1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC CÁC MÔN KHOA HỌC MÁC – LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.63 MB, 122 trang )


Trong những năm gần đây, rất nhiều nhà khoa học đã thông qua các

tạp chí khoa học để lên tiếng luận bàn về thực trạng cũng như đóng góp

các ý kiến nhằm nâng cao chất lượng công tác giảng dạy, học tập các môn

học này. Trong số này đáng chú ý có các bài viết sau:

Tiến sĩ Lê Hữu Ái (Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Đà Nẵng ) – Giải

pháp nâng cao chất lượng giảng dạy các môn khoa học Mác-Lênin ở các

trường đại học - Tạp chí Nghiên cứu lý luận số 1 năm 2000.

Tiến sĩ Nguyễn Văn Nam và cử nhân Lê Xuân Hoà (Phân viện Đà Nẵng)Trao đổi về phương pháp giảng dạy lý luận Mác-Lênin-Tạp chí giáo dục lý

luận số 10 năm 2000.

Tiến sĩ Nguyễn Tuấn Hùng (Đại học Đà Nẵng) –Góp phần đổi mới giảng

dạy các môn khoa học Mác-Lênin – Tạp chí giáo dục số 8,tháng 7 năm 2000.

Tác giả Vũ Thanh Bình (Vụ Công tác Chính trị – Bộ Giáo dục và Đào tạo )

với bài viết: Nâng cao chất lượng dạy- học các môn khoa học Mác-Lênin, Tư

tưởng Hồ Chí Minh, Chính trị trong các trường đại học, cao đẳng, trung học

chuyên nghiệp và dạy nghề. Bài đăng trên Tạp chí giáo dục số 62, tháng 7

năm 2003.

Các công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục, quản lý đào tạo đã khái

quát những luận điểm cơ bản về quản lý hoạt động đào tạo trong các trường

cao đẳng, đại học làm cơ sở cho việc thực hiện công tác quản lý quá trình này

một cách có hiệu quả. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình nào

nghiên cứu một cách có hệ thống và tương đối toàn diện về vấn đề quản lý

hoạt động dạy học các môn khoa học Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh

trong các trường cao đẳng và đại học.

1.2. Những khái niệm cơ bản

1.2.1. Quản lý

Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, trải qua nhiều giai đoạn,

con người đều cần phải hoạt động lao động để tồn tại và phát triển. Để công

việc có hiệu quả hơn, năng suất hơn đòi hỏi con người phải có sự phân công,

7



hợp tác trong lao động và phải có sự chỉ huy phối hợp, điều hành, kiểm tra,

chỉnh lý, giúp người đứng đầu nỗ lực các thành viên trong nhóm, trong cộng

đồng, trong tổ chức đạt được mục tiêu đề ra. Hoạt động lao động đặc biệt đó

được gọi là hoạt động quản lý.

Khi nghiên cứu về lý luận quản lý, các nhà nghiên cứu cũng như thực

hành quản lý, với những cách tiếp cận khác nhau đã đưa ra rất nhiều quan

niệm về quản lý: Chẳng hạn đối với lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin đã lý giải

một cách đầy đủ và phản ánh chính xác những nét đặc trưng cơ bản của hoạt

động quản lý. Theo lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, quản lý xã hội một

cách khoa học “là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đối với toàn bộ

hay những hệ thống khác nhau của hệ thống xã hội, trên cơ sở vận dụng đúng

đắn những quy luật và xu hướng khách quan vốn có của nó nhằm đảm bảo

cho nó hoạt động và phát triển tối ưu theo mục đích đặt ra”. Còn đối với

W.Taylor, người đầu tiên nghiên cứu quá trình lao động trong từng bộ phận

của nó, nêu ra hệ thống tổ chức lao động nhằm khai thác tối đa thời gian lao

động, sử dụng hợp lý nhất công cụ lao động thì cho rằng: “Quản lý là nghệ

thuật biết rõ chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương

pháp tốt nhất và rẻ nhất”.

Nhà lý luận quản lý kinh tế người Pháp A.Fayon, cho rằng “Quản lý là

đưa xí nghiệp tới đích, cố gắng sử dụng tốt các nguồn lực của nó”.

Nhà điều khiển học như Berg A.I lại cho rằng: “Quản lý là quá trình

chuyển một hệ động lực phức tạp từ trạng thái này sang trạng thái khác nhờ

tác động vào các phần tử biến thiên của nó ”.

Khi nói về vai trò quản lý trong xã hội, Kozlova O.V và Kuznetsov I.N

định nghĩa “Quản lý là sự tác động có mục đích đến những tập thể con người

để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình sản xuất” [34,tr 39].

