1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP Ở TRƯỜNG THPT THANH OAI B

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.72 MB, 125 trang )


CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC

NGOÀI GIỜ LÊN LỚP Ở TRƯỜNG THPT THANH OAI B

2.1. Vài nét về Trường THPT Thanh Oai B

Trường THPT Thanh Oai B được thành lập năm 1973. Khởi đầu có 5 lớp

với 248 học sinh. Trường nằm trên địa bàn dân cư số 2 của huyện cách Quận

Hà Đông của TP Hà Nội 12 km. Trường thu nhận học sinh của 12 xã phía Bắc

của huyện Thanh Oai.

Năm 1985 do tình hình phát triển kinh tế - xã hội của huyện, trường tách

ra một bộ phận giáo viên để thành lập trường THPT Trần Hưng Đạo.

Trường THPT Thanh Oai B nằm giữa hai xã Bình minh và Tam Hưng đã

được Chủ tịch nước phong tặng đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân

và đơn vị Anh hùng lao động trong thời kỳ đổi mới.

Dự báo quy mô phát triển của Trường THPT Thanh Oai B tới năm 2015

được cho ở bảng 2.1.

Bảng 2.1. Dự báo quy mô phát triển HS của Trường cho tới năm 2015

Năm



Số lớp



Số học sinh



2010- 2011



39



1750



2011- 2012



38



1710



2012- 2013



37



1640



2013- 2014



36



1570



2014 - 2015



36



1548



 Về đội ngũ giáo viên và cán bộ công chức của nhà trường:

- Tổng số giáo viên và CNVC: 98 người đều đạt trình độ đào tạo chuẩn

và trên chuẩn.

- Năm học 2011 - 2102 có 45 người đạt chiến sỹ thi đua, giáo viên giỏi

và lao động xuất sắc.

29



 Về cơ sở vật chất nhà trường:

- Trường có khuôn viên với diện tích trên 2,3 ha

- Có hệ thống phòng học thoáng mát, sân chơi rộng trên 6000 m2, có bãi

tập, đường chạy cho học sinh rèn luyện thể chất.

- Môi trường tự nhiên trong lành : Có vườn hoa cây cảnh, ao sen, hệ

thống cây xanh bóng mát quanh năm.

 Về bộ máy tổ chức của Nhà trường:

- Lãnh đạo Trường bao gồm: 1 Hiệu trưởng ; 3 Phó hiệu trưỏng.

- Trường có 8 tổ chuyên môn và 1 tổ hành chính, trong đó 3 tổ đạt danh

hiệu lao động giỏi được UBND Thành phố tặng bằng khen, 4 tổ đạt danh hiệu

lao động giỏi cấp cơ sở.

- Tổ chức cơ sở Đảng với 43 đảng viên. Có 28 năm liền đạt danh hiệu

“Tổ chức cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh” và nhiều năm đạt danh hiệu “Cơ

sở Đảng trong sạch vững mạnh tiêu biểu”.

- Tổ chức Công đoàn luôn đạt danh hiệu tiên tiến xuất sắc của ngành GD&ĐT.

- Tổ chức đoàn Thanh niên Cộng sản HCM có nhiều thành tích được

tặng cờ thi đua xuất sắc.

- Nhà trường được tặng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ.

 Thành tích nổi bật trong những năm gần đây:

- Trường luôn có truyền thống đoàn kết. Mỗi cán bộ đảng viên, giáo viên

đều nêu cao tinh thần trách nhiệm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

- Số giáo viên giỏi ngày càng nhiều.

- Số học sinh đỗ vào các trường đại học, cao đẳng thường đứng ở tốp cao

của các trường THPT trong Thành phố.

- Trường nhiều năm liền đạt danh hiệu tiên tiến xuất sắc của ngành GD-ĐT.

- Được tặng bằng khen của Bộ trưởng bộ GD & ĐT.

- Được tặng 3 bằng khen của Chính phủ.

- Đã được Chủ tịch nước tặng Huân chương lao động hạng ba, Huân

chương lao động hạng nhì.

