1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.72 MB, 125 trang )


CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG

GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP

1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu HĐGDNGLL

Tìm hiểu lịch sử khoa học giáo dục nhân loại chúng ta thấy hoạt động

dạy - học được nghiên cứu một cách có hệ thống từ rất sớm nhưng để hình

thành và phát triển nhân cách của học sinh thì hoạt động giáo dục ngoài giờ

lên lớp (HĐGDNGLL) có vai trò rất quan trọng. Tuy nhiên vấn đề này chưa

được quan tâm nghiên cứu một cách có hệ thống và đầy đủ.

Rabơlen (1494- 1553) là một trong những đại biểu xuất sắc của chủ

nghĩa nhân đạo Pháp và tư tưởng giáo dục thời kỳ phục hưng. Ông đòi hỏi

giáo dục phải bao hàm nội dung “Trí dục, Đức dục, Thể dục và Mỹ dục” và

đã có sáng kiến tổ chức các hình thức giáo dục như việc học ở lớp và ở nhà,

ngoài ra còn có các buổi tham quan ở xưởng thợ, các cửa hàng, tiếp với các

nhà văn, các nghệ sỹ, đặc biệt là mỗi tháng một lần thầy, cô và trò về sống ở

nông thôn một ngày.

Đến thế kỷ XX, nhà giáo dục nổi tiến người Nga A.S. Makarenko vào

thập niên 20, 30 của thế kỷ trước đã nói về tầm quan trọng của công tác giáo

dục học sinh ngoài giờ lên lớp: “Tôi đã kiên trì nói rằng các vấn đề giáo dục,

phương pháp giáo dục không thể hạn chế trong các vấn đề giảng dạy, lại

càng không thể hạn để cho quá trình giáo dục chỉ thực hiện trên lớp học, mà

đáng ra phải là trên mỗi mét vuông của đất nước chúng ta...Nghĩa là trong

bất kỳ hoàn cảnh nào cũng không được quan niệm rằng công tác giáo dục chỉ

được tiến hành trong lớp học. Công tác giáo dục chỉ đạo toàn bộ hoạt động

của trẻ” [24, tr.63]. Trong thực tiễn công tác của mình, Makarenko đã tổ chức

các hoạt động ngoại khoá, câu lạc bộ cho học sinh ở trại M.Gorki và công xã

F.E.Dzerjinski như: "Tổ đồng ca, tổ văn học Nga, tổ khiêu vũ tự do, tổ thử

nghiệm khoa học tự nhiên, tổ Vật lý - Hoá học, tổ thể thao...Việc phân phối

5



các em học sinh vào các tổ ngoại khoá, câu lạc bộ được tổ chức trên cơ sở

hoàn toàn tự nguyện, các em có thể xin ra khỏi tổ bất cứ lúc nào, nhưng các

tổ phải có kỷ luật trong quá trình hoạt động" [24, tr. 173-174].

Cuốn sách “Giáo dục học” tập 3 của tác giả T.A.Ilina đã đề cập đến khái

niệm, nội dung và các hình thức cơ bản của HĐGDNGLL.

Cuốn sách “Tổ chức và lãnh đạo công tác giáo dục ở trường phổ thông”

tác giả I.X. Marienco đã trình bày sự thống nhất của công tác giáo dục trong

và ngoài trường học, nội dung và các hình thức tổ chức HĐGDNGLL, vị trí

của người Hiệu trưởng trong việc lãnh đạo hoạt động giáo dục và các tổ chức

Đoàn, Đội trong nhà trường...

Bộ trưởng Giáo dục Anh Rutl Kelly đã nhận xét “Các hoạt động giáo dục

ngoài giờ, nhất là hoạt động ngoại khoá đã làm giàu chương trình học, tạo dựng

niềm tin và củng cố kỹ năng cho học sinh”. [15] – Kelly outdoor learning.

Qua một số quan điểm, nhận định của các nhà Giáo dục trên thế giới ta

thấy HĐGDNGLL có tầm quan trọng đặc biệt trong quá trình giáo dục của

các nhà trường.