Trong tác phẩm “Những vấn đề cốt yếu của quản lý” của Harold Koonl

thì quản lý được hiểu “là một hoạt động thiết yếu, nó bảo đảm phối hợp

những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm” [5,tr 33].

8



Với cách tiếp cận ấy, tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “Quản lý là

tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những

người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện được những

mục tiêu dự kiến” [29,tr 24].

Theo giáo trình “Tâm lý học trong quản lý Nhà nước” (1993) của tác giả

Mai Hữu Khuê thì hoạt động quản lý là một dạng lao động đặc biệt của người

lãnh đạo mang tính tổng hợp các loại lao động trí óc, liên kết bộ máy quản lý

là một chỉnh thể thống nhất, điều hoà phối hợp các khâu các cấp quản lý hoạt

động nhịp nhàng đạt hiệu quả cao.

Như vậy, bất cứ hệ xã hội nào: Một xí nghiệp, một nhà máy, một trường

học, một Quốc gia, đều là hệ quản lý. Một hệ quản lý luôn tồn tại hai bộ phận

có quan hệ gắn bó khăng khít với nhau.

Bộ phận quản lý: giữ vai trò là chủ thể quản lý với chức năng điều khiển

hệ quản lý làm cho nó vận hành tới mục tiêu đã đặt ra.

Bộ phận bị quản lý: Giữ vai trò là khách thể quản lý, bao gồm những

người thừa hành trực tiếp sản xuất và bản thân quá trình sản xuất.

Có thể chỉ ra những nét đặc trưng cơ bản của công tác quản lý hệ thống

xã hội:

- Quản lý là một loại hình hoạt động đặc biệt, một quá trình tác động qua

lại giữa người và người.

- Quản lý vừa là một khoa học vừa là một nghệ thuật huy động và sử dụng

các nguồn lực.

- Quản lý nhằm tập hợp mọi người, mọi cấp tạo ra sự hợp tác giữa các

cá nhân và toàn xã hội trong việc tổ chức thực hiện kế hoạch và mục tiêu

đã đề ra.

Như vậy, chúng ta có thể hiểu: quản lý là một quá trình tác động có

định hướng của chủ thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả các tiềm năng, các

cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của



9



môi trường. Khái quát những phân tích trên chúng tôi xây dựng mô hình quản

lý như hình 1.1.



10



Chủ thể

quản lý



Đối tượng

quản lý



Mục tiêu

quản lý



Hình 1.1: Mô hình quản lý

Quản lý là một dạng lao động đặc biệt, là kết quả của sự phân công lao

động xã hội, luôn gắn liền với quá trình lao động tập thể. Lao động quản lý

có sự phân chia thành một hệ thống các khâu hay dạng hoạt động xác định

nhờ đó mà chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý. Các hoạt động

này thường được chuyên môn hoá và gọi là chức năng quản lý.

Vậy, chức năng quản lý có thể hiểu là một dạng hoạt động quản lý,

thông qua đó chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý nhằm thực hiện

một mục tiêu nhất định.

Nền sản xuất xã hội luôn luôn vận động và phát triển, nên có các

chức năng quản lý cũng không ngừng biến đổi, cải tiến và hợp lý hoá.

Tập hợp các chức năng quản lý là nội dung của quản lý với tư cách là

một quá trình. Khi xác định các chức năng quản lý có nhiều ý kiến khác

nhau, tuy nhiên được thống nhất với 4 chức năng cơ bản:

* Lập kế hoạch: Xác định mục tiêu, biện pháp, cách làm cụ thể, xác định

điều kiện cần thiết để thực hiện mục tiêu.

* Chức năng tổ chức: Sắp xếp bố trí con người vào công việc, xác định

tính chất các mối quan hệ, xác định cách thức thực hiện.

* Chức năng chỉ đạo: Chức năng này có tính chất tác nghiệp, điều hành,

điều chỉnh hoạt động.



11



* Chức năng kiểm tra: Thu thập những thông tin ngược từ đối tượng quản

lý để kịp thời đánh giá tổng kết, sửa chữa, điều chỉnh mục tiêu.

