1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.63 MB, 122 trang )


Theo các thuyết quản lý hiện đại thì: “Quản lý là quá trình làm việc

với và thông qua những người khác để thực hiện các mục tiêu của tổ chức

trong một môi trường luôn biến động” [24, tr 8].

Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc, quản lý là sự

tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý)

đến khách thể quản lý (người bị quản lý) - trong một tổ chức - nhằm làm

cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức.

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo, hoạt động quản lý là hoạt động bao

gồm hai quá trình “Quản” và “Lý” tích hợp vào nhau; trong đó, “Quản” có

nghĩa là duy trì và ổn định hệ, “Lý” có nghĩa là đổi mới và phát triển hệ.

Theo tác giả Nguyễn Văn Lê - 1984, quản lý một cơ sở sản xuất

kinh doanh với tư cách là một hệ thống xã hội, là khoa học và nghệ thuật

tác động vào từng thành tố của hệ bằng các phương pháp thích hợp, nhằm

đạt các mục tiêu đề ra cho hệ và cho từng thành tố của hệ.

Tác giả Nguyễn Bá Sơn - 2000 định nghĩa: Quản lý là sự tác động có

hướng đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý bằng một hệ thống

các giải pháp nhằm thay đổi trạng thái của đối tượng quản lý, đưa hệ thống

tiếp cận mục tiêu cuối cùng, phục vụ lợi ích của con người.

Tác giả Nguyễn Minh Đạo - 1997 định nghĩa: Quản lý là sự tác động

chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động

của con người nhằm đạt tới mục đích đã đề ra.

Tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau, song có thể hiểu một cách

khái quát: “Quản lý là một quá trình tác động có định hướng, có chủ đích

của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý trong một tổ chức, nhằm làm cho

tổ chức vận hành và đạt được mục đích đã đề ra”.

1.1.1.2. Khái niệm quản lý giáo dục.

Các nhà lý luận về quản lý giáo dục Liên Xô (cũ) đã đưa ra một số



6



định nghĩa về khái niệm quản lý giáo dục, như M.M.Mechti Zađe đã nêu:

“Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp (tổ chức, phương pháp, cán

bộ, giáo dục, kế hoạch hóa, tài chính, cung tiêu) nhằm bảo đảm sự vận

hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, bảo đảm sự

tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như về

mặt chất lượng” [22, tr 34].

Ở Việt Nam, tác giả Nguyễn Ngọc Quang đã viết: “Quản lý giáo dục

(và nói riêng, quản lý trường học) là hệ thống những tác động có mục đích,

có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ giáo dục) nhằm làm cho

hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện

được các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là

quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự

kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [22, tr 35].

Các quan điểm trên tuy có những cách diễn đạt khác nhau, nhưng

đều toát lên bản chất của quản lý giáo dục: đó là sự tác động có tổ chức, có

định hướng, phù hợp với quy luật khách quan của chủ thể quản lý ở các cấp

lên đối tượng quản lý, nhằm đưa hoạt động giáo dục ở cơ sở và của toàn bộ

hệ thống giáo dục đạt tới mục tiêu đã định.

1.1.2. Quản lý nhà trường

Quản lý nhà trường là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập

hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo

dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao

chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường. Dạy học và giáo dục trong

sự thống nhất là hoạt động trung tâm của nhà trường. Vì vậy, nhà trường là

đối tượng cuối cùng và cơ bản nhất của quản lý giáo dục.

Có nhiều cấp quản lý trường học: Cấp cao nhất là Bộ Giáo dục và

Đào tạo, nơi quản lý nhà trường bằng các biện pháp vĩ mô. Có hai cấp



7



trung gian quản lý trường học là Sở Giáo dục và Đào tạo ở tỉnh và Phòng

Giáo dục ở các huyện. Cấp quản lý quan trọng trực tiếp của hoạt động giáo

dục là cơ quan quản lý trong các nhà trường.