Ở Việt Nam nghiên cứu về HĐGDNGLL đã thu hút được nhiều nhà

nghiên cứu, các nhà giáo trong cả nước từ những năm 80 của thế kỷ trước trở

lại đây. Chúng ta có thể chia làm hai giai đoạn:

+ Giai đoạn trước cuộc cải cách giáo dục lần thứ ba (từ năm 1979 trở về

trước): Điểm nổi bật của giai đoạn này là khái niệm “HĐGDNGLL” chưa

được hình thành và chưa có tên gọi cụ thể như ngày nay. Tuy nhiên, nội hàm

cơ bản của khái niệm đã được Chủ Tịch Hồ Chí Minh đề cập trong “Thư gửi

cho học sinh nhân ngày khai trường” tháng 9 năm 1945, Bác viết "... nhưng

các em cũng nên ngoài giờ học ở trường, tham gia vào các Hội cứu quốc để

tập luyện thêm cho quen với đời sống chiến sỹ và để giúp đỡ một vài việc nhẹ

nhàng trong cuộc phòng thủ đất nước". Trong “Thư gửi Hội nghị các cán bộ

phụ trách nhi đồng toàn quốc”, Bác Hồ lại nhắc tới một khía cạnh khác của

nội hàm khái niệm này, Người viết: “Trong lúc học, cũng cần làm cho chúng

6



vui, trong lúc vui cũng cần làm cho chúng học. Ở trong nhà, trong trường,

trong xã hội chúng đều vui, đều học” [30, tr.101].

Điều lệ nhà trường phổ thông ban hành tháng 6 năm 1976 và ban hành

tháng 4 năm 1979, đã đề cập đến việc giảng dạy và giáo dục học sinh thông

qua giảng dạy trên lớp, lao động sản xuất và hoạt động tập thể. Các mặt đó

phải cùng tiến hành, bổ sung cho nhau theo một kế hoạch thống nhất. Hoạt

động tập thể của học sinh do nhà trường phối hợp với các tổ chức đoàn thể

trong nhà trường tổ chức. Hoạt động tập thể bao gồm: hoạt động văn hoá,

chính trị, xã hội, các hoạt động ngoại khoá về khoa học, kỹ thuật, văn nghệ,

thể thao của nhà trường và của địa phương. Điều lệ trường phổ thông ban

hành tháng 4 năm 1979 ghi rõ: “Hoạt động tập thể góp phần giáo dục ý thức

chính trị, khả năng học tập độc lập của học sinh, góp phần củng cố mở rộng

kiến thức và phát triển mọi năng khiếu của học sinh theo chương trình và kế

hoạch thống nhất. Công tác giáo dục ở trường phổ thông tiến hành thống nhất

theo đúng nội dung và trình tự quy định trong chương trình, kế hoạch đào tạo và

sách giáo khoa do Bộ ban hành và được thực hiện thông qua các hoạt động giáo

dục: học tập văn hoá, lao động sản xuất, thực nghiệm khoa học và các hoạt

động xã hội” và “Các hoạt động xã hội do nhà trường tổ chức cho học sinh tham

gia với mức độ thích hợp, là nhằm củng cố tri thức đã học được, bồi dưỡng tình

cảm với nhân dân lao động, xây dựng thái độ tích cực tham gia công tác xã hội,

góp phần xây dựng địa phương và rèn luyện học sinh về ý thức và năng lực làm

chủ tập thể, hình thành nhân sinh quan cách mạng.

Ngoài các vấn đề giáo dục trên đây, cần tổ chức thêm những hoạt động

ngoại khoá khác như thể dục thể thao, văn nghệ để công tác giáo dục được

thêm phong phú”.

+ Giai đoạn từ cuộc cải cách giáo dục lần thứ ba đến nay: Nghị quyết

TW14 ngày 11 tháng 1 năm 1979 của Bộ chính trị về cải cách giáo dục đã

khẳng định: “Nội dung giáo dục ở trường phổ thông trung học mang tính chất

toàn diện và kỹ thuật tổng hợp, nhưng có chú ý đến việc phát huy sở trường

7



và năng khiếu các nhân... cần coi trọng giáo dục thẩm mỹ, giáo dục và rèn

luyện thể chất, hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao và luyện tập

quân sự” [ 36, tr. 4-5].

Điều lệ trường Trung học phổ thông (Ban hành kèm theo Thông tư số:

12/2011/TT-BGDĐT ngày 28/3/2011của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo”

“ Điều 26. Các hoạt động giáo dục

1. Các hoạt động giáo dục bao gồm hoạt động trong giờ lên lớp và hoạt

động ngoài giờ lên lớp nhằm giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức,

trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân,

tính năng động và sáng tạo, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân;

chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động.

