ, diễn viên múa có chất lƣợng. Trải qua 50 năm xây dựng

và phát triển nhà trƣờng đã đào tạo hàng nghìn diễn viên múa cho các đoàn nghệ

thuật từ Trung ƣơng đến địa phƣơng phần đông trong số họ nay đều là lực lƣợng

nòng cốt của các đoàn nghệ thuật trong cả nƣớc, một số đã trở thành cán bộ cốt cán

của ngành nghệ thuật. Trong số hàng ngàn nghệ sỹ múa do trƣờng đào tạo đến nay

đã có nhiều ngƣời đƣợc tặng danh hiệu NGND, NGƢT, NSND, NSƢT... Họ là

những ngƣời gieo mầm, nuôi dƣỡng phát triển nghệ thuật múa Việt Nam.

Lịch sử hơn 50 năm xây dựng và trƣởng thành của nhà trƣờng trải qua những

chặng đƣờng đáng nhớ sau:

- Trƣờng Cao đẳng Múa Việt Nam tiền thân là trƣờng Múa Việt Nam đƣợc

thành lập ngày 21 tháng 09 năm 1959 theo quyết định số 153 - VH/ QĐ của Bộ Văn

hoá – Thông tin (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao & Du lịch) với nhiệm vụ: “Đào tạo

và bổ túc nâng cao trình độ cho cán bộ, diễn viên múa để cung cấp cho các ngành,

các địa phƣơng”. Những ngày đầu xây dựng nhà trƣờng gặp không ít khó khăn. Đội

ngũ quản lý, giáo viên vừa thiếu vừa chƣa có nhiều kinh nghiệm, cơ sở vật chất còn

nghèo nàn nhƣng đƣợc sự quan tâm của Đảng và Nhà nƣớc cũng nhƣ nhờ có sự

giúp đỡ nhiệt tình của các chuyên gia Liên xô (cũ), Trung Quốc, Triều Tiên nhà

trƣờng đã bƣớc đầu đi vào ổn định. Tuy nhiên khi đất nƣớc bƣớc vào giai đoạn ác

liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nƣớc, nhà trƣờng đã rút ngắn thời

gian và chƣơng trình đào tạo, mở thêm các lớp ngắn hạn, các lớp bổ túc để kịp thời

bổ sung cán bộ, diễn viên múa sẵn sàng phục vụ đời sống tinh thần cho tiền tuyến.

Sau ngày đất nƣớc thống nhất nhà trƣờng nhanh chóng bắt tay vào việc khắc phục

hậu quả chiến tranh, khôi phục trƣờng học từng bƣớc mở rộng quy mô đào tạo nâng



39



cao chất lƣợng đào tạo để cung cấp CB, diễn viên múa cho các đoàn nghệ thuật

trong cả nƣớc.

- Trong sự nghiệp đổi mới đánh giá đúng vai trò là một trƣờng đầu ngành

trong cả nƣớc, ngày 07/05/2001 Trƣờng Múa VN chính thức đƣợc Bộ VH-TT quyết

định nâng cấp thành trƣờng Cao đẳng Múa Việt Nam”. Chức năng chính của trƣờng

theo Quyết định 26/ 2001/ QĐ – BVHTT “ là đào tạo và bồi dƣỡng cán bộ, diễn

viên có trình độ cao đẳng và trung cấp về nghệ thuật Múa, nghiên cứu, giữ gìn, phát

triển nghệ thuật múa truyền thống của các dân tộc Việt Nam và tiếp thu những tinh

hoa nghệ thuật múa của các nƣớc trên thế giới nhằm nâng cao chất lƣợng đào tạo

của trƣờng”. Từ một cơ sở đào tạo múa đầu tiên đến nay nhà trƣờng đã trở thành

một trung tâm đào tạo nghệ thuật múa lớn nhất của cả nƣớc, đƣợc sự quan tâm của

Đảng, Nhà nƣớc, Bộ, ngành nhà trƣờng đã có đƣợc cơ sở vật chất tƣơng đối khang

trang, quy mô và chất lƣợng đào tạo đƣợc nâng cao, quan hệ hợp tác về đào tạo và

biểu diễn giao lƣu đƣợc tăng cƣờng mở rộng: nhƣ nhà trƣờng có quan hệ hợp tác

với trƣờng Múa Kiep (Ucraina), trƣờng Múa Victoria (Ốtxtralia), đoàn Múa phƣơng

Bắc (Ốtxtralia), Học viện Múa Bắc Kinh, Quảng Tây (Trung Quốc), trƣờng Múa

lion (Pháp)... tham gia hợp tác đào tạo diễn viên Múa cho các nƣớc trong khu vực:

