1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Chương 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC CÁC MÔN KHOA HỌC MÁC- LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TẠI VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.63 MB, 122 trang )


Theo Điều lệ trường đại học, mục tiêu Giáo dục đại học quy định: mục

tiêu Giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện có đạo đức,

tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập

dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất

và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ

quốc.

Đổi mới Giáo dục đại học theo Nghị quyết số 14/2005/ NQ-CP của Chính

phủ về “ Đổi mới Giáo dục Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020”.

Quyết định số 494/QĐ-TTg ngày 24/6/2002 của Thủ tướng Chính phủ

về: “một số biện pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả giảng dạy, học tập các

môn khoa học Mác- Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường đại học,

cao đẳng; môn Chính trị trong các trường trung học chuyên nghiệp và dạy

nghề” đã xác định các định hướng cho công tác quản lý hoạt động dạy học

các môn khoa học Mác- Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh tại Viện Đại học Mở

Hà Nội. Cụ thể như sau:

- Tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho

sinh viên.

- Tiếp tục thực hiện việc đổi mới mục tiêu phương pháp giảng dạy nhằm

nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, đào tạo. Đẩy mạnh việc rà soát lại

chương trình nội dung mục tiêu học tập, đào tạo.

- Phấn đấu có đủ giáo trình, tài liệu phục vụ cho giảng dạy- học tập.

Thực hiện nghiêm túc quy chế tuyển sinh, quy chế kiểm tra, xét lên lớp và

công nhận tốt nghiệp. Xây dựng kế hoạch tuyển dụng đội ngũ giảng viên lý

luận đủ về số lượng và đảm bảo về chất lượng. Có kế hoạch đào tạo bồi

dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ giảng viên này.

- Lãnh đạo Viện Đại học Mở Hà Nội, cán bộ giảng viên phải được quán

triệt sâu sắc về vị trí vai trò của các môn khoa học Mác- Lênin, Tư tưởng Hồ

Chí Minh, nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của môn học đối với quá trình

đào tạo, tu dưỡng rèn luyện đạo đức. Phải làm cho người học nhận thức rõ:

70



những nguyên lý, phạm trù, quy luật của khoa học Mác-Lênin góp phần đắc

lực xây dựng thế giới quan, nhân sinh quan, phương pháp luận khoa học cho

sinh viên. Nó là cơ sở giúp cho sinh viên tiếp thu tốt kiến thức chuyên môn

thuộc lĩnh vực của chương trình đào tạo.

- Đối với sinh viên phải xác định được động cơ học tập các môn MácLênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh một cách đúng đắn, khắc phục tình trạng coi

các môn khoa học Mác- Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh là môn học phụ,

không phục vụ cho chuyên môn nên có tư tưởng học đối phó cốt để trả bài thi,

do đó không chịu tìm tòi trong quá trình học tập. Nguyên nhân trước hết là do

nhận thức của sinh viên chưa đúng về vị trí và tầm quan trọng của môn học

này. Bên cạnh đó, trong xã hội lại tồn tại nếp nghĩ coi nhẹ giáo dục lý luận

chính trị, đạo đức, lối sống…Vấn đề này đòi hỏi trước hết và trực tiếp là các

giảng viên giảng dạy bộ môn Mác- Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh phải có

những giải pháp tích cực cải tiến phương pháp giảng dạy để giúp sinh viên

nhận thức đúng về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của môn học trong hoạt động

thực tiễn.

3.1.2. Mục tiêu phát triển của Viện Đại học Mở Hà Nội

* Mục tiêu chung

“Tận dụng mọi thời cơ, thuận lợi khắc phục khó khăn, vượt qua thử

thách, phát huy sức mạnh của toàn trường để hoàn thành nhiệm vụ đào tạo và

nghiên cứu khoa học có chất lượng hiệu quả. Tập trung bồi dưỡng đội ngũ

giảng viên và cán bộ quản lý. Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật.