2. Hoạt động giáo dục trong giờ lên lớp được tiến hành thông qua việc

dạy học các môn học bắt buộc và tự chọn trong chương trình giáo dục của

cấp học do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.

3. Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp bao gồm các hoạt động ngoại khoá

về khoa học, văn học, nghệ thuật, thể dục thể thao, an toàn giao thông, phòng

chống tệ nạn xã hội, giáo dục giới tính, giáo dục pháp luật, giáo dục hướng

nghiệp, giáo dục kỹ năng sống nhằm phát triển toàn diện và bồi dưỡng năng

khiếu; các hoạt động vui chơi, tham quan, du lịch, giao lưu văn hoá, giáo dục

môi trường; hoạt động từ thiện và các hoạt động xã hội khác phù hợp với đặc

điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh.”

Để đáp ứng yêu cầu cải cách giáo dục, đã có nhiều nghiên cứu xung

quanh việc xác định khái niệm “HĐGDNGLL”, cũng như nghiên cứu nhằm

tổ chức có chất lượng HĐGDNGLL trong nhà trường. Có thể chia ra theo

các hướng:

* Hướng thứ nhất: là các nghiên cứu cơ bản, mang tính lý luận nhằm xác

định nội hàm của khái niệm “HĐGDNGLL”, xác định mục tiêu, vị trí, vai trò,

nhiệm vụ, nội dung, hình thức của HĐGDNGLL. Có các công trình nghiên

cứu sau:

8



- Từ năm 1979, Viện Khoa học giáo dục đã thực hiện đề tài dài hạn

nghiên cứu về “Các HĐGDNGLL và sự hình thành nhân cách của học sinh”

do Trung tâm nghiên cứu giáo dục đạo đức học sinh chủ trì. Đề tài đã được

triển khai thực nghiệm từ năm học 1979-1980 tại một số trường cấp 1, cấp 2,

cấp 3 ở Hà Nội, sau đó kết quả thực nghiệm đã được thể hiện ở một loạt bài

trên tạp chí nghiên cứu giáo dục và tạp chí Thông tin khoa học giáo dục của

một số nhà nghiên cứu như: Đặng Thuý Anh, Phạm Hoàng Gia, Lê Trung

Trấn, Phạm Lăng...

- Một số nghiên cứu thực nghiệm cải tiến nội dung, phương pháp tổ

chức nhằm nâng cao chất lượng HĐGDNGLL do một nhóm cán bộ nghiên

cứu của Viện khoa học giáo dục thực hiện như: Đặng Thuý Anh, Nguyễn

Quang Dục, Nguyễn Thị Kỷ, Nguyễn Thanh Bình...

- Một số lý luận nhằm xây dựng cơ sở lý luận về HĐGDNGLL, của một

số nhà khoa học như: Nguyễn Lê Đắc, Hoàng Mạnh Phú, Lê Trung Trấn,

Nguyễn Dục Quang, Hà Nhật Thăng...

- Một số cuốn sách viết về HĐGDNGLL trong thời gian đầu những năm

80 của thế kỷ trước của các tác giả như: Đặng Vũ Hoạt, Hà Nhật Thăng,

Nguyễn Hữu Hợp, Nguyễn Dục Quang, Nguyễn Đăng Thìn, Lê Thanh Sử,

Nguyễn Thị Kỷ...

* Hướng thứ hai: Một số bài viết về kinh nghiệm thực tiễn của các

trường phổ thông trong tổ chức HĐGDNGLL mà tác giả là các giáo viên,

CBQL ở các trường phổ thông.

Qua hệ thống các nghiên cứu nói trên, cho thấy các tác giả đi sâu vào

nghiên cứu cơ bản về HĐGDNGLL, nghiên cứu thực nghiệm, tổng kết kinh

nghiệm thực tiễn nhằm xây dựng quy trình tổ chức và đổi mới nội dung,

phương pháp HĐGDNGLL. Các nghiên cứu về quản lý HĐGDNGLL hầu

như chưa được thực hiện nhiều và ít hiệu quả.

