1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Chương 3. MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐỔI MỚI QUẢN LÝ ĐÀO TẠO TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG MÚA VIỆT NAM.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.51 MB, 116 trang )


diễn viên có trình độ chuyên môn vững vàng, đáp ứng nhu cầu xây dựng các nhà hát,

các đoàn ca múa từ TW đến địa phƣơng, đã hoàn thành các nhiệm vụ

Tuy nhiên những năm gần đây cũng nhƣ một số ngành nghệ thuật khác nhƣ

điện ảnh, sân khấu..., nghệ thuật múa đang gặp không ít khó khăn trong việc tìm ra

hƣớng đi mới cho riêng mình. Những chƣơng trình múa hoành tráng, những vở kịch

múa gây ấn tƣợng trong ngƣời xem ngày càng ít xuất hiện trên sân khấu lớn nhƣờng

chỗ cho múa minh hoạ trong các chƣơng trình ca nhạc. Thực trạng trên cũng ít

nhiều làm giảm sút nhu cầu nguồn nhân lực của một số đoàn nghệ thuật.

Trên thực tế, nhu cầu về nguồn nhân lực có trình độ tay nghề cao cho các

đoàn nghệ thuật TW ở nƣớc ta hiện nay đang gia tăng, trong khi đó các cơ sở đào

tạo nghề chƣa đáp ứng kịp.

Hiện nay cả nƣớc có hơn 20 trƣờng văn hoá nghệ thuật có đào tạo diễn viên

múa trình độ trung cấp đáp ứng nhu cầu học tập, nâng cao trình độ của nhân dân. Hệ

thống các trƣờng VH - NT đã liên tục phát triển, đóng góp to lớn trong việc đào tạo

các nghệ sỹ múa, các cán bộ quản lý văn hoá cung cấp diễn viên múa cho các đoàn

nghệ thuật địa phƣơng và TW. Với vị thế là trƣờng đầu ngành đƣợc giao nhiệm vụ

đào tạo cán bộ, diễn viên múa, huấn luyện múa (GV múa), biên đạo nghệ

thuật....cho các đoàn nghệ thuật, các trƣờng nghệ thuật....Trƣờng đã cùng một số cơ

sở đào tạo khác đổi mới phƣơng thức đào tạo, đa dạng hoá các loại hình đào tạo

nhằm không ngừng nâng cao chất lƣợng đào tạo diễn viên múa. Cho đến nay số

lƣợng diễn viên về cơ bản đã đáp ứng nhu cầu số lƣợng cho hầu hết các đoàn nghệ

thuật đóng trên địa bàn các TP lớn trong cả nƣớc: Hà Nội, TPHCM...đã đáp ứng tốt

hơn nhu cầu học tập của nhân dân và đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực cho phát triển

văn hoá - xã hội. Nhà trƣờng đã thực sự trở thành một trung tâm phát hiện, đào tạo và

bồi dƣỡng năng khiếu trẻ, nguồn bổ sung chính chủ lực cho các đoàn nghệ thuật TW.

3.1.2. Sơ lược dự báo phát triển của trường

Để thực hiện những chủ trƣơng đƣờng lối của Đảng và Nhà nƣớc về xây

dựng và phát triển Văn hoá – văn nghệ đã đặt công tác đào tạo trọng trách lớn,

phải đào tạo nhân tài cho đất nƣớc nhƣ Nghị quyết TW 5 (khoá VIII) về “Xây

dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” cũng



74



nhƣ thực hiện một loạt các văn bản, chỉ thị của Bộ GD & ĐT, Bộ VH, TT & DL về

một số việc cần thiết trong công tác đào tạo, bồi dƣỡng cán bộ VH - NT; đổi mới

quy trình đào tạo, đổi mới nội dung đào tạo đa dạng hoá các loại hình đào tạo, giữ

vững và mở rộng quy mô đào tạo đối với lĩnh vực nghệ thuật. Nhà trƣờng đang tập

trung một số việc trọng tâm sau:

Về tổ chức bộ máy của nhà trƣờng:

Hiện nay bộ máy tổ chức của trƣờng tƣơng đối nhỏ. Trong tƣơng lai nhà

trƣờng mở rộng quy mô đào tạo cũng nhƣ quy hoạch lại bộ máy tổ chức mới có thể

đáp ứng nhu cầu đào tạo. Cụ thể:

- Tách phòng Đào tạo và Công tác HS – SV thành 2 phòng độc lập.