Mục đích của quản lý nhà trường là đưa nhà trường từ trạng thái

đang có, tiến lên một trạng thái phát triển mới. Bằng phương thức xây dựng

và phát triển mạnh mẽ các nguồn lực giáo dục và hướng các nguồn lực đó

vào phục vụ cho việc tăng cường chất lượng giáo dục. Mục đích cuối cùng

của quản lý giáo dục là tổ chức quá trình giáo dục có hiệu quả để đào tạo

lớp thanh niên thông minh, sáng tạo, năng động, tự chủ, biết sống và phấn

đấu vì hạnh phúc của bản thân và của xã hội.

Công tác quản lý nhà trường bao gồm các nội dung sau đây:

+ Chỉ đạo tốt các hoạt động chuyên môn theo chương trình giáo dục

của Bộ, của nhà trường. Làm sao để chương trình được thực hiện nghiêm

túc và các phương pháp giáo dục luôn được cải tiến, chất lượng dạy và học

ngày một nâng cao. Trong quản lý giáo dục, điều quan trọng nhất là quản lý

chuyên môn, bao gồm quản lý chương trình, quản lý thời gian, quản lý chất

lượng. Biện pháp quản lý là theo dõi sát sao mọi công việc, kiểm tra kịp

thời, thanh tra để uốn nắn. Tổ chức tốt việc tự giám sát, tự kiểm tra của các

bộ phận, các tổ chuyên môn là biện pháp quản lý tốt và có hiệu qủa nhất.

+ Tổ chức đội ngũ các thầy giáo, cán bộ công nhân viên và tập thể học

sinh thực hiện tốt các nhiệm vụ trong chương trình công tác của nhà trường.

Động viên, giáo dục tập thể sư phạm trở thành một tập thể đoàn kết nhất trí,

gương mẫu và hợp tác tương trợ nhau làm việc. Giáo dục học sinh phấn đấu

học tập và tu dưỡng trở thành những công dân ưu tú. Quản lý con người là

việc làm phức tạp, nó bao gồm các nội dung về nhân sự, tư tưởng tinh thần,

chuyên môn, đào tạo bồi dưỡng, khen thưởng và đề bạt. Quản lý con người

là một khoa học và một nghệ thuật. Chính đội ngũ giáo viên có chất lượng



8



và phương pháp quản lý tốt sẽ làm nên mọi thành quả của giáo dục.

+ Quản lý tốt việc học tập của học sinh theo quy chế của Bộ Giáo

dục và Đào tạo. Quản lý học sinh bao hàm quản lý cả thời gian và chất

lượng học tập, quản lý tinh thần thái độ và phương pháp học tập. Quản lý

học sinh tốt là nội dung quản lý quan trọng.

+ Quản lý toàn bộ cơ sở vật chất và thiết bị nhà trường nhằm phục vụ

tốt nhất cho việc giảng dạy, học tập và giáo dục học sinh. Quản lý tốt cơ sở

vật chất nhà trường không đơn thuần chỉ là bảo quản tốt, mà phải phát huy

tốt năng lực của chúng cho dạy học và giáo dục, đồng thời còn làm sao để

có thể thường xuyên bổ sung thêm những thiết bị mới và có giá trị.

+ Quản lý tốt nguồn tài chính hiện có của nhà trường theo đúng

nguyên tắc quản lý tài chính của Nhà nước và của ngành Giáo dục. Đồng

thời biết động viên, thu hút các nguồn tài chính khác nhằm xây dựng cơ sở

vật chất, mua sắm thiết bị phục vụ các hoạt động giáo dục và dạy học.

+ Quản lý nhà trường cũng có ý nghĩa là chăm lo đến đời sống vật

chất và tinh thần của tập thể giáo viên, công nhân viên. Chỉ khi nào cuộc

sống vật chất của giáo viên được bảo đảm, tinh thần phấn khởi vươn lên,

lúc đó mới có thể nói quản lý tốt. Cần tạo thành một phong trào thi đua

phấn đấu liên tục trong nhà trường, thầy dạy tốt, trò học tốt, cả trường

hướng tới một chất lượng giáo dục tốt.