Giữ vững nề nếp, kỷ cương, xây dựng môi trường văn hoá. Xây dựng Đảng bộ

trong sạch vững mạnh, trường tiên tiến xuất sắc, các tổ chức quần chúng vững

mạnh. Chăm lo đời sống cho cán bộ, công chức và học sinh, sinh viên”

*Mục tiêu cụ thể

+ Thực hiện nghiêm túc quy chế 25 và các quy định trong đào tạo. Đặc biệt

chú ý công tác tuyển sinh, công tác giảng dạy, thi, kiểm tra và xét lên lớp, tốt

nghiệp.

71



+ Tăng cường bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý đủ số

lượng, đồng bộ về chuyên ngành, đảm bảo chất lượng. Tổ chức học tập và

nâng cao trình độ ngoại ngữ, tin học cho cán bộ, giảng viên.

+ Từng bước hoàn thành giáo trình cho các môn khoa học cơ bản và các

chuyên ngành. Tiếp tục đổi mới mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học.

Duy trì hội giảng, hội thi sinh viên giỏi một cách thiết thực và hiệu quả.

+ Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học trong đội ngũ giảng viên và sinh

viên. Mở rộng quan hệ hợp tác với các trường trong lĩnh vực đào tạo và

nghiên cứu khoa học.

+ Tăng cường công tác Đảng và công tác chính trị trong Viện. Chấp hành

nghiêm Quyết định của Thủ tướng chính phủ về một số biện pháp nâng cao

chất lượng và hiệu quả giảng dạy học tập các môn khoa học Mác- Lênin, Tư

tưởng Hồ Chí Minh. Chú trọng giáo dục tư tưởng chính trị, nhân cách đạo

đức, lối sống, đặc biệt về giao tiếp ứng xử cho sinh viên.

+ Tiếp tục chấn chỉnh, giữ vững nề nếp, kỷ cương và đổi mới lề lối tác

phong làm việc, đặc biệt đổi mới công tác quản lý điều hành, nâng cao năng

lực cán bộ quản lý. Thực hiện tốt quy chế dân chủ trong Viện, tăng cường

công tác thanh tra, kiểm tra, chống mọi tiêu cực và thương mại hoá.

3.2. Các biện pháp quản lý hoạt động dạy học các môn khoa học MácLênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh

3.2.1. Nhóm biện pháp chú trọng xây dựng đội ngũ giảng viên

Đội ngũ giảng viên là nhân tố quyết định hàng đầu trong sự nghiệp giáo

dục và đào tạo.

Trong quá trình dạy học các môn khoa học Mác- Lênin, Tư tưởng Hồ Chí

Minh, đội ngũ giảng viên các môn học này là người trực tiếp truyền thụ cho

sinh viên nội dung các môn học về chủ nghĩa Mác- Lênin, Tư tưởng Hồ Chí

Minh. Chất lượng dạy và học các môn Mác- Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh,

xét cho cùng phụ thuộc phần lớn vào đội ngũ giảng viên.



72



Nhưng thực tế hiện nay đội ngũ giảng viên lý luận của Viện còn thiếu về

số lượng, hạn chế về chất lượng. Nguyên nhân là do trong những năm gần đây

quy mô đào tạo của Viện được mở rộng tăng về số lượng và chất lượng đầu

vào. Việc giảng dạy theo chương trình với đầy đủ các môn khoa học MácLênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh nên Viện thiếu đội ngũ giảng viên chuyên sâu

về từng môn học. Bên cạnh đó việc cử giảng viên đi bồi dưỡng, đào tạo nâng

cao chuyên môn nghiệp vụ để đáp ứng yêu cầu giảng dạy, nên số lượng giảng

viên đã thiếu lại càng thiếu.

Để có đội ngũ giảng viên các môn khoa học Mác- Lênin, Tư tưởng Hồ

Chí Minh, trong giai đoạn tới Viện Đại học Mở Hà Nội cần thực hiện các biện

pháp sau:

- Xác định cụ thể số lượng giảng viên các môn khoa học Mác-Lênin, Tư

tưởng Hồ Chí Minh theo định mức sinh viên/ giảng viên để có kế hoạch tuyển

chọn.