-



Thành lập phòng Đối ngoại với chức năng tƣ vấn, tổ chức và thực hiện các dự



án đào tạo, biểu diễn, giao lƣu với các đoàn nghệ thuật trong và ngoài nƣớc.

- Tách khoa Biên đạo và Huấn luyện thành 2 khoa độc lập.

- Thành lập khoa Lí luận và phê bình Múa.

- Thành lập Viện nghiên cứu và bảo tồn nghệ thuật Múa ….

Về mục tiêu đào tạo

Nhà trƣờng tiếp tục duy trì đào tạo bậc trung cấp diễn viên kịch múa (hệ 6

năm); diễn viên múa Dân gian dân tộc (hệ 4 năm, 3 năm) làm nguồn tuyển sinh cho

bậc CĐ, ĐH. Mở thêm một số ngành mới nhƣ: Diễn viên biểu diễn múa Hiện đại,

Cử nhân Biên đạo múa, Cử nhân Huấn luyện múa, Cử nhân lý luận phê bình múa,

Cử nhân cán bộ phong trào về múa, thiết kế trang phục, kỹ sƣ âm thanh, ánh sáng

nghệ thuật....

Đa dạng hoá các loại hình đào tạo chính quy, vừa làm vừa học, đào tạo liên

kết trong và ngoài nƣớc đáp ứng nhu cầu nâng cao trình độ của các đoàn nghệ thuật,

nhu cầu học tập của HS

Mở rộng quy mô đào tạo

Lƣu lƣợng học sinh – sinh viên: 750 HS – SV/ năm.

Chƣơng trình đào tạo



75



Hoàn chỉnh hệ thống chƣơng trình, giáo trình, tài liệu tham khảo cho các

ngành học, các bậc đào tạo. Hoàn thành các giáo trình về múa Dân gian dân tộc, sân

khấu truyền thống đảm bảo giữ gìn bản sắc văn hoá nghệ thuật của các vùng, miền

để sử dụng thống nhất trong các trƣờng trên phạm vi cả nƣớc. Biên soạn, chỉnh lý

giáo trình các môn múa CĐCÂ (múa ballet), múa Tính cách, Múa đôi, múa đƣơng

đại...cho phù hợp với điều kiện Việt Nam.

Đội ngũ giảng viên

Theo quy hoạch đến năm 2015 ĐNGV nhà trƣờng sẽ có khoảng 110 GV ở

tất cả các khoa, các bậc đào tạo. Dự kiến đến năm 2015 sẽ phấn đấu đạt: 65% GV

múa có trình độ sau đại học; 35% GV lí luận âm nhạc là thạc sỹ; 60% GV khoa văn

hoá và KTCB đạt trình độ thạc sỹ,….

Cơ sở vật chất:

Phấn đấu đến năm 2015 xây dựng và đƣa vào sử dụng khu nhà 11 tầng nâng tổng

số phòng học múa 25 phòng, phòng học văn hóa 15 phòng, phòng học âm nhạc 5

phòng…với trang thiết bị hiện đại khác: máy camera, đàn piano, nhạc cụ dân tộc…..