1.1.3. Dạy học

Dạy học là những hoạt động giao tiếp mang ý nghĩa xã hội bao gồm

hoạt động dạy và hoạt động học. Chủ thể của hoạt động dạy học là thầy

giáo, cô giáo và chủ thể của hoạt động học là học sinh, đó là hai hoạt động

khác nhau nhưng không phải là đối lập nhau, mà có sự thống nhất cao của

hai mặt để cùng hướng tới mục đích.

Hoạt động của thầy giáo, cô giáo là truyền thụ tri thức, tổ chức, điều



9



khiển, hướng dẫn, uốn nắn hoạt động chiếm lĩnh tri thức cho học sinh. Vai

trò của người thầy là người dẫn dắt, dẫn đường, là người đồng hành với học

sinh trên con đường chiếm lĩnh tri thức tạo nên sự gắn kết chặt chẽ giữa

người dạy và người học.

Hoạt động của học sinh là quá trình nhận thức, nó trở nên có ý nghĩa

và kết quả khi nó là tự giác, tích cực, nỗ lực hoạt động học không chỉ ở việc

nhắc lại, lặp lại bài học, hành vi mà hơn thế nó còn là sự tái tạo cho bản thân,

sáng tạo trong tư duy, biết sử dụng và điều khiển tri thức trong quá trình lĩnh

hội và chiếm lĩnh khoa học. Dạy và học là hai hoạt động của một quá trình

dạy học có mối quan hệ chặt chẽ thống nhất với nhau. Kết quả học tập của

học sinh không chỉ là kết quả của hoạt động học mà còn là kết quả của hoạt

động dạy. Không thể tách rời kết quả học tập của trò trong việc đánh giá kết

quả của thầy, bời vì: Nếu như, hoạt động dạy là việc tổ chức, điều khiển tối

ưu quá trình học sinh chiếm lĩnh tri thức, hình thành và phát triển nhân cách

thì trong hoạt động học, học sinh tiếp cận khái niệm khoa học, tự giác, tích

cực, tự lực chiếm lĩnh khoa học dưới sự điều khiển của thầy.

Nếu dạy học là hoạt động tổ chức điều khiển sự học tập của học sinh

giúp học sinh nắm vững kiến thức hình thành kỹ năng, hình thành nhân

cách, thì hoạt động học sẽ đạt ba mục đích trí dục (nắm vững tri thức), phát

triển (tư duy và năng lực hoạt động trí tuệ), giáo dục (hình thành thới giới

quan khoa học, nhân cách - phẩm chất và đạo đức)

Nếu như, hoạt động dạy là truyền đạt thông tin và điều khiển hoạt

động học, thì hoạt động học là lĩnh hội và tự điều khiển.

Nếu hoạt động dạy theo chương trình nội dung quy định thì hoạt động

học phải tuân thủ, thực thi theo toàn bộ hệ thống khái niệm của môn học; cấu

trúc lôgíc của môn học; các phương pháp đặc trưng của khoa học tạo nên

môn học; ngôn ngữ của khoa học; ứng dụng hiểu biết vào học tập lao động.



10



Nếu hoạt động dạy theo phương pháp định chế của nhà trường và sự

thích ứng sáng tạo của thầy giáo, cô giáo thì hoạt động học phải đồng thời có

phương pháp nhận thức, phương pháp chiếm lĩnh thành học vấn của bản

thân.

Dạy - học là hai hoạt động có sự thống nhất chặt chẽ, có mối quan hệ

hữu cơ giữa thầy và trò, giữa truyền thụ và lĩnh hội, giữa dạy - học và kết

quả dạy học hiện tại và hiệu quả trong tương lai.