30



 Kết quả học tập của học sinh: Năm học 2010-2011 và học kỳ I năm

học 2011-2012.

Bảng 2.2. Kết quả giáo dục đạo đức

Hạnh kiểm



Kém



Tốt



Khá



Trung bình



Yếu



(%)



(%)



(%)



(%)



Năm học 2010-20011



78,5



21,3



0,2



0.0



0.0



Kỳ I năm học 2011-2012



72.6



25.0



2.4



0.0



0.0



Tỷ lệ



( học sinh bị đình

chỉ học 1 năm)(%)



Bảng 2.3. Kết quả giáo dục văn hoá

Học lực

Tỷ lệ



Giỏi

(%)



Khá

(%)



Kém



Trung

bình

(%)



Yếu

(%)



(ở lại lớp và bị

đình chỉ học 1

năm) (%)



Năm học 2010-20011



16,4



70,7



12,7



0,2



Kỳ I năm học 2011-2012



15.8



60.9



21.4



1.9



0.0



(Nguồn lấy từ Ban thi đua trường THPT Thanh Oai B)

2.2. Thực trạng HĐGDNGLL ở các trường THPT huyện Thanh Oai và

Trường THPT Thanh Oai B

“Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện,

có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý

tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân

cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp

xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. (Luật Giáo dục, 2005).

Vì vậy, trong các nhà trường nói chung và các trường THPT nói riêng,

không chỉ quan tâm đến kế hoạch dạy học mà rất cần quan tâm đến kế hoạch

hoạt động giáo dục. Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp thực chất là một

phần rất cơ bản, quan trọng của kế hoạch giáo dục, vì nó tạo điều kiện thống

nhất giữa quá trình dạy học và quá trình giáo dục. Thông qua các

HĐGDNGLL tiềm năng của học sinh mới có cơ hội bộc lộ, phát triển phẩm

chất và năng lực của học sinh.

31



Hệ thống câu hỏi dạng test đã được chúng tôi sử dụng để khảo sát thực

trạng HĐGDNGLL và việc quản lý các HĐGDNGLL ở các trường THPT

huyện Thanh Oai. Chúng tôi đã xây dựng 05 mẫu phiếu điều tra và 01 mẫu

phiếu trưng cầu ý kiến (xem Phụ lục). Các phiếu khảo sát được thực hiện với

các đối tượng:

+ CBQL, bao gồm: Hiệu trưởng và Phó hiệu trưởng: 11 người.

+ Giáo viên, bao gồm: GVCN, các giáo viên bộ môn: 160 người

(GVCN có 104 người ).

+ Bí thư và Phó bí thư Đoàn trường là giáo viên: 06 người.

+ Học sinh ở cả 03 khối lớp: 810 học sinh thuộc 03 trường THPT. Ở

mỗi trường, chúng tôi lấy ý kiến 06 lớp đại diện cho 03 khối (mỗi khối 02

lớp): 10, 11 và 12; những lớp lấy ý kiến được đánh giá là những lớp bình

thường, để có thể đại diện cho số đông học sinh trong các nhà trường.

+ Phụ huynh học sinh: 105 phụ huynh là Hội trưởng Hội phụ huynh của

90 lớp – (3 trường: Thanh Oai A, Thanh Oai B, Nguyễn Du).

Chúng tôi tiến hành khảo sát tại 03 trường THPT của huyện Thanh Oai

trong năm 2011: Trường THPT Thanh Oai A, Trường THPT Thanh Oai B và

Trường THPT Nguyễn Du. Mẫu điều tra này tuy chưa lớn, nhưng chúng tôi

đã cố gắng sử dụng phương pháp chọn mẫu, nên cũng phản ánh một cách

tương đối đầy đủ tình hình quản lý HĐGDNGLL của các trường THPT ở

huyện Thanh Oai trong giai đoạn hiện nay.

Để tăng tính khách quan hơn khi đưa ra các nhận định, chúng tôi có kế

thừa các kết quả điều tra của các nghiên cứu trước đây. Ngoài ra, đã trực tiếp

gặp và phỏng vấn một số giáo viên đã và đang giảng dạy tại các trường THPT

của huyện Thanh Oai.