3.2. Nguyên tắc đề xuất biện pháp

Việc đề xuất một số biện pháp quản lý đào tạo trƣờng Cao đẳng Múa Việt

Nam đƣợc tuân theo các nguyên tắc sau:

3.2.1. Tính thực tiễn

Trong quản lý, tính thực tiễn chiếm vị trí trung tâm là nền tảng của toàn bộ

các hoạt động quản lý điều hành trong nhà trƣờng. Chính thực tiễn sẽ đánh giá các

hoạt động một cách khách quan và công bằng. Vì thế khi xây dựng các biện pháp

đòi hỏi nhà trƣờng phải bám sát thực tiễn xã hội, thực tiễn và yêu cầu quản lý nhà

nƣớc, khảo sát đánh giá thực trạng công tác quản lý đào tạo, tổ chức lấy ý kiến đóng

góp của các ngành, các cấp đối với những nội dung cơ bản của quản lý đào tạo.

3.2.2. Tính khả thi

“Khả thi” theo từ điển Tiếng Việt có nghĩa là khả năng thực hiện. Nhƣ vậy,

các biện pháp có tính khả thi là các biện pháp có khả năng thực hiện trên thực tế.

Việc bảo đảm tính khả thi của các biện pháp là một yêu cầu rất quan trọng đƣợc đặt

ra trong suốt quá trình xây dựng các biện pháp.



76



Tuy nhiên, khả thi chỉ là điều kiện “cần”. Để các biện pháp đƣợc thực sự đi

vào thực tế thì phải có cả điều kiện “đủ” đó là khâu tổ chức thực hiện. Nói một cách

khác, còn cần phải tiến hành tốt việc tổ chức thực hiện các biện pháp, trong đó bao

gồm nhiều công việc nhƣ tuyên truyền, tập huấn, phổ biến các quy định của nhà

trƣờng trong việc nâng cao ý thức trách nhiệm đội ngũ cán bộ GV, viên chức để

phục vụ cho việc thực thi, áp dụng các biện pháp có hiệu quả; tiến hành rà soát để

kịp thời sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các văn bản chi tiết hoặc hƣớng dẫn nhằm

bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất trong hệ thống nhà trƣờng; xây dựng, chuẩn bị

các điều kiện về đội ngũ cán bộ, cơ sở vật chất, kinh phí để thực hiện các quy định.

Để bảo đảm tính khả thi thì việc xây dựng các biện pháp phải bảo đảm tính khách

quan, không đƣợc chủ quan, duy ý chí, áp đặt lên những quy định mà nhà trƣờng

không cần, không muốn, không thể thực hiện đƣợc. Yêu cầu có tính khả thi cũng là

một căn cứ quan trọng, bởi mọi lí luận dù có hấp dẫn đến đâu nhƣng sẽ bị đánh đổ

nếu các biện pháp ấy không thể triển khai trong hiện thực hoặc dù phù hợp với tất

cả các luận cứ khoa học nhƣng khả năng của nhà trƣờng khó đáp ứng cũng dẫn đến

thất bại. Các biện pháp đề xuất phải phù hợp với năng lực thực tế của nhà trƣờng để

có thể đạt đƣợc mục tiêu đặt ra (bao gồm năng lực: cán bộ, nguồn tài chính, cơ sở

vật chất kỹ thuật...).

3.2.3. Tính đồng bộ

Công tác quản lý đào tạo của một nhà trƣờng có rất nhiều nội dung. Đổi mới

quản lý đào tạo phải đảm bảo sự đồng bộ giữa đổi mới cơ chế quản lý trên cơ sở

mục tiêu chung của nhà trƣờng. Các biện pháp đề xuất trong luận văn phải đảm bảo

sự thống nhất, liên tục, không chồng chéo nhau. Do đó khi đề xuất các biện pháp

quản lý cần thiết phải có quan điểm tiếp cận tổng hợp và đồng bộ trong việc tổ chức

thực hiện các biện pháp nhằm huy động đầy đủ chặt chẽ tất cả các nguồn lực trong

nhà trƣờng.

Các nguyên tắc trên đây không thể thiếu trong quá trình xây dựng các biện

pháp quản lý đào tạo. Chúng có quan hệ tƣơng hỗ lẫn nhau nhằm thúc đẩy thực hiện

các biện pháp đạt hiệu quả cao.