- Thu hút các giảng viên các môn khoa học Mác- Lênin, Tư tưởng Hồ Chí

Minh ở các trường khác có nhu cầu và có năng lực về công tác tại trường.

- Khuyến khích các giảng viên nghỉ hưu tham gia giảng dạy theo chế độ

hợp đồng để có thời gian đào tạo, bồi dưỡng các giảng viên kế cận.

Bên cạnh nhóm biện pháp nhằm đảm bảo số lượng đội ngũ giảng viên

các môn khoa học Mác- Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, cần đặc biệt chú trọng

nhóm biện pháp chất lượng của đội ngũ này.

Chất lượng đội ngũ giảng viên giảng dạy các môn khoa học Mác- Lênin,

Tư tưởng Hồ Chí Minh trong những năm gần đây đã được nâng cao một bước

về trình độ chuyên môn, song vẫn còn có những bất cập: tỷ lệ giảng viên có

trình độ thạc sĩ còn quá ít, bên cạnh đó lại được đào tạo các nguồn khác nhau

như ở Phân viện Báo chí tuyên truyền, trường Nguyễn Ái Quốc, trường Đại

học Sư phạm Hà Nội…Số giảng viên này có trình độ về chuyên môn nhưng

chưa vững vàng về phương pháp giảng dạy, soạn giảng. Từ thực trạng đó đòi

hỏi Viện cần phải có biện pháp cụ thể nhằm đảm bảo chất lượng đội ngũ

73



giảng viên các môn khoa học Mác- Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhóm

biện pháp này bao gồm:

- Lập kế hoạch tuyển chọn giảng viên có chất lượng và đào tạo, bồi dưỡng

đội ngũ giảng viên trẻ theo các hình thức khác nhau như đào tạo tập trung,

đào tạo, bồi dưỡng tại chỗ…

- Đưa giảng viên trẻ tham gia các hoạt động thực tế, các công tác xã hội,

đoàn thể để giúp cho họ bổ sung vốn sống, hiểu biết xã hội thêm phong phú.

- Tạo điều kiện để giảng viên trẻ rèn luyện, phấn đấu vươn lên để được

đứng trong hàng ngũ của Đảng Cộng sản Việt Nam. Bởi lẽ người giảng viên

bộ môn khoa học Mác- Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh là người trực tiếp

truyền thụ cho sinh viên những tri thức khoa học về chủ nghĩa Mác-Lênin

đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nuớc ta. Do đó nếu họ là đảng viên sẽ

có nhiều điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận với chủ trương đường lối

chính sách của Đảng và Nhà nước vận dụng vào trong bài giảng một cách

thực tế sinh động.

3.2.2. Nhóm biện pháp tăng cường quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên

3.2.2.1. Quản lý đổi mới mục tiêu, nội dung chương trình các môn khoa học

Mác- Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh

* Quản lý đổi mới mục tiêu dạy học

Đổi mới mục tiêu không phải là thay đổi mục tiêu mà là làm cho mục tiêu

ấy được thực hiện có hiệu quả bằng những quan niệm đúng đắn, với những

hình thức, bước đi và biện pháp thích hợp. Để quản lý mục tiêu dạy học các

môn khoa học Mác- Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh phải căn cứ vào đối tượng

sinh viên để cụ thể hoá các mục tiêu dạy học.

+ Với đối tượng người học là sinh viên, việc học tập các môn khoa học

Mác- Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh chưa phải là yêu cầu tự thân, do đó phải

làm cho sinh viên nhận thức được chủ nghĩa Mác-Lênin trước hết là một khoa

học – khoa học chính trị và vì thế phải nghiên cứu, tìm hiểu, tiếp thu nó với tư

cách là một môn khoa học.

