1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.51 MB, 104 trang )


Trước năm 1990, Viện Nghiên cứu đại học và giáo dục chuyên nghiệp có

đề tài:’’Tổ chức và quản lý nghiên cứu triển khai trong các trường đại học

phục vụ sản xuất, đời sống và quốc phòng” do Lê Thạc Cán chủ nhiệm,

chương trình cấp Nhà nước, mã số 60A.

Năm 1991, Viện Nghiên cứu Phát triển giáo dục hoàn thành đề tài:

“Nghiên cứu những biện pháp để phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động

khoa học và công nghệ và lao động sản xuất trong nhà trường’’, mã số B9138-14 do Vũ Tiến Trinh làm chủ nhiệm.

Các đề tài trên đã đóng góp những lí luận và giải pháp của công tác quản

lý hoạt động khoa học và công nghệ của ngành Giáo dục - Đào tạo, gắn với

đặc điểm tình hình trong gia đoạn đó.

Năm 1998, Ninh Đức Nhận hoàn thành luận văn thạc sĩ “Một số giải

pháp đổi mới công tác quản lý hoạt động khoa học và công nghệ ở trường

đại học trong giai đoạn mới”. Đề tài đã đề ra một số giải pháp đổi mới công

tác quản lý hoạt động khoa học và công nghệ ở hệ thống các trường đại học

nhằm nâng cao hiệu quả của công tác quản lý hoạt động khoa học và công

nghệ cho các trường đại học.

Nguyễn Thị Kim Chung bảo vệ thành công luận văn thạc sỹ chuyên

ngành quản lý giáo dục với đề tài: “Một số biện pháp quản lý hoạt động

nghiên cứu khoa học giáo dục của Trường Cao đẳng Sư phạm Hưng Yên’’.

Trên cơ sở phân tích thực trạng, tìm ra những nguyên nhân ảnh hưởng kết quả

của hoạt động nghiên cứu khoa học ở trường Cao đẳng Sư phạm Hưng Yên,

tác giả đã đưa ra 7 biện pháp quản lý để nâng cao chất lượng, hiệu quả cho

nghiên cứu khoa học giáo dục của nhà trường.

Tạp chí Giáo dục gần đây có nhiều nhà khoa học và nhà quản lý giáo dục

đăng những công trình nghiên cứu và bài viết về hoạt động nghiên cứu khoa

học ở giáo dục đại học như:

- “Nghiên cứu khoa học góp phần đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao

chất lượng đào tạo đại học” của Đỗ Thị Châu (Đại học Quốc gia). Số 96/9 - 2004.

6



- “Logic nội dung và các nhiệm vụ nghiên cứu đề tài khoa học về giải

pháp quản lý giáo dục” của Nguyễn Phúc Châu (Học viện Cán bộ quản lý

giáo dục - Đào tạo Trung ương) số 143, kì 1 tháng 8/2006

Nhìn chung, các tác giả đã đóng góp lý luận và hướng giải quyết nhiều

vấn đề thực tiễn trong công tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học ở các

trường đại học và cao đẳng. Các tác giả đều đề cao ý nghĩa, vai trò của nghiên

cứu khoa học đối với việc nâng cao chất lượng dạy học,, đào tạo trong các

nhà trường. Tuy nhiên, mỗi công trình hoặc chỉ giải quyết một vài vấn đề

riêng lẻ, hoặc chỉ có giá trị gắn với một nhà trường trong một giai đoạn lịch

sử ngắn với những hoàn cảnh chính trị, kinh tế xã hội nhất định.

Bối cảnh kinh tế xã hội gần đây có nhiều biến đổi nhanh chóng. Giáo dục

nói chung, công tác quản lý giáo dục nói riêng đang đứng trước những yêu

cầu mới cao hơn. Điều đó đòi hỏi hoạt động nghiên cứu khoa học, nhất là

khoa học về quản lý giáo dục phải được đổi mới mạnh mẽ. Cần phải có những

nghiên cứu mới thích ứng và có giá trị thực tiễn cao.