3.3. Một số biện pháp đổi mới quản lý đào tạo tại trƣờng Cao đẳng Múa Việt Nam



77



Từ những định hƣớng phát triển nhà trƣờng đến năm 2015, với quy mô đào

tạo ngày càng tăng, các ngành mới đƣợc mở rộng, các loại hình đào tạo liên kết tiếp

tục phát triển thì yêu cầu đổi mới quản lý đào tạo luôn nhận đƣợc sự quan tâm của

các cấp lãnh đạo. Có thể nói đổi mới là một nhân tố tốt nhất nhằm duy trì sự phát

triển. Bởi vì có những cái tốt đối với hôm qua nhƣng lại không tốt cho hôm nay nên

nhà trƣờng đang nỗ lực tìm ra cách thức mới để thúc đẩy đổi mới. Tuy nhiên đổi

mới quản lý đào tạo phải đƣợc thực hiện một cách đồng bộ, toàn diện, khoa học, có

sự kế thừa thì mới đem lại kết quả cao.

Để khắc phục những tồn tại trong công tác quản lý đào tạo của trƣờng Cao

đẳng Múa Việt Nam chúng tôi xin đề xuất một số biện pháp cụ thể nhƣ sau:

3.3.1. Biện pháp 1: Cải tiến công tác tuyển sinh

a) Mục tiêu

Cải tiến công tác tuyển sinh nhằm bảo đảm tính nghiêm túc, chính xác, công

khai, dân chủ, công bằng, góp phần nâng cao chất lƣợng đào tạo. Vì vậy, các giải

pháp cải tiến phải có tính khả thi cao, phù hợp với điều kiện thực tế nhà trƣờng.

b) Nội dung

- Cải tiến công tác thi cử: Sử dụng công nghệ thông tin vào công tác tuyển sinh

nhằm tăng độ chính xác, giảm sự căng thẳng, tốn kém cho thí sinh.

- Cải tiến công tác tiếp nhận hồ sơ tuyển sinh: Lựa chọn cán bộ giảng viên có

kinh nghiệm, nhiệt tình, trách nhiệm làm công tác tuyển sinh. Công việc này rất

quan trọng nhằm giúp HS làm hồ sơ dự tuyển chính xác, tƣ vấn trực tiếp cho HS,

phụ huynh hiểu rõ về ngành nghề đào tạo, hình thức đào tạo của nhà trƣờng, về chế

độ học bổng, trợ cấp, đãi ngộ, về điều kiện học tập, sinh hoạt của nhà trƣờng.

- Tập huấn công tác tuyển sinh là hết sức cần thiết nhằm giúp các CBGV tham

gia làm nhiệm vụ trong kỳ thi của nhà trƣờng hiểu, nắm rõ quy trình làm việc, từ đó

nâng cao trách nhiệm của từng cán bộ, viên chức, nhằm thực hiện thắng lợi kỳ thi

tuyển sinh an toàn, nghiêm túc.

- Bên cạnh đó nhà trƣờng có trách nhiệm phối hợp với các đơn vị tuyển dụng

tạo điều kiện thuận lợi để HS sau khi tốt nghiệp có nhiều cơ hội tìm kiếm việc làm

đúng với ngành nghề đào tạo bởi lẽ do nghệ thuật múa là nghệ thuật của tuổi thanh



78



xuân, tuổi nghề rất ngắn so với tuổi đời. Do vậy nếu không đƣợc sử dụng ngay sau

khi tốt nghiệp thì tài năng sẽ bị thui chột, tuổi xuân bị phai nhạt.

- Tƣ vấn, hƣớng nghiệp đối với HS có tài năng, có điều kiện cơ thể tiếp tục trở

thành diễn viên; đối với HS giỏi nhƣng do hạn chế về hình thể tiếp tục học ở bậc

học cao để chuyển sang làm nghề nghiệp khác: GV múa, biên đạo múa….