74



Mặt khác, do sinh viên mới tiếp xúc với lý luận, vốn sống thực tiễn còn

hạn chế, giảng viên nên tìm cách đơn giản hoá những vấn đề lý luận trừu

tượng, phức tạp bằng những ví dụ minh hoạ có liên quan hoặc gần gũi với

thực tế cuộc sống hàng ngày, với nghề nghiệp sau này của sinh viên để họ dễ

tiếp thu, dễ hiểu và dễ nhớ. Điều quan trọng không phải là nêu lên một hay

một loạt sự kiện mà quan trọng là phải chuẩn bị những lý lẽ, cơ sở, số liệu để

làm sáng tỏ sự kiện ấy, góp phần lý giải cuộc sống.

+ Với học viên tại chức – những người đã qua thực tế công tác và tích luỹ

được nhiều kinh nghiệm thực tiễn – họ có nhu cầu rất khác nhau nhưng cũng

rất cụ thể khi học các môn khoa học Mác- Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh. Cho

nên công tác tìm hiểu đối tượng người học, nhu cầu của họ để có hướng

chuẩn bị bài giảng, đáp ứng nhu cầu qua nội dung bài giảng là điều hết sức

quan trọng. Thông qua sự liên hệ thực tiễn công tác của họ, giảng viên có thể

giúp họ khái quát lại thành vấn đề lý luận, từ đó lại tiếp tục đưa ra yêu cầu

vận dụng vào thực tiễn công tác của họ. Để đạt được điều này, khi chuẩn bị

bài giảng, giảng viên phải chọn tư liệu thực tế một cách cẩn thận, chọn tư liệu

xuất phát từ mục đích, nhiệm vụ của bài giảng, nhu cầu, đặc điểm của người học.

* Quản lý đổi mới nội dung, chương trình dạy học

Nội dung quyết định phương pháp - đổi mới nội dung môn học cũng có

nghĩa là phải lựa chọn phương pháp giảng dạy cho phù hợp với nội dung đó.

Cho nên việc đổi mới phải bắt đầu từ đổi mới nội dung môn học.

Các môn khoa học Mác- Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh là những môn

học lý luận, trang bị phương pháp luận, tạo cơ sở, nền tảng cho sự sáng tạo

những tri thức mới. Tri thức lý luận không tự nhiên mà có. Lý luận trước hết

và chủ yếu là kết quả của sự khái quát thực tiễn, trên cơ sở tổng kết kinh

nghiệm. Nhưng lý luận cũng không thành một cách tự phát từ kinh nghiệm và

không thể mọi kinh nghiệm đều có thể khái quát thành lý luận, đều là điểm

xuất phát trực tiếp của lý luận. Chỉ những kinh nghiệm nào lặp đi lặp lại đem

lại sự hiểu biết sâu sắc về bản chất, về chính quy của các sự vật, hiện tượng

75



khách quan mới dần được khái quát hoá để trở thành lý luận. Cho nên về cơ

bản, lý luận phải mang tính khái quát và trừu tượng, đóng vai trò “kim chỉ

nam”, soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo thực tiễn. Cũng do tính gián tiếp, tính trừu

tượng cao trong sự phản ánh hiện thực mà lý luận có thể xa rời thực tiễn. Việc

nắm tri thức lý luận nếu chỉ dừng lại ở những nguyên lý cũng trừu tượng thì

rất dễ rơi vào giáo điều, chỉ hiểu lý luận một cách chung chung, mơ hồ, không

nắm được bản chất. Vì vậy giảng dạy chủ nghĩa Mác- Lênin, Tư tưởng Hồ

Chí Minh không đơn giản là truyền đạt tốt nội dung, những nguyên lý, quy

luật là đủ, mà điều quan trọng hơn là phải đứng vững trên lập trường giai cấp

công nhân, kiên quyết đấu tranh chống lại các quan điểm, tư tưởng thù địch

nhằm xuyên tạc chủ nghĩa Mác- Lênin, phá vỡ nền tảng tư tưởng của Đảng

cộng sản, là phải gắn lý luận với thực tiễn, giải đáp được những vấn đề đặt ra

từ thực tiễn. Điều đó cũng có nghĩa là đổi mới nội dung môn học phải bắt đầu

từ việc gắn lý luận từ thực tiễn sinh động của công cuộc xây dựng chủ nghĩa

xã hội, của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Để có thể thực hiện được yêu cầu này đòi hỏi sự phối hợp của một loạt

những biện pháp khác nhau như sau:

+ Chuẩn bị bài giảng của giảng viên:

Yêu cầu việc giảng dạy các môn khoa học Mác- Lênin, Tư tưởng Hồ Chí

Minh là thông qua bài giảng, giảng viên phải giúp sinh viên hiểu vấn đề một

cách sâu sắc, có hệ thống và nhất là phải có niềm tin vào vấn đề đã được

giảng viên trình bày. Công tác chuẩn bị bài giảng của giảng viên có ý nghĩa

quan trọng việc thực hiện yêu cầu này. “Mỗi bài giảng phải là một công trình

khoa học quy mô vừa hoặc nhỏ, nhưng phải đảm bảo tính nghiêm túc, được

soạn thảo một cách công phu, có chất lượng thực sự”. Đây cũng là điểm mấu

chốt phân biệt sự khác biệt về chất lượng giữa bài giảng của giảng viên đại

học với bài giảng của giáo viên phổ thông hay trung cấp.

+ Nghiên cứu khoa học phục vụ đổi mới nội dung, chương trình dạy học.



76



Nghiên cứu khoa học của giảng viên không những giúp cho bản thân họ

trong quá trình giảng dạy, nâng cao uy tín của họ mà giúp cho sinh viên

phương pháp nghiên cứu khoa học, cách giải quyết một vấn đề lý luận hay

thực tiễn. Trong bối cảnh nền kinh tế tri thức, trong sự phát triển như vũ bão

của cách mạng khoa học công nghệ, lượng tri thức tăng lên hàng ngày, hàng

giờ theo cấp số nhân, người giảng viên đại học không tham gia nghiên cứu

khoa học, không tự học hỏi, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ, bằng lòng với

những gì mình đã có tức là chấp nhận tụt hậu, cũng có nghĩa là không thể

đứng vững ở vị trí giảng viên đại học. Nghiên cứu khoa học một cách nghiêm

túc, có trách nhiệm không phải là một nhu cầu mới nảy sinh đối với giảng

viên đại học, và nó ngày càng trở thành yêu cầu tất yếu của nghề giáo đại học.

Với giảng viên các môn khoa học Mác- Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh

đây cũng là yêu cầu mang tính sống còn. Cũng như tất cả các môn khoa học

khác, mỗi bài giảng của các môn khoa học này cũng phải đáp ứng yêu cầu của

một công trình nghiên cứu khoa học. Bởi lẽ lý luận cũng không dừng lại ở

những gì đã có, nó tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện thêm, tiếp tục được làm

giàu thêm, phong phú thêm bằng chính những kinh nghiệm thực tiễn sống

động của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, của sự nghiệp công nghiệp

hóa, hiện đại hoá đã và đang diễn ra trên khắp mọi miền Tổ quốc. Không chỉ

có thế, chính những tri thức lý luận đó còn soi đường chỉ lối, định hướng cho

những hoạt động thực tiễn để có kết quả cao nhất. Thực tế này, phải được

truyền tải đến với người học qua bài giảng của giảng viên. Nếu không làm

được như vậy, nếu bài giảng các môn khoa học Mác- Lênin, Tư tưởng Hồ Chí

Minh chỉ dừng lại ở lý thuyết khô khan, cứng nhắc với những ví dụ đã quá cũ

kỹ đã thành những điển cố thì chính người giảng viên đã làm mất đi, đã làm

phai nhạt đi sức sống của lý luận, làm cho lý luận chỉ mang một màu xám tẻ

ngắt. Bài giảng lý luận vì thế cũng thiếu đi sức thuyết phục không đủ để

người học xây dựng và củng cố niềm tin vào những vấn đề lý luận.