Thái Lan, Lào... Ngoài ra trƣờng cũng mở các lớp đào tạo theo địa chỉ, đào tạo liên

kết tại Huế, Lào Cai, Thanh Hoá, Nghệ An...

Để hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nƣớc giao phó, cán bộ, GV nhà

trƣờng đang tiếp tục phấn đấu, đổi mới theo hƣớng “chính quy, khoa học, dân tộc,

hiện đại”, đổi mới công tác quản lý đào tạo, nội dung, chƣơng trình đào tạo, phƣơng

pháp đào tạo phù hợp với xu thế, phát triển, hội nhập từng bƣớc nâng cấp trƣờng lên

Học viện Múa Quốc gia xứng đáng là trung tâm đào tạo nghệ thuật múa chuyên

nghiệp của cả nƣớc.

2.2. Cơ cấu tổ chức bộ máy của nhà trƣờng

- Ban Giám hiệu:

+ 01 Hiệu trƣởng

+ 01 Hiệu phó phụ trách đào tạo

+ 01 Hiệu phó phụ trách hành chính - tổ chức.



40



- Các phòng chức năng:

+ Phòng Tổ chức cán bộ.

+ Phòng Đào tạo và công tác HS SV.

+ Phòng Kế toán – tài vụ.

+ Phòng Hành chính - quản trị

+ Phòng Nghiên cứu khoa học và Thƣ viện.

- Các khoa chuyên môn:

+ Khoa Múa Dân tộc.

+ Khoa Múa Nƣớc ngoài

+ Khoa Âm nhạc

+ Khoa Biên đạo và Huấn luyện múa.

+ Khoa Văn hoá và Kiến thức cơ bản.

- Cơ sở phục vụ đào tạo:

+ Nhà hát thực nghiệm biểu diễn.

+ Trung tâm đào tạo, bồi dƣỡng.

- Các cơ sở liên kết đào tạo:

+ Trƣờng TH Văn hoá nghệ thuật Thừa Thiên Huế

+ Nhà Văn hoá thiếu nhi Lào Cai.

+ Các nhà hát, các đoàn nghệ thuật các tỉnh, thành phố.

Hình 1: Sơ đồ Tổ chức bộ máy Trƣờng Cao đẳng Múa Việt Nam



41



HIỆU TRƢỞNG



Hiệu phó

phụ trách đào tạo



Hiệu phó

phụ trách hành chính



Ban Giám hiệu



C

á

c

p

h

ò

n

g

c

h



c

n

ă

n

g



Các phòng chức năng



năng

Phòng Tổ chức cán bộ



Các khoa chuyên môn

Khoa Múa Nƣớc Ngoài



Phòng Đào tạo và

Công tác HS - SV



Khoa Múa Dân tộc

và Truyền thống



Phòng Hành chính

quản trị



Khoa Âm nhạc



Phòng Nghiên cứu

khoa học



Nhà hát thực nghiệm

và biểu diễn



Khoa Biên đạo và

Huấn luyện Múa



Phòng Kế toán –

Tài vụ



Các cơ sở đào tạo



Khoa Văn hoá và kiến

thức cơ bản



Trung tâm đào tạo

và bồi dƣỡng



Nguồn: Phòng Tổ chức cán bộ Trường Cao đẳng Múa Việt Nam

2.3. Cơ cấu ngành nghề đào tạo

Các chuyên ngành đào tạo:

+ Huấn luyện múa hệ cao đẳng.

+ Biên đạo múa hệ cao đẳng.

+ Diễn viên múa hệ cao đẳng.

+ Diễn viên múa hệ trung cấp.

2.4. Thực trạng đào tạo của nhà trƣờng

Nhƣ đã trình bày ở phần đầu, phạm vi của đề tài chỉ nghiên cứu, khảo sát

thực trạng công tác quản lý đào tạo hệ trung học chuyên nghiệp.