-



Đƣa nghệ thuật múa tham gia vào dự án sân khấu học đƣờng có ý nghĩa rất



quan trọng, nhằm mục đích đào tạo một lớp khán giả trẻ cho nghệ thuật biểu diễn,

tạo nguồn cho tƣơng lai. Thông qua nghệ thuật múa đem đến cho các em HS những

bài học bổ ích, giúp các em làm giàu thêm trí tƣởng tƣợng, phát huy đƣợc những kỹ

năng cảm nhận vẻ đẹp của nghệ thuật. Bên cạnh đó đây còn là dịp để nhà trƣờng có

thể phát hiện và tìm ra những hạt nhân có năng khiếu và tình yêu nghệ thuật để bồi

dƣỡng, đào tạo.

- Nhà trƣờng kết hợp với hệ thống các nhà văn hoá, cung thiếu nhi

trong việc phát hiện, đào tạo, bồi dƣỡng những mầm non nghệ thuật múa,

tạo nguồn tuyển sinh.

Cuối cùng nhà trƣờng cần nhanh chóng triển khai đề tài “tiêu chí tuyển chọn

học sinh năng khiếu múa” vào thực tế, đúc rút kinh nghiệm để từng bƣớc hoàn thiện

trở thành chỗ dựa tin cậy trong công tác tuyển sinh múa ở các trƣờng Văn hoá nghệ thuật có đào tạo diễn viên múa trong cả nƣớc một công việc khởi đầu quan

trọng trong quá trình đào tạo cán bộ, diễn viên múa chuyên nghiệp cho đất nƣớc.

c) Các bƣớc thực hiện

- Xây dựng kế hoạch:

+ Phân tích nhu cầu đào tạo: Trong công tác tuyển sinh cần chú ý đảm bảo sự

cân đối cơ cấu nguồn nhân lực phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội ở

mỗi vùng miền.

+ Xây dựng chỉ tiêu tuyển sinh đáp ứng nhu cầu sử dụng của xã hội và khả

năng đảm bảo chất lƣợng.

- Tổ chức, thực hiện tuyển sinh.

+ Tăng cƣờng thúc đẩy công tác thông tin, quảng cáo tuyển sinh trên các

phƣơng tiện thông tin đại chúng, gửi các tờ rơi, gửi thông báo đến các Sở Văn hoá –



79



thông tin, các trƣờng học để phụ huynh, HS hiểu rõ hơn về ngành nghề nhà trƣờng

đang đào tạo. Tổ chức tốt hoạt động quảng cáo của nhà trƣờng nhằm nghiên cứu và

dự báo nhu cầu thị trƣờng.

+ Tăng cƣờng liên kết với các sở văn hoá, các đoàn nghệ thuật, các trƣờng

VHNT các tỉnh, thành để mở rộng nguồn tuyển sinh.

+ Lập ban sơ tuyển cơ động đi đến tất cả những địa điểm đã đƣợc quảng cáo

tạo điều kiện thuận lợi cho HS thi tuyển.

- Kiểm tra, đánh giá: Nhà trƣờng cần chỉ đạo kịp thời và thƣờng xuyên để công tác

tuyển sinh đạt kết quả tốt.

+ Kiểm tra, giám sát chặt chẽ trong khâu xét hồ sơ, xét tuyển, thi tuyển thực

hiện nghiêm túc, đúng quy chế tuyển sinh.

+ Chỉ đạo, khắc phục kịp thời các thiếu sót xảy ra nhằm đảm bảo công bằng,

khách quan cho HS dự tuyển góp phần nâng cao chất lƣợng tuyển sinh cũng nhƣ thu

hút HS đến dự tuyển.

- Sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm cho kỳ thi tuyển sau.

d) Điều kiện thực hiện

Để thực hiện tốt các biện pháp trên đây, nhà trƣờng cần có đầy đủ ngân sách,

phƣơng tiện phục vụ công tác tuyển sinh. Đồng thời có chế độ khen thƣởng, biểu

dƣơng kịp thời cho các cá nhân, tập thể làm tốt công tác này.