+ Đánh giá tính khoa học của bài giảng

77



Tính khoa học của bài giảng được đánh giá theo các tiêu chí sau:

Thứ nhất, nội dung bài giảng phải hàm chứa tính “có vấn đề”. Nghĩa là

những gì người thầy muốn truyền đạt đến trò phải tồn tại dưới dạng những

mâu thuẫn trong nhận thức, kích hoạt tư duy của sinh viên, đồng thời hé mở

cho họ những con đường, những phương án giải quyết vấn đề. Tính vấn đề

của bài giảng khiến cho bài giảng không suôn sẻ, gọn gàng một chiều mà

thường tạo ra những điểm thắt nút, cao trào làm nổ ra tranh luận, bộc lộ

những ý kiến, những quan điểm khác nhau, thậm chí trái ngược nhau. Muốn

làm được như vậy, người giảng viên phải chuẩn bị được bài giảng một cách

có hệ thống, các vấn đề được tập hợp một cách mạch lạc, được phân giải, luận

chứng tường minh, có tính thuyết phục cao mà mang tính gợi mở. Tất cả được

quy tụ lại làm luận cứ cho những luận điểm chủ yếu của vấn đề trung tâm là

mục tiêu của bài giảng, nếu thiếu vắng những tiền đề khoa học, những lập

luận logic, thiếu đi những kiến thức khoa học và kiến thức thực tiễn thì không

thể tạo nên sức thuyết phục cao của bài giảng. Giảng viên cũng đồng thời phải

đào sâu suy nghĩ, cố gắng độc lập trong tư duy, tránh những lối mòn dễ dãi,

đồng thời phải đặt mình vào vị trí người tiếp nhận và dự kiến những tình

huống giải quyết vấn đề khác nhau để tránh rơi vào tình trạng bị động. Tính

vấn đề của bài giảng cũng đòi hỏi giảng viên phải hạn chế tính thông báo – tái

hiện (tất nhiên cũng không loại trừ những hoàn cảnh, điều kiện nhất định buộc

phải sử dụng phương pháp truyền thống này) tăng cường tính đối thoại, gợi

mở gây vấn đề thảo luận, tranh luận. Người giảng viên cũng không thể ngồi

nguyên trong phòng, giữa những chồng sách cao ngút đầu người mà tìm ra

vấn đề cho bài giảng. Đương nhiên họ cũng có thể tìm ra, thậm chí tìm ra

nhiều vấn đề, nhưng tính sống động, hiện thực của vấn đề, tính thuyết phục

của bài giảng sẽ không cao.

Thứ hai, bài giảng phải có “phát hiện mới”. Một công trình khoa học

chân chính phải phát hiện được cái gì đó mới mẻ, dù rất nhỏ. Cái gì mới mẻ

dù rất nhỏ đó chính là điểm mấu chốt để làm nên tính hấp dẫn, thuyết phục

78



của bài giảng. Bởi suy cho cùng, bài giảng không đem lại chút gì mới mẻ, lý

thú cho người tiếp nhận nó thì nó sẽ dễ bị lãng quên. Nhưng đạt được yêu cầu

này không phải là dễ, nó đòi hỏi mỗi người khi biên soạn bài giảng phải đọc

nhiều tài liệu tham khảo, đào sâu suy nghĩ, so sánh, phân loại, khái quát,

chứng minh, biện luận, kiểm chứng, nghĩa là phải khổ luyện “đãi cát tìm

vàng”, say mê đào xới, không biết tiếc thời gian, công sức. Điều đó cũng có

nghĩa là yêu cầu đối với người giảng viên là không chỉ nắm chắc, hiểu sâu, có

hệ thống về môn học mình đảm nhiệm mà còn phải có một nền tri thức tương

đối rộng, bao quát trên nhiều lĩnh vực khác nữa.

Với các môn khoa học Mác- Lênin, như V.I. Lênin đã từng nhận xét:

không nên xem chủ nghĩa Mác như một cái gì đã xong xuôi không cần bổ

sung mà cần phải làm sống động thêm bằng những cứ liệu khoa học tự nhiên

hiện đại và thực tiễn sinh động của triệu triệu người lao động trên thế giới.