2.4.1. Quy mô đào tạo

Quy mô của một cơ sở đào tạo lớn hay nhỏ phụ thuộc vào nhiều yếu tố: nhƣ

phải phù hợp khả năng thực tế của nhà trƣờng (số lƣợng và chất lƣợng giảng viên,



42



cơ sở vật chất, yêu cầu của đơn vị tuyển dụng, chất lƣợng đầu vào, cũng nhƣ đặc

thù ngành nghề...).

Quy mô đào tạo của trƣờng CĐMVN ngày càng đƣợc mở rộng và tƣơng đối

ổn định trong những năm gần đây đáp ứng nhu cầu học tập, nâng cao trình độ của

ngƣời học cũng nhƣ đáp ứng nhu cầu thƣởng thức Văn hoá - nghệ thuật của nhân

dân. Với đặc thù là một trƣờng đào tạo nghệ thuật, trƣờng năng khiếu về múa

chuyên nghiệp nên số lƣợng học sinh nữ thƣờng nhiều hơn học sinh nam. Tuy nhiên

sự mất cân đối về giới lại diễn ra ở hệ dài hạn trong đó có một số môn học nhƣ múa

DUO (múa đôi), Múa Tính cách, yêu cầu cần có sự kết hợp giữa học sinh nam và

học sinh nữ. Điều này gây ra những khó khăn trong việc thực hiện chƣơng trình đào

tạo của nhà trƣờng.

Bảng: 2.1. Quy mô học sinh hệ THCN trong 5 năm gần đây

Hệ dài hạn



Hệ ngắn hạn

Nữ



Nam

Năm học



Số

lớp



Số

lƣợng



Tỉ lệ



Số

lƣợng



Nữ



Nam

Tỉ lệ



Số



Số



137



%

66



lớp lƣợng

11

60



Tỉ lệ

%



Số



Tỉ lệ

%



41



lƣợng

88



70



40



105



60



16



80



44



103



56



71



13



77



43



102



57



140



64



14



70



35



130



65



746



69



67



357



40



528



60



2004 - 2005



15



70



%

34



2005 - 2006



15



65



33



135



67



13



2006 - 2007



15



69



30



164



70



2007 - 2008



15



67



29



170



2008 - 2009



15



67



36



Tổng số



75



338



31



59



Nguồn: Phòng Đào tạo trường Cao đẳng Múa Việt Nam

Con số trên phản ánh quy mô đào tạo của nhà trƣờng là nhỏ so với các cơ sở

giáo dục khác. Nếu xem xét trên khía cạnh đào tạo nghệ thuật múa thì trƣờng

CĐMVN là cơ sở đào tạo về chuyên ngành múa lớn nhất của cả nƣớc.

2.4.2. Trình độ đào tạo



43



Hiện nay nhà trƣờng đang thực hiện đào tạo các hệ: Cao đẳng, Trung cấp

chuyên nghiệp

* Hệ cao đẳng: chuyên ngành huấn luyện múa; biên đạo múa; diễn viên múa

Đối tƣợng tuyển sinh

+ Thời gian đào tạo 3 năm, học sinh đã tốt nghiệp trung học múa.

+ Diễn viên các Nhà hát, các đoàn nghệ thuật ca múa nhạc.

+ Giáo viên dạy múa của các Nhà văn hóa đã tốt nghiệp trung học múa hoặc

có trình độ tƣơng đƣơng.

* Hệ trung cấp chuyên nghiệp

- Chuyên ngành nghệ thuật biểu diễn múa Dân gian dân tộc

Đối tƣợng tuyển sinh:

+ Hệ tuyển 4 năm, học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở, tuổi từ 14 – 16.

+ Hệ tuyển 3 năm, học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông, tuổi từ 16 – 18.

- Chuyên ngành nghệ thuật biểu diễn kịch múa.

Đối tƣợng tuyển sinh:

+ Hệ tuyển 6 năm, học sinh phổ thông học xong lớp 6/ 12, tuổi từ 12 – 14.