3.3.2. Biện pháp 2: Tăng cường quản lý mục tiêu, nội dung chương trình

3.3.2.1. Tăng cường trách nhiệm các cấp trong quản lý mục tiêu, nội dung chương

trình đào tạo.

a) Mục tiêu

Tăng cƣờng trách nhiệm các cấp trong quản lý mục tiêu, nội dung chƣơng

trình đào tạo là tạo ra một cơ sở pháp lý nhằm tăng tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm

trong quản lý, với mục tiêu là nâng cao hiệu quả các cấp quản lý để từ đó nâng cao

chất lƣợng đào tạo theo hƣớng đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của xã hội.

b) Nội dung

Hoàn thiện về mặt tổ chức và phát huy đầy đủ vai trò các cấp tham mƣu

trong đào tạo và nghiên cứu khoa học cấp trƣờng, cấp khoa.



80



Xây dựng hệ thống cơ chế, chính sách rõ ràng và nhất quán, bảo đảm sự điều

hoà, phối hợp, phân công, phân cấp và quy định rõ trách nhiệm và quyền hạn của

hiệu trƣởng, hiệu phó phụ trách đào tạo, các trƣởng, phó các phòng, khoa, tổ trƣởng

tổ bộ môn, GV trong việc quản lý mục tiêu, nội dung chƣơng trình đào tạo.

Xây dựng các quy chế, quy định nội bộ phù hợp với chủ trƣơng phân cấp, tăng

cƣờng tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm, cạnh tranh lành mạnh, tạo động lực mạnh

mẽ về vật chất và tinh thần cho các thành viên trong việc quản lý nội dung, chƣơng

trình đào tạo.

c) Điều kiện thực hiện

Nhà trƣờng tạo điều kiện cho các khoa, tổ chuyên môn và cá nhân chủ động làm

việc, sáng tạo, phát huy hết khả năng của mình trong quản lý, giảng dạy và NCKH.

3.3.2.2. Rà soát, điều chỉnh mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo theo định kỳ

a) Mục tiêu

Nhằm góp phần đƣa mục tiêu, nội dung chƣơng trình đào tạo tiếp cận đƣợc với

nhu cầu đòi hỏi của xã hội, đảm bảo cho ngƣời học đƣợc học tập kiến thức chuyên môn

hiện đại, đƣợc rèn luyện kỹ năng và trau dồi phẩm chất kỹ năng nghề nghiệp.

Đất nƣớc ta đang trong thời kỳ đổi mới, mở cửa với thế giới bên ngoài mà

yêu cầu hoà nhập với thế giới và khu vực là một thực tế khách quan. Trong bối cảnh

chung đó, chúng ta phải hƣớng công tác đào tạo múa nhằm đáp ứng đƣợc nhu cầu

đòi hỏi của xã hội phục vụ đắc lực cho sự nghiệp phát triển văn hoá của đất nƣớc ta

trong thời kỳ đổi mới, mở cửa.

Vì vậy chƣơng trình đào tạo cần phải có những thay đổi phù hợp với nhu cầu

xã hội. Mặt khác chƣơng trình trung học múa vẫn phải đảm bảo đƣợc thiết kế theo

hƣớng liên thông lên bậc cao đẳng. Đồng thời phải biên soạn giáo trình cho khoa

học và chuẩn bị những đạo cụ, nhạc cụ, trang thiết bị cần thiết cho dạy và học.

b) Nội dung

- Khảo sát và dự báo nhu cầu nhân lực của thị trƣờng lao động và xác định cơ cấu

ngành nghề đào tạo phù hợp nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển văn hoá.

- Xây dựng chƣơng trình phù hợp với nhu cầu thực tế

- Xây dựng quy trình quản lý mục tiêu, chƣơng trình đào tạo



81



- Xây dựng cơ chế giám sát và đánh giá lại hiệu quả chƣơng trình giáo dục theo

định kỳ. Việc đánh giá phải khách quan, khoa học, chính xác trên cơ sở nghiên cứu

sâu sắc, toàn diện nội dung chƣơng trình, giáo trình và từ thực tiễn giảng dạy của

giáo viên, học tập của HS.