Tập hợp các chức năng quản lý là nội dung của quản lý với tư cách là một

quá trình. Đáng chú ý là mọi quá trình quản lý, người quản lý phải thực hiện

một dãy chức năng quản lý kế tiếp nhau một cách logic, bắt buộc, bắt đầu từ

việc xác định mục tiêu và nhiệm vụ quản lý cho tới khi kiểm kê các kết quả

đạt được và tổng kết quá trình quản lý. Kết quả đạt có thể tương ứng hoặc

chưa tương ứng với dự kiến (mục tiêu). Trên cơ sở phân tích các kết quả và

thông tin thu thập về đối tượng quản lý, người cán bộ quản lý lại nêu ra các

mục tiêu và nhiệm vụ quản lý mới. Các quá trình được tiếp diễn một cách

“tuần hoàn”. Quá trình chủ thể quản lý thực hiện tổ hợp các chức năng quản

lý kế tiếp nhau diễn ra theo một thời gian một cách logic có thể gọi là chu

trình quản lý. Tuy nhiên các chức năng kế tiếp nhau và độc lập với nhau chỉ

là tương đối bởi một số chức năng có thể diễn ra đồng thời, hoặc kết hợp với

việc thực hiện các chức năng khác nhau.

Ngoài ra còn có vai trò của thông tin trong quá trình quản lý. Thông tin

chiếm vị trí rất quan trọng, nó là phương tiện không thể thiếu được, có thể coi

thông tin là một chức năng đặc biệt và là chức năng trung tâm.

Căn cứ vào bốn chức năng được phân tích trên đây chúng tôi biểu diễn

mối quan hệ chặt chẽ giữa các chức năng quản lý và vai trò của thông tin

trong chu trình quản lý bằng sơ đồ như hình 1.2 dưới đây:

KẾ HOẠCH



CHỈ ĐẠO



THÔNG TIN



TỔ CHỨC



KIỂM TRA



Hình 1.2: Mối quan hệ các chức năng trong chu trình quản lý

12



1.2.2. Quản lý giáo dục

Khi nghiên cứu bất kỳ một loại hình quản lý nào cũng phải đặt nó trong

những hoàn cảnh xã hội cụ thể. Quản lý có hai chức năng đó là chức năng

chung và chức năng đặc thù. Chức năng chung có mặt ở tất cả các trường hợp

quản lý, còn chức năng đặc thù gắn chặt với loại hình quản lý cụ thể. Quản lý

giáo dục là một bộ phận của quản lý xã hội và là một loại hình quản lý đặc

biệt phong phú, không ngoài những quy luật chung đó. Với xã hội chủ nghĩa,

quản lý giáo dục cũng mang ý nghĩa đặc thù, ưu việt.

Có những cách nhìn nhận giáo dục ở những góc độ khác nhau nên tồn

tại những khái niệm giáo dục có nội hàm rộng hẹp khác nhau. Tuy nhiên,

việc nghiên cứu khái niệm quản lý giáo dục ở đây được đề cập trong phạm vi

quản lý một hệ thống giáo dục nói chung mà tế bào của hệ thống đó chính là

các cơ sở giáo dục đào tạo (trường học). Có thể hiểu một cách tổng quát:

Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến khách thể

quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục tới kết quả mong muốn.

Trong tác phẩm “Quản lý giáo dục quốc dân ở địa bàn huyện, quận”

P.V.Khuđôminxki đã viết: “Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế

hoạch, có ý thức, có mục đích của các chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau

đến tất cả các khâu của hệ thống (từ Bộ đến trường) nhằm mục đích đảm bảo

việc giáo dục cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, đảm bảo sự phát triển toàn

diện và hài hoà của họ trên cơ sở nhận thức và sử dụng các quy luật chung

vốn có của chủ nghĩa xã hội cũng như các quy luật khách quan của quá trình

dạy học và giáo dục, của sự phát triển thể chất và tâm lý của trẻ em”.[30, tr 50]

M.I.Kondakov cũng đã từng viết trong cuốn: “Cơ sở lý luận của khoa

học quản lý giáo dục”. Quản lý nhà trường (công việc nhà trường) là hệ

thống xã hội sư phạm chuyên biệt, hệ thống đòi hỏi những tác động có ý

thức, có khoa học và có hướng của chủ thể quản lý trên tất cả các mặt của đời



13



sống nhà trường để đảm bảo sự vận hành tối ưu của xã hội kinh tế và tổ chức

sư phạm của quá trình dạy học đang lớn lên”.[36, tr 94]

Theo giáo sư Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống tác

động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm

cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng thực hiện

được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm

hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ đưa hệ giáo dục đến mục tiêu

dự kiến tiến lên trạng thái mới về chất”.[10,tr 12]

Như vậy, từ các nhà nghiên cứu ở trên, theo chúng tôi khi nói quản lý

giáo dục bao gồm những vấn đề sau: Quản lý giáo dục là một bộ phận của

quản lý xã hội và là một loại hình quản lý đặc biệt phong phú, quản lý giáo

dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức, có mục đích của các chủ

thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm mục

đích đưa hoạt động giáo dục tới kết quả mong muốn.