2.4.3. Mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo

Chƣơng trình đào tạo của trƣờng đƣợc xây dựng dựa trên cơ sở chƣơng trình

khung do BGD & ĐT phối hợp với Bộ VH, TT & DL ban hành, phù hợp với đƣờng lối

quan điểm của Đảng, Nhà nƣớc về giáo dục nói chung và công tác đào tạo nghệ thuật

nói riêng; phù hợp với mục tiêu giáo dục, chức năng và nhiệm vụ của nhà trƣờng, đồng

thời gắn với nhu cầu học tập của ngƣời học, nhu cầu nguồn nhân lực của thị trƣờng lao

động. Trƣờng có đầy đủ chƣơng trình đào tạo, kế hoạch đào tạo giảng dạy và học tập cho

các ngành, chuyên ngành đào tạo theo từng hệ đào tạo của trƣờng. Nội dung chƣơng

trình đào tạo của nhà trƣờng đã gắn liền với thực tế, yêu cầu xã hội đảm bảo mối quan hệ

giữa lý thuyết trên giảng đƣờng với thực tế trên sân khấu.

Trong mỗi chƣơng trình, trƣờng đã quy định rõ thời lƣợng đào tạo cho toàn

khoá, thời lƣợng cho các khối kiến thức, các học phần đối với từng chuyên ngành. Đối

với khối kiến thức cơ sở và chuyên môn nội dung phong phú về lý thuyết, khối

lƣợng các động tác, kỹ thuật, kỹ xảo, thủ pháp... đƣợc phân bố một cách hợp lý



44



trong toàn khoá học tạo cho ngƣời diễn viên có đủ điều kiện về trí lực, tài lực, hoàn

thiện phong cách và khả năng sáng tạo của ngƣời nghệ sỹ múa. Trƣờng có đầy đủ

chƣơng trình chi tiết của các ngành, tài liệu tham khảo, công tác sƣu tầm tƣơng đối

phong phú, đa dạng.

Mục tiêu đào tạo cụ thể của trƣờng đều rõ ràng (thời gian đào tạo toàn

khoá, khối lƣợng kiến thức tối thiểu, cấu trúc kiến thức đảm bảo cân đối, hợp lý),

đƣợc định kỳ rà soát, bổ sung, chỉnh sửa cho phù hợp với tình hình thực tế của

trƣờng trong từng năm học và đƣợc cụ thể hoá trong các văn bản của trƣờng. Mục

tiêu giáo dục của trƣờng có sự thống nhất cao giữa các cấp Uỷ Đảng, chính quyền

và đoàn thể. Mục tiêu giáo dục cũng đƣợc phổ biến, tuyên truyền rộng rãi trong cán

bộ, viên chức và học sinh - sinh viên thông qua công tác tuyên truyền, sinh hoạt đầu

khoá, các tài liệu giới thiệu trƣờng.

Tuy nhiên chƣơng trình đào tạo còn một số tồn tại:

- Việc điều chỉnh chƣơng trình chi tiết chƣa kịp thời, chƣa thƣờng xuyên nguyên

nhân do kinh nghiệm giảng dạy của GV chƣa nhiều; việc khảo sát lấy ý kiến từ học

sinh, sinh viên đã thực hiện nhƣng chƣa thƣờng xuyên liên tục. Thông tin đóng góp

từ các nhà tuyển dụng chƣa thể cập nhật thƣờng xuyên do bị khống chế ở chƣơng

trình khung. Nội dung các môn chuyên ngành đƣợc chú ý hơn dẫn đến việc học sinh

chỉ chú trọng chuyên môn xem nhẹ các môn học văn hoá khác.

- Chƣơng trình đào tạo của trƣờng nói chung còn ít linh hoạt, mềm dẻo, làm giảm khả

năng tích cực, chủ động của ngƣời học, biểu hiện là các môn học tự chọn trong các

chƣơng trình đào tạo còn ít. Việc chỉnh lý, sửa đổi đề cƣơng, bài giảng cho phù hợp thực

tiễn còn chƣa kịp thời nguyên nhân do năng lực của GV và CBQL bộ môn chƣa cao.

- Tài liệu tham khảo chƣa nhiều, chủ yếu dựa từ các nguồn giáo trình của Liên Xô

(cũ) đối với môn múa CĐCÂ.