- Xây dựng hệ thống giáo trình thống nhất, hoàn chỉnh.

Nội dung giáo trình cần đƣợc liên tục điều chỉnh, bổ sung những kiến thức cập nhật

thông qua hội đồng khoa học.

c) Các bƣớc thực hiện

- Thành lập Hội đồng rà soát, điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện mục tiêu, nội dung

chƣơng trình đào tạo.

- Lấy ý kiến của các khoa, tổ bộ môn.

- Nhà trƣờng tổ chức hội nghị chuyên đề, thảo luận và đánh giá các chƣơng trình

đào tạo. Trên cơ sở các ý kiến đóng góp, nhà trƣờng phát triển chƣơng trình mới

đồng thời bổ sung cho các chƣơng trình cũ.

- Lấy ý kiến đóng góp của các nhà tuyển dụng, HS đã tốt nghiệp về mục tiêu, nội

dung chƣơng trình đào tạo.

Nhận thức rõ vai trò của các đoàn nghệ thuật với việc nâng cao chất lƣợng

đào tạo, trƣờng CĐMVN đã mời đại diện các đoàn tham gia hội thảo về đào tạo

diễn viên múa. Nhiều nhà quản lý, các thày cô trực tiếp đứng lớp đã đóng góp ý

kiến, chia sẻ kinh nghiệm về thực tiễn dạy học, về đào tạo diễn viên múa. Trƣờng

đã nhận sự phối hợp chặt chẽ của các đoàn trong việc đƣa HS thực tập biểu diễn, tạo

điều kiện cho việc thực tập hành nghề.

Thông qua ý kiến đóng góp trƣờng có cơ sở khoa học và thực tế để điều

chỉnh cơ cấu các môn học trong chƣơng trình đào tạo nhằm ngày càng hoàn thiện

chƣơng trình đào tạo đáp ứng nhu cầu ngƣời học và nhu cầu xã hội.

- Đánh giá nghiệm thu của Hội đồng khoa học

3.3.3. Biện pháp 3: Tăng cường quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên

Hoạt động giảng dạy của đội ngũ giáo viên trong nhà trƣờng tuy đã đi vào nề

nếp song hiệu quả còn khá khiêm tốn do quản lý hoạt động này của nhà trƣờng còn

nhiều bất cập, chƣa phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay. Chất lƣợng dạy



82



học các môn vẫn còn bộc lộ rõ sự chênh lệch ngay cả các môn chuyên môn. Do vậy

tăng cƣờng quản lý hoạt giảng dạy của GV là vô cùng cấp thiết nhằm nâng cao chất

lƣợng giảng dạy của GV

3.3.3.1. Nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học cho cán bộ, giảng viên

a) Mục tiêu

Nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học cho cán bộ, giảng viên coi hoạt

động nghiên cứu khoa học là một chức năng cơ bản của nhà trƣờng nhằm đảm bảo

không ngừng nâng cao chất lƣợng đào tạo, phát huy mọi tiềm lực khoa học trong

nhà trƣờng.

b) Nội dung

- Nâng cao nhận thức cho ĐNCBGV làm cho toàn thể CBGV hiểu đúng và coi

trọng vai trò của nghiên cứu khoa học. Nhà trƣờng có chính sách phù hợp để

khuyến khích CBGV tham gia nghiên cứu khoa học.

- Bản thân ĐNGV cần tự giác về vị trí và vai trò của mình trong việc nâng cao chất

lƣợng đào tạo, gắn trách nhiệm của bản thân với sự phát triển chung của nhà trƣờng,

khắc phục những khiếm khuyết trong đó có việc thiếu tinh thần hợp tác, hỗ trợ nhau

của một bộ phận nhỏ CBGV.