Để xử lý số liệu thu được chúng tôi dùng phương pháp thống kê toán

học, tính tỷ lệ % trên tổng số các đối tượng được khảo sát để so sánh giữa các

mức độ khác nhau.



32



2.2.1. Những yếu tố ảnh hưởng tới HĐGDNGLL

Qua kết quả khảo sát, chúng tôi nhận thấy có nhiều yếu tố ảnh hưởng

tới HĐGDNGLL. Trong đó có những yếu tố cơ bản sau:

2.2.1.1. Nhận thức của CBQL và giáo viên trong nhà trường, đặc biệt là nhận

thức của học sinh về hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

a) Nhận thức về vị trí, vai trò của HĐGDNGL:

Nhận thức rõ về vai trò, vị trí, nhiệm vụ của HĐGDNGLL là rất quan

trọng, đặc biệt là đối với người làm công tác quản lý giáo dục. Nếu người

quản lý nói riêng và giáo viên cũng như học sinh nói chung có nhận thức đầy

đủ, toàn diện về HĐGDNGLL chắc chắn hiệu quả giáo dục thu được là rất

cao, chúng tôi đã tiến hành thăm dò, khảo sát tại 03 trường THPT ở huyện

Thanh Oai, kết quả cho thấy:

Hầu hết các trường có nhận thức chưa đầy đủ về vai trò và tác dụng,

thậm chí còn thiếu chính xác về HĐGDNGLL. Một số còn cho rằng đó là

những hoạt động của nhà trường, của đoàn thanh niên như là một hoạt động

chuyên biệt và gần như giao toàn bộ trách nhiệm cho đoàn thanh niên, nếu có

phải hoạt động thì là hoạt động chung của toàn trường. Mặc dù hiện nay có

hẳn chương trình do Bộ GD&ĐT cung cấp để hoạt động theo chủ đề hàng

tháng, nhưng đa số giáo viên chưa quan tâm đúng mức. Họ vẫn cho

HĐGDNGLL là hàng thứ yếu, việc học văn hoá là quan trọng nhất, nhằm

phục vụ cho thi tốt nghiệp và thi vào các trường đại học, cao đẳng.

Kết quả điều tra về nhận thức của CBQL, giáo viên và học sinh về vị trí

và vai trò của HĐGDNGLL ở 3 nhà trường trên 3 đối tượng: CBQL, giáo

viên và học sinh như sau:



33



15,0%



9,3%











41,1%



34,6%



Giáo dục 41,1%

Đoàn thể 34,6%

Ngoại khoá 15%

vui chơi giải trí 9,3%



* Nhận thức của CBQL

HĐ Giáo dục 36%



14,5%

36,0%



16,3%



HĐ Đoàn thể 33,2%

HĐ Ngoại khoá 16,3 %



33,2%



HĐ vui chơi giải trí 14,5%



* Nhận thức của giáo viên



11,2%



23,6%



HĐ Giáo dục 23,6%

HĐ Đoàn thể 29,2%

HĐ Ngoại khoá 36%



36,0%

29,2%



HĐ vui chơi giải trí 11,2%



* Nhận thức của học sinh

Biểu đồ 2.1. Nhận thức của CBQL, giáo viên và học sinh về HĐGDNGLL

Qua các biểu đồ trên cho thấy:

* Đối với CBQL: 34.5% cho rằng đó là hoạt động đoàn thể, 24.3% cho

rằng đó là hoạt động vui chơi giải trí và hoạt động ngoại khoá, chính vì vậy

các hoạt động này lãnh đạo nhà trường giao cho đoàn thanh niên quản lý và tổ

chức, theo chương trình của đoàn cấp trên và một số hoạt động của nhà

34



trường. Tuy nhiên, hiện nay cũng có tới 41.1% CBQL cho rằng HĐGDNGLL

là hoạt động giáo dục học sinh.