Đề tài này nhằm đề xuất những biện pháp quản lý cụ thể, phù hợp để

hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên Trường Đại học Công đoàn đạt

kết quả cao hơn, góp phần xây dựng nhà trường lớn mạnh. Mặc dù có nhiều

khó khăn nhưng chúng tôi mạnh dạn đưa ra các biện pháp có tính chất cải tiến

mạnh mẽ hiện trạng của công tác quản lý nghiên cứu khoa học vốn còn nhiều

bất cập hiện nay ở Trường Đại học Công đoàn.

1.2. Những khái niệm cơ bản của đề tài

1.2.1. Hoạt động nghiên cứu khoa học

“Khoa học” và “ hoạt động nghiên cứu khoa học” là những khái niệm

được sử dụng khá phổ biến trong cuộc sống, đặc biệt là trong các nhà trường

đại học và cao đẳng. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn tồn tại không ít những quan

niệm khác nhau về chúng.

1.2.1.1. Khoa học

7



Thuật ngữ “khoa học’’ được hiểu theo nhhiều góc độ và mức độ nhận

thức khác nhau.

- Hướng thứ nhất quan niệm rằng khoa học là hệ thống kiến thức, tri thức

của con người về thế giới mà họ đã tìm kiếm, phát hiện và tích luỹ được trong

lịch sử phát triển của xã hội. Khoa học chính là “…toàn bộ hệ thống kiến thức

mà nhân loại đã tích luỹ được về những quy luật trong sự phát triển của tự

nhiên, của xã hội và tư duy, về những biện pháp tác động có kế hoạch đến thế

giới xung quanh và làm biến đổi thế giới đó nhằm phục vụ đời sống con

người.”[18, tr2]. Khoa học là quy luật của hiện thực vốn ẩn náu.

Trong quyển XIX của Đại Bách khoa toàn thư Liên Xô có viết: “Khoa

học là tri thức về tự nhiên, về xã hội và tư duy, về những quy luật khách quan

của tự nhiên, xã hội và tư duy, hệ thống tri thức này được hình thành trong

lịch sử và không ngừng phát triển trên cơ sở… thực tiễn xã hội.” [dẫn theo

36,142]

Như vậy, theo quan điểm này thì khoa học là một dạng sản phẩm hoạt động

của con người, do con người tích luỹ dược.

- Hướng thứ hai quan niệm khoa học là một hình thức tìm tòi, phát hiện

các quy luật của sự vật, hiện tượng và vận dung các quy luật đó để sáng tạo ra

các giải pháp tác động vào thế giới, phục vụ lợi ích của con người.

- Dưới góc độ triết học, khoa học là một bộ phận hợp thành của ý thức xã

hội. Ở đây, khoa học đươc hiểu như một phạm trù triết học…

- Khoa học là một hoạt động mang tính chất nghề nghiệp xã hội đặc thù.

Cụ thể hơn: “Khoa học là một hoạt động có tính chất hệ thống, thông qua việc

nghiên cứu, nhằm tìm ra những kiến giải mang tính khái quát, chính xác và

khách quan hóa được về hiện thực.”[26, tr31]

Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng khái niệm khoa học theo định nghĩa

của Luật Khoa học và Công nghệ hiện hành như sau:

- “Khoa học là hệ thống tri thức về các hiện tượng, sự vật, quy luật của

tự nhiên, xã hội và tư duy.”[6, tr15]

8



1.2.1.2. Nghiên cứu khoa học

“Nghiên cứu khoa học là quá trình nhận thức chân lí khoa học, một hoạt

động trí tuệ đặc thù bằng những phương pháp nghiên cứu nhất định để tìm

kiếm, để chỉ ra một cách chính xác và có mục đích những điều mà con người

chưa biết đến hoặc biết chưa đầy đủ, tức là tạo ra sản phẩm mới dưới dạng tri

thức mới có giá trị mới về nhận thức hoặc phương pháp”. [33, tr25].