- Ý kiến nhà tuyển dụng đóng góp cho Chƣơng trình đào tạo chƣa nhiều.

Trong thời gian tới, nhà trƣờng cần phải có kế hoạch rà soát, bổ sung, chỉnh

lý nội dung chƣơng trình đào tạo cho sát với thực tiễn.

2.4.4. Phương pháp đào tạo



45



Quán triệt tinh thần chỉ đạo: “ Đào tạo nghệ thuật là đào tạo tinh hoa,

cho nên chất lƣợng nghệ thuật phải đƣợc đặt lên hàng đầu, đào tạo nghệ sĩ không

chỉ dừng lại ở mức thành thạo mà còn phải ở mức điêu luyện… Đào tạo nghệ sĩ là

quá trình đào tạo tổng hợp: tay nghề, tri thức và khả năng sáng tạo”. 20

Với mục tiêu đào tạo diễn viên múa chuyên nghiệp, ngƣời học sẽ phải trải qua

luyện tập với hàng nghìn tiết học chính khoá trên lớp gồm 2 môn học bắt buộc: múa cổ

điển châu Âu (2040 tiết), múa Dân gian (992 tiết) và các môn học khác....(cho

cả khoá học đối với hệ 6 năm); múa cổ điển Châu Âu (1400 tiết), Múa Dân gian (1260

tiết) (đối với hệ 4 năm)... cùng với hàng vạn giờ luyện tập ngoài giờ khác....Với khối

lƣợng tiết dạy nhƣ trên cùng với khả năng tiếp thu của từng học sinh có sự khác nhau

nên dạy gì? dạy nhƣ thế nào? Tiêu chí nào đánh giá quá trình huấn luyện luôn là thử

thách đối với giáo viên. Trong quá trình giảng dạy đòi hỏi GV phải chú ý rèn luyện kỹ

năng, kỹ xảo nghề nghiệp cho học sinh, GV có sự điều tiết, phân phối hợp lý giữa tập

đồng loạt với tập từng cá nhân để tăng thời gian cho học sinh tập luyện đạt đến lƣợng

vận động hợp lý theo nguyên tắc từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, từ cƣờng độ

vận động nhẹ đến nặng, từ nhịp điệu chậm đến nhanh...

Yêu cầu trong mỗi giờ giảng (với thời lƣợng 90 phút) GV rèn luyện cho học

sinh tiếp cận, thực hiện động tác múa một cách chính xác về luật động, tiết tấu âm

nhạc. Sau khi học sinh làm quen với những động tác cơ bản, những kỹ thuật khó

khác, khâu tiếp theo ngƣời GV biên bài tập kết nối các nhóm động tác trên tuyến

đội hình đơn giản và phức tạp dần lên để ngƣời học đƣợc làm quen và thực hành tốt

phần kỹ thuật, kỹ xảo, xử lý đạo cụ với sự thể hiện tinh tế của cơ thể.

Trong giảng dạy các môn Múa, nếu thị phạm của ngƣời GV là mẫu chuẩn

(chuẩn mực về kỹ năng thực hiện động tác, cảm thụ âm nhạc, khả năng biểu lộ cảm

xúc...) cho ngƣời học hƣớng tới, đó là yêu cầu không thể thiếu khi dạy thực hành

nhằm phát triển nhận thức trực quan, khả năng quan sát cho ngƣời học thì việc

ngƣời học đƣợc thị phạm trƣớc tập thể lớp là một phƣơng pháp hiệu quả vừa giúp

ngƣời dạy đánh giá mức độ tiếp thu của ngƣời học, vừa tạo ra đƣợc động cơ hứng

thú học tập cho ngƣời học giúp học sinh phát huy tính tích cực chủ động tham gia

vào quá trình học tập. Trong quá trình dạy học, cần kết hợp một cách hợp lý giữa



46



thực hành với lý thuyết, kết hợp xem băng đĩa hình giúp việc giảng dạy đạt hiệu quả

tốt. Tuy nhiên mỗi khoá học đều có những khó khăn, tồn tại. Nguyên nhân do đối

tƣợng ngƣời học không đồng đều, không cùng xuất phát điểm nên khả năng tiếp thu

rất khác nhau. Hơn nữa, khi vào trƣờng, không phải em nào cũng có sự say mê với

chuyên ngành mình đã lựa chọn, nên khi gặp khó khăn (đặc biệt là sự mệt mỏi, căng

thẳng cơ bắp, cùng hàng loạt chấn thƣơng và những yêu cầu khắt khe, chuẩn mực

của múa khác) khiến họ nản chí, không tập trung vào học, dẫn đến quá trình rèn

luyện không có kết quả. Trong điều kiện chất lƣợng đầu vào chƣa cao đòi hỏi ngƣời