Nhận thức của CBQL về vai trò của HĐGDNGLL còn chưa cao. Từ

chỗ nhận thức chưa đầy đủ như vậy nên dẫn tới việc đầu tư thời gian và vật

chất, cũng như các điều kiện khác của nhà trường cho HĐGDNGLL bị xem

nhẹ và còn rất hạn chế. Đa số CBQL chưa chú trọng tới hoạt động này, chủ

yếu công việc giao phó cho đoàn thanh niên chịu trách nhiệm.

* Đối với giáo viên: Chỉ có 36% giáo viên cho rằng HĐGDNGLL là

hoạt động giáo dục. Có tới 33.2% cho rằng đó là hoạt động của đoàn thể và

30.8% cho rằng đó là những hoạt động ngoại khoá, vui chơi giải trí (như: thi

văn nghệ, thể dục thể thao, tham quan du lịch...).

Tóm lại: Nhận thức của giáo viên và cả cán bộ quản lý về

HĐGDNGLL còn chưa cao. Nhiều giáo viên cho rằng đó là hoạt động của

đoàn thanh niên. Vì vậy GVCN lớp ít quan tâm đến việc thực hiện các chủ đề

hoạt động theo phân phối chương trình của Bộ GD&ĐT. Nếu phải làm họ

thường giao cho cán bộ lớp thực hiện nếu có gì cần hỏi hoặc tham vấn thì

GVCN thường chỉ đến cán bộ đoàn. Giáo viên bộ môn tiến hành dạy lồng

nghép các chủ đề vào bộ môn của mình một cách qua loa đại khái (như: dạy

hướng nghiệp, môn giáo dục công dân...).

* Đối với học sinh: Chỉ có 23.6% cho rằng HĐGDNGLL là hoạt động

giáo dục. Và có tới 76.4% cho rằng đó là những hoạt động của đoàn, hoạt

động ngoại khoá, hoạt động vui chơi giải trí.

Nguyên nhân: Các em chịu sự ảnh hưởng từ các thầy, cô nên đa số học

sinh còn rất mơ hồ về HĐGDNGLL. Hơn nữa tâm lý của học sinh và phụ

huynh cho rằng, nhiệm vụ chính của học sinh là phải học làm sao để đạt được

điểm số các môn văn hoá thật cao, thi đỗ tốt nghiệp và thi đỗ vào các trường

đại học, cao đẳng. Các em coi HĐGDNGLL là những hoạt động giải trí, thư

giãn làm bớt căng thẳng sau những giờ học trên lớp.



35



b) Nhận thức về nội dung của HĐGDNGLL:

Tìm hiểu nhận thức về nội dung là bao gồm những nội dung nào được

đưa vào HĐGDNGLL. Căn cứ nội dung HĐGDNGLL nêu trong điều 26 –

Điều lệ Trường trung học cơ sở, Trường trung học phổ thông và Trường phổ

thông có nhiều cấp học (Ban hành kèm theo Thông tư số: 12/2011/TTBGDĐT ngày 28/3 /2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo), chúng tôi

thấy, cơ bản CBQL và giáo viên có những ý kiến tương đối giống nhau. Còn

về phía học sinh, nhiều em chưa biết hoặc biết rất ít về nội dung của

HĐGDNGLL. Kết quả điều tra thu được như sau:

Bảng 2.4. Nhận thức về nội dung của HĐGDNGLL

Đối tượng điều tra

CBQL



Giáo viên



Học sinh



63,64



73,75



36,79



Tỷ lệ nắm rõ ND

HĐGDNGLL (%)



Qua bảng thống kê trên chúng tôi thấy rằng những nội dung về

HĐGDNGLL mà CBQL nắm được tương đối đầy đủ, tương đối thống nhất

với ý kiến của giáo viên. Tuy nhiên còn 4/11 CBQL chiếm 36.36% còn bàng

quan, thờ ơ không quan tâm tới HĐGDNGLL.

Đối với giáo viên có tới 42/160 người chiếm tỷ lệ 26.25% cũng không

trả lời được các câu hỏi về nội dung HĐGDNGLL và nhiều giáo viên chỉ trả

lời được rất ít nội dung.