Phạm Viết Vượng cho rằng nghiên cứu khoa học là hoạt động nhận thức

thế giới khách quan, là quá trình sáng tạo, phát hiện chân lí, phát hiện những

quy luật của thế giới, do đội ngũ các nhà khoa học thực hiện, nhằm vận dụng

những hiểu biết ấy vào cuộc sống.

Theo lí thuyết công nghệ thì “Nghiên cứu khoa học là quá trình tìm tòi,

phát hiện thông tin mới, gia công chế biến thông tin cũ để lưu trữ và sử dụng

thông tin vào mục đích phục vụ cuộc sống và sản xuất”. [33, tr49].

Luật khoa học và Công nghệ 2000 quy định: “Nghiên cứu khoa học là

hoạt động phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã

hội và tư duy; sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn. Nghiên

cứu khoa học bao gồm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng”. [6, tr7].

Như vậy, có thể nói, nghiên cứu khoa học là hoạt động để sáng tạo ra

khoa học, trong đó:

- Bản chất của nghiên cứu khoa học là hoạt động sáng tạo của các nhà

khoa học nhằm nhận thức thế giới, tạo ra hệ thống tri thức để sử dụng vào cải

tạo thế giới.

- Chủ thể của nghiên cứu khoa học là các nhà khoa học với những phẩm

chất trí tuệ và tài năng đặc biệt, được đào tạo chu đáo.

- Khách thể của nghiên cứu khoa học là các sự vật, hiện tượng của tự

nhiên, xã hội và tư duy mà nhà khoa học nghiên cứu để khám phá, sáng tạo ra

tri thức khoa học.

- Đối tượng của nghiên cứu khoa học là tri thức khoa học. Tri thức khoa

học có những điểm khác với tri thức thông thường. Tri thức thông thường là

9



những tri thức mà “bằng các giác quan, con người tri giác, cảm nhận về bản

thân, về thế giới và xã hội xung quanh, từ đó có những kinh nghiệm sống,

những hiểu biết về mọi mặt’’. Tri thức khoa học là:“… kết quả của quá trình

nhận thức có mục đích, có kế hoạch, có phương pháp và phương tiện đặc biệt

do đội ngũ các nhà khoa học thực hiện” [22, tr 16].

- Mục đích của nghiên cứu khoa học là tìm tòi, khám phá bản chất và

các quy luật vận động của thế giới, tạo ra thông tin mới, nhằm ứng dụng

vào sản xuất vật chất hay tạo ra các giá trị tinh thần để thoả mãn như cầu

cuộc sống của con người.

1.2.1.3. Hoạt động nghiên cứu khoa học

Thực chất hoạt động nghiên cứu khoa học chính là các quá trình nghiên

cứu khoa học. Đó là hoạt động sản xuất tinh thần mà sản phẩm của nó là hệ

thống tri thức khoa học tham gia ngày càng sâu sắc và đầy đủ vào quá trình

sản xuất vật chất và mọi mặt của đời sống xã hội.

Hoạt động nghiên cứu khoa học là một nội dung của hoạt động khoa học

và công nghệ. Với tư cách là một nội dung của khoa học và công nghệ, hoạt

động nghiên cứu khoa học được hiểu là tổ hợp những nghiên cứu cơ bản,

nghiên cứu ứng dụng và triển khai được thực hiện để đạt mục tiêu của khoa

học đã đặt ra. Trong một tổ chức, người ta nói “Hoạt động nghiên cứu khoa

học” là chỉ một lĩnh vực hoạt động khác như “hoạt động sản xuất”, hoạt động

giáo dục.

Sau đây, tác giả đề cập đến một số vấn đề quan trọng trong hoạt động

nghiên cứu khoa học:

(a). Nguồn lực nghiên cứu khoa học

Nguồn lực nghiên cứu khoa học là tất cả các nguồn lực phục vụ cho hoạt

động nghiên cứu khoa học, bao gồm con người (nhân lực), nguồn lực về vật

chất (vật lực), tài chính (tài lực) và nguồn thông tin (tin lực).