GV phải luôn tìm ra phƣơng pháp sƣ phạm phù hợp tạo động lực để kích thích,

động viên trong học tập cho HS, khắc phục nhƣợc điểm về điều kiện cơ thể.

Trƣờng đã thực hiện việc đổi mới phƣơng pháp giảng dạy, qua đó đã phát huy

tính tích cực, chủ động của ngƣời học. Trƣờng quan tâm đầu tƣ mạnh về điều kiện cơ

sở vật chất, trang thiết bị để phục vụ cho việc đổi mới phƣơng pháp giảng dạy. Tiến

hành khảo sát lấy ý kiến của học sinh về hiệu quả của các phƣơng pháp giảng dạy.

Tuy nhiên kế hoạch đổi mới phƣơng pháp dạy và học theo hƣớng phát triển

năng lực tự học và làm việc theo nhóm của ngƣời học chƣa đƣợc cụ thể hóa và triển

khai đồng bộ đối với các hệ, bậc đào tạo. Trong các cuộc thăm dò gần đây không ít ý

kiến (23%) của các GV múa cho rằng: công việc giảng dạy của các GV mới chỉ dừng

ở hoạt động truyền nghề, truyền khẩu; HS là những thợ múa, những ngƣời chỉ biết

thực hiện các động tác múa thuần thục nhƣng máy móc, thiếu sức sống và sáng tạo.

Đổi mới phƣơng pháp dạy học là coi trọng việc bồi dƣỡng năng lực tự học,

tự nghiên cứu, tạo điều kiện cho ngƣời học phát triển tƣ duy sáng tạo, rèn luyện kỹ

năng thực hành, tham gia nghiên cứu. Việc đổi mới phƣơng pháp sẽ có liên quan

đến những vấn đề nhƣ giáo trình, cơ sở vật chất, tài liệu tham khảo, con ngƣời....

Tuy nhiên trong quá trình thực hiện một bộ phận cán bộ, GV chƣa thích nghi, chƣa

đáp ứng đƣợc yêu cầu. Một số GV sợ những điều chƣa biết, kiến thức về cái mới lại

chƣa sâu, ngại thay đổi và sợ học những cái mới. Trong khi đó các phƣơng tiện,

trang thiết bị dạy học phục vụ cho đổi mới phƣơng pháp dạy học còn thiếu, không

đồng bộ, chƣa bổ xung kịp thời.



47



Nhìn chung nhà trƣờng chƣa thực hiện tốt việc đổi mới phƣơng pháp giảng

dạy, do đó chƣa phát huy tính tích cực chủ động của ngƣời học chủ yếu sử dụng

phƣơng pháp truyền thống thầy nói trò ghi, thầy làm mẫu trò bắt chƣớc một cách

thụ động, thiếu sáng tạo. Năng lực sƣ phạm của một số GV trẻ còn hạn chế, còn

lúng túng, thiếu chặt chẽ trong việc chuẩn bị giáo án cũng nhƣ cách thức tổ chức

cho một lớp học. Thực tế trên là nguyên nhân làm giảm sút chất lƣợng giảng dạy.

Trong thời gian tới nhà trƣờng phải có biện pháp tích cực nhằm nâng cao chất lƣợng

và hiệu quả của giảng dạy.

2.4.5. Đánh giá kết quả học tập

Đánh giá kết quả học tập của học sinh là công cụ để các cấp quản lý thực

hiện chức năng của mình nhằm nâng cao chất lƣợng và hiệu quả dạy học.