Còn đối với học sinh thì rất ít em biết về nội dung HĐGDNGLL, có

512/810 em chiếm tỷ lệ 63.21% không biết gì về nội dung này, mặc dù ở cấp

trung học cơ sở các em cũng đã được tiếp cận với HĐGDNGLL.

Qua khảo sát CBQL, giáo viên và học sinh chúng tôi nhận thấy thực

trạng chung nhận thức về HĐGDNGLL ở các trường THPT huyện Thanh

Oai chưa thực sự đầy đủ. Việc nhận thức đúng vai trò, vị trí của HĐGDNGLL

là rất quan trọng. Nó quyết định tới chất lượng, hiệu quả giáo dục của nhà

trường. Nếu nhận thức đúng về tầm quan trọng của HĐGDNGLL thì chắc

36



chắn rằng CBQL sẽ xây dựng kế hoạch chi tiết và tổng thể để thực hiện hoạt

động này, đồng thời sẽ huy động mọi tiềm năng có được để phát huy tối đa

vai trò của HĐGDNGLL.

Thực tế cho thấy có nhiều lý do, lý do chủ quan (về phía CBQL, giáo viên

và học sinh) chưa quan tâm và cả lý do khách quan (nhà trường chưa có điều

kiện thực hiện hoặc các điều kiện bị hạn chế), nên HĐGDNGLL còn được thực

hiện rất ít, và thực hiện cũng chỉ là hình thức đơn điệu qua loa, sơ sài.

Cũng từ phía CBQL và giáo viên chưa coi trọng HĐGDNGLL, từ đó

làm cho học sinh cũng thiếu thông tin, hiểu biết về hoạt động này, do vậy các

em nghĩ đơn giản đó chỉ là những hoạt động vui chơi giải trí thông thường,

chứ không hiểu đó là những hoạt động phong phú, đa dạng và có tính giáo

dục cao giúp các em hoàn thiện nhân cách.

c) Nhận thức của giáo viên và phụ huynh học sinh về tác dụng của

HĐGDNGLL

Do điều kiện các trường THPT ở Thanh Oai là các trường ở vùng nông

thôn, nên việc nhận thức của cha mẹ các em đối với HĐGDNGLL còn rất hạn

chế, họ cho rằng đó là những hoạt động vui chơi, không phục vụ cho việc học

tập của các em. Do đó, đội ngũ giáo viên cũng bị ảnh hưởng rất lớn, và họ coi

nhẹ hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. Đội ngũ giáo viên cho rằng các em

học sinh ở nông thôn phải làm việc nhà, không có điều kiện để đầu tư thời

gian cho các hoạt động này.

Điều tra trên các đối tượng là giáo viên và phụ huynh HS về tác dụng của

HĐGDNGLL đối với việc giáo dục học sinh THPT thu được kết quả như sau:

Bảng 2.5. Quan niệm của GV và phụ huynh HS về tác dụng của

HĐGDNGLL đối với việc giáo dục học sinh THPT

Mức độ



Tốt



Bình thường



Ít tác dụng



Đối tượng khảo sát



( %)



( %)



( %)



Giáo viên



22,42



44,36



33,22



Phụ huynh HS



19,21



36,43



44,36



37



Có tới 33.22% GV cho rằng HĐGDNGLL là những hoạt động “Ít tác

dụng” đối với việc giáo dục học sinh THPT. Đặc biệt tỷ lệ cho rằng

HĐGDNGLL có tác dụng tốt đối với việc giáo dục học sinh THPT thấp hơn

so với cho rằng bình thường. Điều này chứng tỏ GV nhận thức về

HĐGDNGLL chưa đầy đủ.