Một số đề tài luận văn thạc sĩ về HĐGDNGLL cho một số cơ sở giáo

dục cụ thể cũng đã được nghiên cứu:

9



- Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động ngoài giờ lên

lớp ở trường THPT quận Ba Đình – TP Hà Nội của Nguyễn Thị Mỹ Công,

ĐH Vinh, 2010;

- Biện pháp quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp ở trường THCS quận

Hoàn Kiếm – TP Hà Nội của Đặng Chính Thao, Học viện Quản lý giáo

dục, 2012...

Tuy nhiên, đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu về quản lý hoạt

động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở Trường THPT Thanh Oai B.

1.2. Một số khái niệm cơ bản về quản lý và quản lý giáo dục

1.2.1. Quản lý

Các nhà Luật học nghiên cứu các quy luật quản lý nhà nước; các nhà Xã

hội học nghiên cứu về hoạt động quản lý mối quan hệ giữa các giai cấp, tầng

lớp xã hội, dân tộc, quốc gia; các nhà Kinh tế nghiên cứu về quản lý nền sản

xuất xã hội... Như vậy quản lý là một khái niệm rộng bao gồm nhiều lĩnh vực.

Chính vì vậy, khi đưa ra các khái niệm quản lý, các tác giả thường gắn với các

loại hình quản lý cụ thể hoặc phụ thuộc nhiều vào lĩnh vực hoạt động hay

nghiên cứu của mình.

Có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm quản lý, chúng tôi đưa

ra một vài khái niệm sau đây của một số nhà khoa học nghiên cứu chuyên sâu

về khoa học quản lý.

Frederick Winslow Taylor (1856-1915) là người sáng lập ra thuyết quản

lý theo khoa học. Theo ông thì: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn

muốn người khác làm, và sau đó hiểu được rằng đã hoàn thành công việc một

cách tốt nhất và rẻ nhất” [14, tr.89].

Henry Fayol (1845-1925), cha đẻ của thuyết quản lý hành chính, cho

rằng: “Quản lý hành chính là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức điều khiển,

phối hợp và kiểm tra” [14, tr.103]. Trong định nghĩa này, ông đã nêu ra được

năm chức năng cơ bản của quản lý.



10



Harold Koontz, được coi là người tiên phong của lý luận quản lý hiện

đại, viết: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ

lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Mục tiêu của mọi cá thể

đạt được mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn

của cá nhân ít nhất” [27, tr.29].

GS.TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc và TS Nguyễn Quốc Chí viết trong tài liệu

giảng dạy cho học viên cao học ngành Quản lý giáo dục: “Quản lý là quá trình

đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng)

kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra”, hoặc “Hoạt động quản

lý là tác động có định hướng, có mục đích của chủ thể quản lý (người quản lý)

đến khách thể quản lý (người bị quản lý) - trong một tổ chức - nhằm làm cho

tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” .

Theo GS Đặng Vũ Hoạt và GS Hà Thế Ngữ: “Quản lý là một quá trình định

hướng, quá trình có mục tiêu. Quản lý một hệ thống là một quá trình tác động đến

hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc trưng

cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn” [24, tr.15].

“Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập

thể những người lao động nhằm thực hiện được mục tiêu dự kiến”



[42, tr.8]



“Quản lý là một hệ thống tác động khoa học nghệ thuật vào từng thành

tố của hệ thống bằng phương pháp thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đề

ra của hệ thống và từng thành tố của hệ thống” [40, tr.18].

Từ những định nghĩa điển hình đã nêu trên có thể khái quát:

Quản lý một đơn vị (cơ sở giáo dục...) với tư cách là một hệ thống xã hội

là một khoa học, một nghệ thuật tác động vào hệ thống, vào từng thành phần

của hệ thống bằng các phương pháp thích hợp nhẳm đạt được các mục tiêu đề

ra trong quá trình hoạt động.

Quản lý bao giờ cũng hướng đích: có mục tiêu, có tổ chức, có các tác

động tương ứng, phù hợp nhằm hướng dẫn, điều khiển những đối tượng quản

lý để đạt tới những mục tiêu định sẵn.

11



Quản lý bao giờ cũng tồn tại với tư cách là một hệ thống, gồm: Chủ thể

quản lý; khách thể quản lý; cơ chế quản lý; mục tiêu chung.