Mục tiêu của dạy học gắn liền với mục đích môn học, bài học. Người

ta thường nói mục tiêu chung của dạy học là trang bị cho người học tri

thức, kỹ năng, thái độ và các giá trị. Mục đích chuyên biệt đưa ra yêu cầu

cụ thể cho hoạt động của giáo viên và học sinh với từng nội dung, từng chủ

để nhận thức. Đó là mục tiêu trực tiếp được tính toán xây dựng trên cơ sở

đặc điểm cụ thể của môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, mục đích dạy

học thường thông qua việc thực hiện mục tiêu của bài học, môn học.

1.1.4. Hoạt động dạy học

Hoạt động dạy học là một trong những hoạt động chủ đạo trong giao

tiếp sư phạm mang ý nghĩa xã hội. Hoạt động dạy học gồm hai hoạt động:

hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò, tiến hành các hoạt động

khác nhau nhưng không phải là những hoạt động đối lập nhau mà song song

tồn tại phát triển trong cùng một quá trình thống nhất cùng hướng tới một

mục đích. Hai hoạt động này gắn bó mật thiết với nhau, tồn tại cho nhau và

vì nhau. Hoạt động dạy của thầy là hoạt động truyền thụ tri thức, tổ chức, chỉ

đạo điều khiển, hướng dẫn hoạt động chiếm lĩnh tri thức của học sinh.

Hoạt động dạy học là sự tổ chức, điều khiển tối ưu quá trình học sinh

lĩnh hội tri thức, hình thành và phát triển nhân cách học sinh. Vai trò chủ

đạo của hoạt động dạy được biểu hiện với ý nghĩa là tổ chức và điều khiển

sự học tập của học sinh giúp cho học sinh nắm vững được kiến thức theo



11



nội dung kiến thức bài học, chương trình học tạo nên sự gắn kết chặt chẽ

giữa người dạy và người học.

Hoạt động học là quá trình tự điều khiển tối ưu sự chiếm lĩnh các khái

niệm khoa học, bằng cách đó hình thành cấu trúc tâm lý mới, phát triển nhân

cách toàn diện. Vai trò tự điều khiển hoạt động học thể hiện ở sự tự giác, tích

cực, tự lực và sáng tạo dưới sự điều khiển của thầy, nhằm chiếm lĩnh khái

niệm khoa học. Khi chiếm lĩnh được khái niệm khoa học bằng hoạt động tự

lực, sáng tạo có khả năng thích ứng với yêu cầu của xã hội.

1.1.5. Quản lý hoạt động dạy học

Quản lý hoạt động dạy học là quản lý một quá trình với tư cách là

một hệ toàn vẹn, bao gồm các thành tố cơ bản như: mục đích, nhiệm vụ,

nội dung dạy học, thầy với hoạt động dạy, trò với hoạt động học, các

phương pháp và phương tiện dạy học, các hình thức tổ chức dạy học, kiểm

tra đánh giá kết quả dạy học. Tất cả các thành tố này tồn tại trong mối quan

hệ qua lại và thống nhất với môi trường: môi trường xã hội - chính trị và

môi trường khoa học - kinh tế - công nghệ. Điều đó có nghĩa là chủ thể

quản lý phải tác động vào toàn bộ các thành tố hoạt động dạy học theo quy

luật tâm lý, giáo dục học, lý luận về quản lý để đưa hoạt động dạy học từ

trạng thái này sang trạng thái cao hơn để dần tiến tới mục tiêu giáo dục.

Hoạt động dạy học vận động và phát triển là do các nhân tố cấu

thành của nó vận động và tương tác với nhau nhằm đạt được mục tiêu của

hoạt động ấy, góp phần thực hiện mục đích giáo dục nói chung. Vì vậy,

quản lý hoạt động dạy học vừa phải làm sao cho mỗi nhân tố có được lực

tác động đủ mạnh, lại vừa đảm bảo sự vận động nhịp nhàng, hài hoà và

thống nhất của toàn bộ quá trình không được để nhân tố nào hoạt động yếu

làm ảnh hưởng tới sự phát triển chung của quá trình. Điều này đòi hỏi

người quản lý phải có nghệ thuật, vận dụng linh hoạt các biện pháp quản lý



12



mới đạt được mục tiêu đề ra.