Điều tra về tác dụng của HĐGDNGLL đối với việc giáo dục học sinh

THPT trên đối tượng là Phụ huynh học sinh thu được kết quả như sau:

Có tới 44.36% phụ huynh cho rằng HĐGDNGLL là những hoạt động

“Ít tác dụng” đối với việc giáo dục hoc sinh THPT. Đặc biệt tỷ lệ cho rằng

HĐGDNGLL có tác dụng tốt đối với việc giáo dục học sinh THPT thấp hơn

so với cho rằng bình thường. Điều này chứng tỏ phụ huynh nhận thức về tác

dụng giáo dục của HĐGDNGLL chưa đầy đủ.

Kết quả khảo sát quan điểm của GV và phụ huynh học sinh về tác dụng

của HĐGDNGLL đối với việc giáo dục học sinh THPT cho thấy cả hai đối

tượng: giáo viên và phụ huynh học sinh đều chưa có nhận thức đúng đắn về

tác dụng của HĐGDNGLL dẫn đến không có sự nhiệt tình ủng hộ

HĐGDNGLL của giáo viên và phụ huynh.

2.2.1.2. Yếu tố năng lực tổ chức của GV ảnh hưởng tới HĐGDNGLL:

Yếu tố năng lực tổ chức của GV có ảnh hưởng lớn đến việc tổ chức các

HĐGDNGLL trong nhà trường. Đối với đội ngũ giáo viên trẻ nhiệt tình

nhưng thiếu kinh nghiệm, đặc biệt là kinh nghiệm tổ chức HĐGDNGLL, còn

với giáo viên nhiều tuổi, nhiều kinh nghiệm thì ngại hoạt động, bởi những

hoạt động này mất nhiều thời gian và công sức.

Điều tra về năng lực tổ chức hoạt động tập thể của giáo viên khi triển

khai các HĐGDNGLL ở 3 nhà trường trên các đối tượng là CBQL và giáo

viên đã thu được kết quả như sau:



38



Bảng 2.6. Năng lực tổ chức của giáo viên trong các HĐGDNGLL

Năng lực tổ chức

Đối tượng khảo sát



Tốt

( %)



CBQL



4,31



Giáo viên



15,1



Trung bình Khó khăn



Khá

( %)



( %)



( %)



25,34



49,56



20,79



26,2



40,6



18,1



Đa số ý kiến cho rằng năng lực tổ chức HĐGDNGLL của giáo viên ở

các trường THPT trong huyện Thanh Oai đạt mức trung bình (49,56% do

CBQL đánh giá), chính điều này cũng đã ảnh hưởng không tốt đến kết quả

của HĐGDNGLL trong nhà trường.

2.2.1.3. Ảnh hưởng của yếu tố cơ sở vật chất, thiết bị và tài chính đến

HĐGDNGLL

Một trong những yếu tố quan trọng quyết định thành bại của

HĐGDNGLL đó là cơ sở vật chất, thiết bị, tài chính phục vụ cho hoạt động

này. Không có hoặc quá thiếu thốn cơ sở vật chất, thiết bị, tài chính phục vụ

cho HĐGDNGLL thì không thể thực hiện được hoạt động này.

Điều tra mức độ hiện có về cơ sở vật chất, thiết bị, tài chính dành cho

HĐGDNGLL ở 3 nhà trường trên các đối tượng là CBQL và GV đã thu được

kết quả như sau:

Bảng 2.7. Yếu tố cơ sở vật chất, thiết bị, tài chính dành cho HĐGDNGLL

Mức độ hiện có

Đối tượng khảo sát

CBQL

Giáo viên



Rất

thuận lợi

( %)

6,1



Thuận

lợi

( %)

11,6



Bình

thường

( %)

16,5



Khó

khăn

( %)

48,2



Rất

khó khăn

( %)

17,6



5,2



6,8



12,5



52,7



22,8



Cả CBQL và giáo viên đều cho rằng điều kiện cơ sở vật chất, tài chính

dành cho HĐGNGLL còn khó khăn và rất khó khăn, ảnh hưởng không tốt đến việc

tổ chức HĐGDNGLL. Cơ sở vật chất, điều kiện tài chính còn rất nhiều khó khăn

do các trường THPT ở huyện Thanh Oai đóng trên địa bàn nông thôn. Không có

39



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (125 trang)

×