1.2.3. Quản lý nhà trường

Nhà trường là tổ chức giáo dục được coi là đơn vị cơ sở với tư cách pháp

nhân, đặt dưới quyền một Hiệu trưởng nhằm đảm bảo giáo dục người học và

những hoạt động của họ và những thành viên khác. Luật Giáo dục quy định:

“Nhà trường trong hệ thống giáo dục Quốc dân được thành lập theo quy

hoạch, kế hoạch của Nhà nước, nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục và được

tổ chức theo loại hình trường công lập, trường bán công, trường tư thục…”[6,tr 6]

Quản lý nhà trường là: “Thực hiện quản lý giáo dục trong tổ chức nhà

trường. Hoạt động quản lý nhà trường do chủ thể quản lý nhà trường thực hiện

bao gồm các hoạt động quản lý bên trong nhà trường như : Quản lý giáo viên,

quản lý học sinh, quản lý quá trình dạy học, giáo dục, quản lý cơ sở vật chất,

trang thiết bị trường học, quản lý tài chính trường học, quản lý lớp học như:

nhiệm vụ của giáo viên, quan hệ giữa nhà trường và cộng đồng xã hội”[7,tr 12]



14



“Hoạt động quản lý nhà trường chịu tác động của những chủ thể quản

lý bên trên nhà trường (các cơ quan quản lý giáo dục cấp trên) nhằm hướng

dẫn và tạo điều kiện cho nhà trường phát triển”.[7,tr 12]



1.2.4. Quản lý dạy học

* Hoạt động dạy học:

Tiếp cận theo quan điểm hoạt động – nhân cách, hoạt động dạy học

gồm hai hoạt động: hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò.

- Hoạt động dạy: Hoạt động dạy với vai trò chủ đạo của thầy là sự tổ

chức, điều khiển tối ưu quá trình truyền thụ hệ thống tri thức, rèn luyện kỹ

năng, kỹ xảo cho hoạt động học tập của học sinh một cách có khoa học. Hoạt

động dạy do thầy làm chủ thể và tác động vào đối tượng là học sinh và hoạt

động nhận thức của học sinh. Hoạt động dạy gồm hai chức năng thống nhất

với nhau là truyền thụ và điều khiển.

- Hoạt động học: Hoạt động học với vai trò chủ động của trò là sự tự

điều khiển tối ưu quá trình tiếp thu (lĩnh hội) một cách tự giác, tích cực, độc

lập và sáng tạo hệ thống tri thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo mà hoạt động dạy

đã truyền thụ nhằm hình thành năng lực, thái độ, giá trị làm phát triển nhân

cách cho học sinh. Hoạt động học do học sinh làm chủ thể và tác động vào

đối tượng là nội dung kiến thức mới chứa đựng trong tài liệu học tập. Hoạt

động học gồm hai chức năng thống nhất với nhau là lĩnh hội và tự điều khiển.

Hai hoạt động này có mối quan hệ biện chứng với nhau, luôn gắn bó

mật thiết trong nhau. Trong thực tế, hai hoạt động dạy – học luôn tồn tại như

là một hoạt động chung thống nhất.

Quản lý dạy học là hệ thống các tác động có mục đích của chủ thể quản lý

quá trình dạy học, và quản lý đơn vị nhằm hoàn thành được các mục tiêu đào

tạo của đơn vị đã đặt ra.

Đối tượng của quản lý dạy học là quá trình dạy học. Quản lý dạy học là

một hệ thống bao gồm nhiều yếu tố cùng vận động trong các mối quan hệ qua

15



lại mật thiết với nhau. Như vậy “đối tượng của quản lý dạy học là trong nhà

trường, là sự hoạt động của người dạy và người học và các tổ chức sư phạm

trong nhà trường trong việc thực hiện các kế hoạch và chương trình đào tạo

nhằm đạt được mục tiêu đào tạo đã quy định”.

Mục tiêu của quản lý dạy học là đảm bảo thực hiện đầy đủ các mục tiêu,

kế hoạch dạy học và nội dung chương trình dạy học theo đúng tiến độ thời

gian quy định, bảo đảm cho quá trình đạt chất lượng cao.