Quản lý hoạt động dạy học là phải tổ chức thực hiện tốt các nhiệm

vụ cơ bản sau:

- Quản lý việc thực hiện mục tiêu;

- Quản lý hoạt động dạy học của giáo viên;

- Quản lý hoạt động học của học sinh;

- Quản lý việc thực hiện nội dung dạy học;

- Quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy học, tài chính;

- Tổ chức kiểm tra đánh giá kết quả dạy và học.

Ngoài ra trong quản lý hoạt động dạy học cần nắm vững và áp dụng

linh hoạt 4 chức năng quản lý:

- Chức năng kế hoạch hoá;

- Chức năng tổ chức;

- Chức năng lãnh đạo (chỉ đạo);

- Chức năng kiểm tra, đánh giá.

Theo quan điểm hệ thống trong quản lý hệ thống giáo dục là một hệ

thống mở, nó bao hàm nhiều thành tố và có sự tác động qua lại với nhau tạo

nên sự thay đổi của đối tượng. Bản chất của quản lý là sự phối hợp những

nỗ lực của nhiều người qua việc thực hiện các chức năng quản lý, các chức

năng quản lý được thực hiện một cách có hệ thống, khoa học sẽ trở thành

chu trình quản lý.

Chức năng quản lý giáo dục là một phạm trù quan trọng trong các

phạm trù cơ bản của khoa học quản lý, là những hoạt động bộ phận tạo

thành hoạt động quản lý đã được cụ thể và chuyên môn hoá. Các chức năng

quản lý chính là những hình thái biểu hiện sự tác động có chủ đích đến

những tập thể người trong các hoạt động. Chức năng quản lý là một loại

hình lao động chuyên biệt của chủ thể quản lý nhằm tác động lên khách thể



13



quản lý để đạt được mục tiêu quản lý nhất định. Cũng giống như bất kỳ

quá trình quản lý nào, cũng gồm bốn chức năng cơ bản nêu trên.

+ Chức năng kế hoạch hoá là quá trình xác định hệ thống mục tiêu và

quyết định các biện pháp tốt nhất, tối ưu nhất để đạt được mục tiêu đó. Đây

là chức năng cơ bản của quản lý và việc cụ thể hoá những mục tiêu chung

thành hoạt động thực tiễn, định ra các chỉ tiêu phấn đấu, đề ra phương

pháp, biện pháp điều kiện để thực hiện, vạch ra tiến trình, thời gian, địa

điểm hoàn thành công việc.

+ Chức năng tổ chức: là quá trình tiếp nhận và sắp xếp các nguồn lực

để thực hiện các mục tiêu.

+ Chức năng lãnh đạo (chỉ đạo): là quá trình tác động đến hành vi và

thái độ người khác nhằm đạt được các mục tiêu đề ra. Trong quá trình chỉ

đạo, sự tác động đến cá nhân trong nhóm người làm cho họ tích cực hăng

hái làm việc theo sự phân công và kế hoạch đã định. Chức năng chỉ đạo

còn bao hàm cả chỉ dẫn, động viên, thúc đẩy, giám sát người dưới quyền thi

hành nhiệm vụ được giao.

+ Chức năng kiểm tra đánh giá: là quá trình nỗ lực của Ban Giám

hiệu, đặc biệt là người Hiệu trưởng để thực hiện các nhiệm vụ đánh giá

thức trạng, phát hiện các sai, thiếu sót và đưa ra các quyết định một cách

đúng đắn, kịp thời nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra.

Với việc thực hiên tốt bốn chức năng trên, thì người lãnh đạo luôn

luôn phải theo sát những diễn biến của quá trình thực hiện và phải nắm bắt

được đầy đủ thông tin đặc biệt là thông tin phản hồi từ những người trực

tiếp thực hiện nhiệm vụ.