Việc đánh giá kết quả học tập của học sinh nhằm cung cấp những thông tin

cơ bản về thực trạng dạy học trong một cơ sở giáo dục để có thể chỉ đạo kịp thời,

định hƣớng và điều chỉnh hoạt động học của trò đồng thời tạo điều kiện nhận định

thực trạng và định hƣớng hoạt động dạy của thầy.

Đánh giá kết quả học tập thông qua việc thi, kiểm tra: Kết quả học tập của

HS đƣợc hình thành từ kết quả học tập của từng môn học. Theo qui chế hiện hành,

việc đánh giá kết quả học tập của từng môn học đƣợc thực hiện thông qua các hình

thức: thi viết (trắc nghiệm hoặc tự luận), vấn đáp, làm thực hành hoặc kết hợp giữa

các hình thức trên. Việc áp dụng hình thức nào phụ thuộc vào điều kiện giáo viên,

vào tính chất của từng môn học và vào mục tiêu đƣợc đặt ra đối với môn học. Mỗi

hình thức trong quá trình thực hiện đều có những ƣu điểm và nảy sinh những hạn

chế nhất định. Cụ thể:

Đối với các môn văn hoá và kiến thức chung khác việc đánh giá kết quả

học tập đƣợc tiến hành riêng ở từng lớp với sự giám sát của giáo viên đảm trách, có

sự thống nhất về nội dung kiểm tra do tổ chuyên môn quyết định trên cơ sở chƣơng

trình khung của BGD&ĐT. Ở mỗi lớp GV sẽ tiến hành đánh giá kết quả học tập của

HS một cách độc lập bằng các phƣơng pháp khác nhau.

- Đối với các môn học chuyên ngành:



48



Tiêu chí đánh giá dựa trên mức độ tiếp thu và thực hiện chuẩn xác các động

tác Múa cơ bản: những bài tập rèn luyện độ mở, độ mềm, độ dẻo, sức bật; nắm chắc

vị trí, phƣơng hƣớng để phối hợp linh hoạt trong các bài tập múa; những kỹ thuật

quay, nhảy....khả năng thực hiện bài tập múa, tổ hợp múa với độ dài vừa phải tuỳ

theo trình độ.

Đánh giá kết quả học tập đối với các môn chuyên ngành là cả một quá trình

tập luyện. Buổi thi vào cuối mỗi học kỳ nhằm đánh giá, tổng kết báo cáo lại toàn bộ

quá trình học tập trong một học kỳ trƣớc toàn trƣờng và BGH. Việc đánh giá năng

lực học tập nhƣ trên về cơ bản đảm bảo tính khách quan, độ tin cậy. Tuy nhiên để

đánh giá chính xác hơn, thống nhất, không mang cảm tính, nhà trƣờng cần xây dựng

tiêu chí đánh giá chi tiết, khoa học hơn. Công tác thống kê phân tích các kết quả thi

vẫn còn đang trong giai đoạn triển khai thực hiện, qua đó từng bƣớc điều chỉnh các

hình thức đánh giá và mức độ khó của bài thi cho phù hợp với từng trình độ của HS.

Bảng 2.2. Bảng kết quả học tập của học sinh 5 năm gần đây

Kết quả học tập

Các môn văn hoá + âm nhạc



Tổng

Năm



số



Chuyên môn



Xuất sắc



Xuất sắc

Trung Bình



Khá



Yếu + kém



Trung

Bình



Khá



Yếu +

kém



2004

2005

2005

2006

2006

2007

2007

2008

2008

2009

Tổng



+ Giỏi

SL

%



SL



%



SL



%



SL



%



+ Giỏi

SL %



SL



%



SL



%



SL



%



355



10



3



90



25



205



58



50



14



84



24



189



53



73



21



9



3



375



12



3



91



24



220



59



52



14



83



22



196



52



85



23



11



3



416



học



15



4



80



19



250



67



71



17



75



18



205



49



122



29



14



3



416



10



2



76



18



260



63



70



17



80



19



200



48



123



30



13



3



400



8



2



76



19



269



67



47



12



75



19



198



49



120



30



7



2



1962



55



2,8



413



21



1204



61,4



290



14,8



397



20



988



50



523



27



54



3



học

sinh



Nguồn: Phòng Đào tạo trường Cao đẳng Múa Việt Nam



49



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (116 trang)

×