- Nhà trƣờng xây dựng chính sách, cơ chế bắt buộc và khuyến khích bảo đảm chất

lƣợng và hiệu quả việc bồi dƣỡng, đào tạo lại chuyên môn cho ĐNGV tạo động lực để

GV thƣờng xuyên tự bồi dƣỡng kiến thức, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.

- Xây dựng các chƣơng trình nghiên cứu khoa học, khuyến khích sự tham gia của

cán bộ, tạo cơ hội cho tất cả cán bộ tham gia vào công tác nghiên cứu khoa học.

- Yêu cầu, bắt buộc đối với các cán bộ GV hàng năm phải có các sản phẩm cụ thể

công bố (bài báo, đề tài nghiên cứu khoa học cấp khoa…) đồng thời các cán bộ đầu

ngành cũng phải thông báo cụ thể các công việc của mình đã và sẽ tham gia bồi

dƣỡng cán bộ trẻ, xem đó nhƣ là trách nhiệm đối với đơn vị.

c) Các bƣớc thực hiện:

- Nhà trƣờng phát động phong trào NCKH trong ĐNGV

- Tập hợp các đề tài đã đăng ký, sàng lọc các đề tài đạt yêu cầu hay cần bổ sung.



83



- Hội đồng khoa học nhà trƣờng là nơi tiếp nhận, nghiệm thu và đánh giá các đề tài

NCKH và tổ chức kiểm tra hồ sơ.

d) Điều kiện thực hiện:

Để nâng cao chất lƣợng và hiệu quả của công tác nghiên cứu khoa học, nhà

trƣờng cần tăng cƣờng sự lãnh đạo, chỉ đạo các hoạt động nghiên cứu. Xác định

NCKH là một nhiệm vụ, là một bộ phận không thể tách rời của công tác đào tạo

diễn viên múa. Công tác này phải đƣợc đặt dƣới sự lãnh đạo trực tiếp và thƣờng

xuyên của cấp uỷ Đảng và BGH.

Muốn thực hiện tốt việc nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học và các hoạt

giảng dạy khác, nhà trƣờng cần đổi mới công tác đào tạo, bồi dƣỡng GV.

3.3.3.2. Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng giảng viên

a) Mục tiêu

Nhằm giúp GV nâng cao nghiệp vụ giảng dạy, thực hiện tốt các nhiệm vụ

trong nhà trƣờng đổi mới quản lý, nâng cao chất lƣợng giáo dục và đào tạo theo nhu

cầu xã hội. Trình độ của đội ngũ GV có ảnh hƣởng tới chất lƣợng giảng dạy cũng

nhƣ ảnh hƣởng đến sự phát triển lâu dài của nhà trƣờng. Vì vậy vấn đề đặt ra đối

với nhà trƣờng là cần phải hoạch định và triển khai chiến lƣợc đào tạo thích hợp để

đạt mục tiêu đề ra.

b) Nội dung

- Đổi mới nội dung công tác đào tạo, bồi dƣỡng

Để thực hiện mục tiêu này, nhà trƣờng cần áp dụng một số giải pháp sau:

+ Xác định con ngƣời là một trong những yếu tố hàng đầu quyết định sự

thành công trong việc nâng cao chất lƣợng giảng dạy. Do đó, việc quan tâm chỉ đạo

phổ cập tin học, ngoại ngữ, nghiệp vụ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ quản lý và

GV phải đƣợc thực hiện thƣờng xuyên nhằm từng bƣớc nâng cao số lƣợng và chất

lƣợng cho đội ngũ.

+ Nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý. Nhà trƣờng cần khuyến khích cán

bộ, nhân viên học tập, trang bị kiến thức VH - XH; đầu tƣ cơ sở vật chất để nâng

cao năng lực quản lý. Chú trọng bồi dƣỡng nguồn nhân lực, phát huy yếu tố con

ngƣời, tạo quan hệ gắn bó chặt chẽ, lâu dài giữa nhà trƣờng và nhân viên. Coi trọng



84



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (116 trang)

×