Sơ đồ 1.1. Các chức năng quản lý giáo dục

Kế hoạch hoá

Kiểm tra, đánh giá

14



Thông tin



Quản lý



Tổ chức



Chỉ đạo, lãnh đạo

1.2. Vị trí, nhiệm vụ và quyền hạn của trường THCS

1.2.1. Vị trí, nhiệm vụ và quyền hạn của trường THCS trong hệ thống

GDPT

1.2.1.1. Vị trí

Trường THCS là cơ sở giáo dục của bậc trung học, bậc học nối tiếp

bậc tiểu học của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm hoàn chỉnh học vấn phổ

thông. Trường THCS có tư cách pháp nhân và có con dấu riêng.

1.2.1.2. Nhiệm vụ và quyền hạn của trường THCS

(Ban hành kèm theo Quyết định số: 07/2007/QĐ-BGDĐT ngày

02/04/2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)

1. Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác của

chương trình giáo dục phổ thông.

2. Quản lý giáo viên, cán bộ, nhân viên; tham gia tuyển dụng và điều

động giáo viên, cán bộ, nhân viên.

3. Tuyển sinh và tiếp nhận học, vận động học sinh đến trường, quản

lý học sinh theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo

4. Thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục trong phạm vi cộng đồng.

5. Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực cho hoạt động giáo dục.

Phối hợp với gia đình học sinh, tổ chức và cá nhân trong hoạt động giáo dục.

6. Quản lý, sử dụng và bảo quản cơ sở vật chất, trang thiết bị theo

quy định của Nhà nước.

7. Tổ chức cho giáo viên, nhân viên và học sinh tham gia hoạt động

xã hội.



15



8. Tự đánh giá chất lượng giáo dục và chịu sự kiểm định chất lượng

giáo dục của cơ quan có thẩm quyền kiểm định chất lượng giáo dục.

9. Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp

luật.

Như vậy, nhiệm vụ thứ nhất của trường trung học đã xác định:

Trường trung học có nhiệm vụ tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động

giáo dục khác.

1.2.2. Hoạt động dạy học tại các trường THCS

Quá trình giáo dục học sinh nhằm hình thành nhân cách con người

phát triển toàn diện theo yêu cầu phát triển của đất nước là quá trình vận

dụng nhiều con đường và nhiều lực lượng giáo dục. Song song với quá

trình giáo dục trong các giờ lên lớp, còn diễn ra quá trình giáo dục ngoại

kháo, giáo dục ngoài giờ lên lớp nhằm giúp học sinh có được kiến thức

tổng hợp, sâu rộng, có hoài bão và lý tưởng trong cuộc sống, giúp học sinh

phát triển toàn diện hơn đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ công nghiệp

hoá, hiện đại hoá đất nước.

Hoạt động dạy học của giáo viên THCS là loại hình hoạt động chuyên

biệt, đặc thù khác với các nghề khác trong xã hội. Đó là hoạt động tổ chức quá

trình phát triển của học sinh. Hoạt động này là công việc đặc trưng của nghề

dạy học, một nghề chuyên biệt mà chỉ có những ai được đào tạo một cách

chuyên biệt ở trường sư phạm mới có thể hành nghề theo đúng nghĩa của nó.

Đội ngũ giáo viên Trung học Cơ sở là người truyền đạt lượng kiến

thức, tri thức của nền văn minh xã hội tới học sinh, tổ chức quá trình phát

triển, lĩnh hội, chiếm lĩnh tri thức của học sinh.

Người giáo viên Trung học Cơ sở phải là người có phẩm chất, tư

tưởng, quan điểm, lập trường chính trị vững vàng, có lòng yêu nước, yêu

CNXH, là một công dân tốt, giáo viên tốt, có đạo đức nghề nghiệp, luôn



16



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (122 trang)

×