1.2.5. Chất lượng

Cho đến ngày nay thì vấn đề chất lượng càng được coi trọng và trở thành

mối quan tâm hàng đầu của các nhà sản xuất và cung cấp dịch vụ nếu họ

muốn tồn tại và phát triển. Đảm bảo chất lượng là vấn đề sống còn của mỗi

doanh nghiệp. Chất lượng được duy trì ổn định mới có thể tạo lòng tin trong

khách hàng, và doanh nghiệp mới có thể tiêu thụ sản phẩm của mình.

Mặc dù ai cũng nhận thức được chất lượng là vấn đề có tầm quan trọng

lớn, và người ta thường xuyên sử dụng thuật ngữ “chất lượng” khi cần phải

đưa ra lời nhận xét, đánh giá về một loại sản phẩm nào đó, nhưng bản thân

chất lượng là một khái niệm động nhiều chiều, mỗi người lại hiểu chất lượng

theo cách riêng của mình, cho nên đến nay vẫn chưa có một định nghĩa hoàn

chỉnh, chưa có cách xác định thống nhất về chất lượng. Và thực ra, khó có thể

đưa một dịnh nghĩa hoàn chỉnh, một quan niệm chính xác về chất lượng.

Dưới đây chúng tôi xin giới thiệu một vài cách tiếp cận khác nhau về khái

niệm chất lượng:

Theo khái niệm truyền thống về chất lượng “một sản phẩm có chất lượng

là sản phẩm được làm ra một cách hoàn thiện, bằng các vật liệu quý hiếm và

đắt tiền” [18,tr 6]. Thuật ngữ “chất lượng” theo cách nghĩ này mang ý nghĩa

tuyệt đối. Và nếu lấy những sản phẩm có chất lượng tuyệt đối này làm khuôn

mẫu thì sẽ rất khó đánh giá, khó xếp hạng cho sản phẩm khác, bởi sản phẩm

có chất lượng tuyệt đối cũng đồng nghĩa là sản phẩm đó đạt được những

chuẩn mực rất cao không thể vượt qua. Quan niệm này cũng như phân định

16



rõ hai màu đen trắng, nếu không đạt chất lượng tuyệt đối cũng có nghĩa là

không có chất lượng. Trên thực tế, chúng ta sẽ sử dụng chất lượng với nhiều

tầng bậc nhiều lớp.

Quan niệm chất lượng theo nghĩa tương đối “sản phẩm hoặc dịch vụ

được coi là có chất lượng khi chúng đạt những chuẩn mực nhất định được

quy định trước. Chất lượng không được coi là cái đích mà nó được coi là

phương tiện, theo đó sản phẩm hoặc dịch vụ được đánh giá” [25, tr 33]

Theo quan niệm này, chất lượng được phân thành các thang bậc từ

thấp đến cao với một hệ những chuẩn mực đã được quy định. Sản phẩm nào

đã thoả mãn được càng nhiều những chuẩn mực ấy thì sản phẩm đó càng

được xếp ở nấc thang cao hơn của chất lượng, và theo đó, giá trị của sản

phẩm cũng cao tương ứng.

Quan niệm “chất lượng là sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng” [25, tr

34] thực chất là việc nhìn nhận vấn đề chất lượng từ góc độ của người sử

dụng sản phẩm hoặc dịch vụ. Quan niệm này căn cứ vào yêu cầu, mong

muốn của người sử dụng đối với sản phẩm hoặc dịch vụ để đánh giá chất

lượng, vì vậy mà nó mang tính động, biến thiên theo thời gian và yêu cầu

thực tiễn của người sử dụng trong thời điểm cụ thể, theo tổng mục đích sử

dụng nhất định. Cho nên người quyết định sản phẩm hoặc dịch vụ có chất

lượng hoặc không đạt chất lượng ở mức nào chính là khách hàng, tại thời

điểm sản xuất ra sản phẩm hoặc dịch vụ, có thể theo người sản xuất thì sản

phẩm đã đáp ứng đầy đủ những tiêu chuẩn để đánh giá là sản phẩm có chất

lượng, nhưng thực tế sản phẩm không phù hợp với yêu cầu của người sử

dụng thì vẫn bị coi là sản phẩm không có chất lượng. Có nghĩa là cách đánh

giá, xác định chất lượng sản phẩm này chịu tác động nhiều của nhân tố chủ

quan.

“Chất lượng là sự phù hợp với mục đích” [18,tr 7] là quan niệm được

nhiều người tán đồng hơn cả. Theo đó, “chất lượng được đánh giá bởi mức

độ mà sản phẩm hoặc dịch vụ đáp ứng được mục đích đã tuyên bố của nó”

17



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (122 trang)

×