Quản lý tạo ra mối quan hệ hữu cơ giữa chủ thể quản lý và khách thể

quản lý. Quản lý có phạm vi tác động lên khách thể rất rộng, do đó ngày nay

nó được xem là nhân tố quan trọng nhất trong năm nhân tố quyết định thành

công của quá trình phát triển kinh tế - xã hội (Vốn, nguồn lực lao động, khoa

học và kỹ thuật, tài nguyên và chất xám quản lý).

Như vậy, ta có thể hiểu quản lý một cách khái quát: quản lý là một quá

trình tác động có định hướng, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng

quản lý thông qua các cơ chế quản lý, nhằm sử dụng có hiệu quả cao nhất các

nguồn lực để hệ ổn định, phát triển đạt được mục đích đã đề ra.

1.2.2. Chức năng của quản lý

Chức năng quản lý gắn liền với sự xuất hiện và tiến bộ của phân công hợp tác lao động trong một quá trình sản xuất của một tập thể người lao động.

Chức năng quản lý là một dạng hoạt động quản lý, thông qua đó chủ thể

quản lý tác động vào khách thể quản lý nhằm thực hiện một mục tiêu nhất định.

Chức năng quản lý là tập hợp các nhiệm vụ khác nhau mà chủ thể quản

lý phải tiến hành trong quá trình quản lý. Chức năng có vị trí quan trọng trong

quá trình điều hành công việc.

Chức năng quản lý khác với chức năng của cơ quan quản lý, chức năng

của từng CBQL. Chức năng quản lý do khách thể quản lý qui định, là điểm

xuất phát để xác định chức năng của cơ quan quản lý và CBQL.

Trong hoạt động quản lý, người quản lý phải thực hiện một dãy các

chức năng quản lý, bởi mỗi chức năng quản lý có những nhiệm vụ cụ thể. Tất

cả các chức năng quản lý gắn bó qua lại và quy định lẫn nhau. Chúng phản

ánh lô-gíc bên trong của sự phát triển của hệ quản lý. Để thực hiện nhiệm vụ

của tổ chức, dù là nhiệm vụ trước mắt hay nhiệm vụ lâu dài, người quản lý

phải bắt đầu từ việc xác định cái đích cần đạt tới, từ đó từng bước thực hiện

nhiệm vụ của các chức năng quản lý. Từ việc xây dựng kế hoạch đến việc

kiểm tra đánh giá rút kinh nghiệm.

12



Các nhà nghiên cứu về quản lý đã đưa ra nhiều đề xuất về nội dung của

chức năng quản lý. Có rất nhiều ý kiến khác nhau, tuy nhiên có những quan

điểm chủ đạo sau đây:

* Theo F.W. Taylo và Henri Fayol thì quản lý có 5 chức năng cơ bản

sau đây:

1. Kế hoạch hoá; 2. Tổ chức thực hiện; 3. Ra lệnh (chỉ huy); 4. Phối

hợp; 5. Kiểm tra.

* Theo D.M. Kruk, quản lý cũng có 5 chức năng sau:

1. Kế hoạch hoá; 2. Tổ chức thực hiện; 3. Phối hợp; 4. Chỉ đạo; 5.

Kiểm tra.

* Theo tài liệu tập huấn CBQL giáo dục của UNESCO thì quản lý có 7

chức năng:

1. Kế hoạch hoá; 2. Tổ chức; 3. Bố trí biên chế; 4. Chỉ đạo; 5. Phối

hợp; 6. Tổng kết; 7. Quyết toán ngân sách.

Trong thời gian gần đây các nhà khoa học thu gọn lại còn 4 chức năng

cơ bản sau đây:

1. Kế hoạch hoá: Là quá trình xác định các mục tiêu, mục đích, thành

tựu tương lai của tổ chức. Quyết định những con đường, biện pháp, cách thức

tốt nhất để đạt được mục tiêu, mục đích đó.

2. Tổ chức: Khi người quản lý đã lập xong kế hoạch, họ cần phải

chuyển hoá những ý tưởng khá trừu tượng ấy thành hiện thực. Xét về mặt

chức năng quản lý, tổ chức là quá trình hình thành cấu trúc các quan hệ giữa

các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực

hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức. Quá

trình tổ chức sẽ lôi cuốn việc hình thành, xây dựng các bộ phận cùng các công

việc của chúng. Và sau đó là vấn đề nhân sự, cán bộ sẽ nối tiếp ngay sau khi

các chức năng kế hoạch hoá và tổ chức.