Cho nên tuỳ từng giới hạn và trên một số mặt phải có những sự nhận thức lại,

có những bước phát triển mới cho phù hợp hoàn cảnh. Yêu cầu này càng trở

nên cấp bách, nhất trong bối cảnh Quốc tế hiện nay có nhiều biến động theo

chiều hướng bất lợi cho các lực lượng cách mạng, chủ nghĩa xã hội hiện thực

sụp đổ một mảng lớn, các lực lượng thù địch tìm mọi cách phá hoại các thành

quả cách mạng. Tình hình trong nước cũng có những diễn biến phức tạp, mặt

trái của cơ chế thị trường đang làm thay đổi một số giá trị đạo đức đã được

xây dựng và củng cố lâu nay trong cộng đồng. Trong điều kiện đó nếu không

có những bổ sung và đổi mới nhất định thì việc xây dựng thế giới quan khoa

học, nhân sinh quan cách mạng và phương pháp luận duy vật biện chứng sẽ

rất khó thực hiện.

Thứ ba, bài giảng phải được “kết cấu, bố cục khoa học, chặt chẽ, logic”

theo hệ thống vấn đề. Nếu không đảm bảo được yêu cầu này thì bài giảng dẫu

có nhiều cái mới, giảng viên truyền đạt rất hấp dẫn thì cũng không giúp cho

người học tiếp thu và ghi chép được một cách mạch lạc, đồng nghĩa với sự

khó hiểu, khó ghi nhớ. Lượng thông tin nhiều, có giá trị nhưng được tung ra

79



một cách ồ ạt, không theo chủ đề, chật tự logic nào thì giá trị thông tin sẽ

không cao. Tính khoa học, hệ thống của bài giảng cũng giúp cho những vấn

đề mà người học cần ghi nhớ được sắp xếp có hệ thống, có mối liên kết một

cách khoa học.

Một bài giảng ở đại học nói chung- một công trình nghiên cứu khoa học

quy mô vừa hoặc nhỏ- tối thiểu phải đáp ứng được những yêu cầu chủ yếu nêu trên.

Đối chiếu những yêu cầu này với bài giảng các môn khoa học MácLênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, có thể nhận thấy về cơ bản cần đảm bảo cả ba

yêu cầu trên, xong phải chú ý đến những đặc thù của từng môn học cụ thể.

Giảng viên lý luận Mác – Lênin phải là những người vừa nắm vững tri thức lý

luận, vừa có kiến thức uyên bác trên nhiều lĩnh vực tự nhiên, xã hội, khoa học

kỹ thuật có liên quan để có thể làm phong phú thêm bài giảng của mình. Một

bài giảng được minh hoạ bằng những tài liệu khoa học mới nhất, bằng thực

tiễn xã hội sinh động nhất thì bao giờ cũng có tính thuyết phục cao. Chẳng

hạn khi giảng môn Triết học Mác – Lênin, bài “Vật chất và ý thức”, nếu giảng

viên có được những thông tin mới nhất về sự hình thành vũ trụ từ những vụ

nổ lớn, thông tin về các thiên hà, về hiện tượng lỗ đen trong vũ trụ, về những

kết quả mới nhất của khảo cổ học liên quan đến nguồn gốc loài người, thì sẽ

làm cho tính hấp dẫn của bài giảng tăng lên nhiều lần. Cũng như vậy, giảng

viên môn kinh tế chính trị Mác – Lênin nếu chỉ biết nói thao thao bất tuyệt về

chủ nghĩa tư bản độc quyền như trong sách mà không thể cung cấp cho sinh

viên tên tuổi, quy mô hoạt động kinh doanh, số vốn, doanh thu, lợi tức,… của

những công ty tư bản độc quyền lớn nhất thế giới hiện nay thì bài giảng sẽ dễ

dàng trôi đi mà không đọng lại ấn tượng gì đáng kể cho người học và cũng thiếu

tính thuyết phục.

Thứ tư, hàng tháng, hàng quý, cần tổ chức dự giờ, đánh giá rút kinh

nghiệm từng giờ giảng của giảng viên. Bảo đảm giờ dạy vừa mang tính lý

luận sâu sắc vừa mang tính thực tiễn cao.



80



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (122 trang)

×