3. Chỉ đạo: Liên hệ, liên kết các thành viên trong tổ chức và động viên

họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức.

13



Việc chỉ đạo không chỉ bắt đầu sau khi lập kế hoạch và thiết kế bộ máy đã

hoàn tất, mà nó thấm vào, ảnh hưởng quyết định tới hai chức năng kia.

4. Kiểm tra, đánh giá: Kiểm tra, đánh giá là một chức năng của quản lý,

thông qua đó một cá nhân, một nhóm hoặc một tổ chức theo dõi giám sát các

thành quả hoạt động và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn cần

thiết. Một kết quả hoạt động phải phù hợp với chi phí bỏ ra, nếu không tương

ứng thì phải tiến hành những hành động điều chỉnh, uốn nắn.

1.2.3. Quản lý giáo dục

Các nhà lý luận về quản lý giáo dục Liên Xô trước đây đã đưa ra một

số định nghĩa về khái niệm quản lý giáo dục, như M. M Mechti Zade đã nêu:

“Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp (tổ chức, phương pháp, cán bộ,

kế hoạch hoá, tài chính...) nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ

quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ

thống cả về mặt số lượng cũng như về mặt chất lượng” [42, tr.34].

Ở Việt Nam, tác giả Nguyễn Ngọc Quang đã viết: “Quản lý giáo dục

(và nói riêng, quản lý trường học) là hệ thống những tác động có mục đích, có

kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ

vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các

tính chất của nhà trường Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là

quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến,

tiến lên trạng thái mới về chất” [42, tr.35].

Quản lý giáo dục có thể được hiểu một cách tổng quan là hoạt động

điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế

hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội.

Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có ý thức, hợp quy luật

của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống

nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo

dục, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng

cũng như chất lượng.

14



Một hệ thống giáo dục hoạt động có hiệu quả, hoàn thành nhiệm vụ mà

xã hội giao phó khi các tế bào trường học vận hành tốt, đạt được mục tiêu đề

ra. Thực chất của việc quản lý giáo dục là các ngành, các cấp từ trung ương

đến địa phương hoạch định cơ chế, chính sách, kế hoạch, chiến lược tạo điều

kiện thuận lợi để các hoạt động của nhà trường đạt được các mục tiêu đề ra.

Bản chất của việc quản lý hoạt động giáo dục tức là làm sao đưa hoạt động đó

từ trạng thái này sang trạng thái khác để tiến tới mục tiêu giáo dục.

1.2.4. Quản lý nhà trường

Trường học là tế bào chủ chốt trong hệ thống giáo dục. Công tác quản

lý nhà trường bao gồm quản lý các hoạt động diễn ra trong nhà trường và sự

tác động qua lại giữa nhà trường và các hoạt động ngoài xã hội. Quản lý nhà

trường như là quản lý một hệ thống bao gồm các thành tố:

+ Thành tố tinh thần: Mục đích giáo dục, nội dung giáo dục và các kế

hoạch, biện pháp giáo dục.

+ Thành tố con người: Cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh.

+ Thành tố vật chất: Cơ sở vật chất, tài chính, các trang thiết bị, phương

tiện phục vụ giảng dạy và học tập.

Vấn đề đặt ra trong quá trình quản lý nhà trường là vận hành để các

thành tố trên có sự gắn bó, hỗ trợ, điều phối, bổ sung cho nhau để đạt được

mục tiêu đề ra.

Theo M.I.Kôn-đa-cốp: “Không ai đòi hỏi một định nghĩa hoàn chỉnh,

chúng ta hiểu quản lý nhà trường (công việc nhà trường) là: Hệ thống xã hội sư phạm chuyên biệt. Hệ thống này đòi hỏi những tác động có ý thức, có khoa

học và có hướng của chủ thể quản lý lên tất cả các mặt của đời sống nhà

trường, để đảm bảo tối ưu xã hội - kinh tế và tổ chức sư phạm của quá trình

dạy học và giáo dục thế hệ đang lớn lên” [48].

Theo GS Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối

của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận

hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo

đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh” [22, tr. 9].

15



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (125 trang)

×