10



- Nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học là chủ thể của hoạt động nghiên

cứu khoa học, đó là những người có đủ phẩm chất và năng lực trí tuệ để trực

tiếp tham gia nghiên cứu khoa học, thường là những người có tài năng, được

đào tạo chu đáo.

Điều quan trọng nhất của nhân lực khoa học là khả năng sáng tạo và lòng

yêu khoa học. Nguồn nhân lực khoa học có vai trò là tiền đề quyết định kết

quả của hoạt động khoa học. “Nhân lực khoa học là tiềm năng của mọi tiềm

năng là nhân tố quan trọng nhất tạo ra mọi thành công không những cho khoa

học mà còn cho tất cả các lĩnh vực hoạt động khác của nhân loại”. [30, tr

254].

- Nguồn tài lực nghiên cứu khoa học là nguồn tài chính chi phí cho hoạt

động nghiên cứu khoa học và chi phí đầu tư cho khoa học và công nghệ, gồm:

Ngân sách của Nhà nước cho cho hoạt động nghiên cứu khoa học và đầu

tư cho khoa học.

Kinh phí của tổ chức dành cho nghiên cứu khoa học.

Đầu tư tài trợ của các chương trình, dự án, các tổ chức và cá nhân.

- Nguồn vật lực nghiên cứu khoa học là toàn bộ cơ sở vật chất, thiết bị,

vật tư chuyên dùng trong nghiên cứu khoa học, bao gồm:

Cơ sở hạ tầng như trụ sở làm việc, phòng thí nghiệm, nhà xưởng, nơi

nghiên cứu, thực nghiệm.

Máy móc thiết bị kĩ thuật dùng cho nghiên cứu khoa học.

Nguyên liệu, vật tư kĩ thuật dùng trong phòng thí nghiệm, thực nghiệm,

văn phòng phẩm…

- Nguồn thông tin cho hoạt động nghiên cứu khoa học bao gồm:

Nguồn thông tin cung cấp cho chủ thể tham gia nghiên cứu khoa học và

nhà quản lý, với tư cách là đầu vào của nghiên cứu khoa học bao gồm một số

loại sau:

Thông tin “nguyên liệu” cho nghiên cứu do người nghiên cứu thu thập

được qua nghiên cứu tài liệu, khảo sát, điều tra hoặc thực nghiệm. Nguồn

11



thông tin gồm sách, tài liệu báo cáo khoa học trong và ngoài trường, thu thập

được của các đồng nghiệp đi trước, tài liệu trong các phòng tư liệu, các kho

dự trữ, số liệu thống kế… và đặc biệt là từ internet.

Thông tin về phương pháp nghiên cứu.

Thông tin về phương pháp xử lí dữ liệu có hai loại: xử lí các dữ liệu định

lượng và xử lí các dữ liệu định tính.

Thông tin về các nguồn lực.

Nguồn thông tin quản lý trong nội bộ tổ chức liên quan đến hoạt động

nghiên cứu khoa học giữa các bộ phận, cá nhân phản ánh các mối liên hệ cong

tác và trao đổi chuyên môn, nghiệp vụ với nhau. Thông tin luôn là mạch máu,

là điều kiện sống còn của quản lý.

Sức mạnh của tin lực nghiên cứu khoa học biểu hiện ở số lượng và chất

lượng nghiên cứu thông tin.

Chất lượng của thông tin được đánh giá ở tính khách quan, độ chính xác

và kịp thời.

(b). Đặc điểm của hoạt động nghiên cứu khoa học

Hoạt động nghiên cứu khoa học có một số đặc điểm nổi bật sau đây:

- Tính mới: nghiên cứu khoa học luôn hướng tới những phát hiện hoặc sáng

tạo mới, không chấp nhận sự lặp lại cái cũ.

- Tính thông tin: sản phẩm của nghiên cứu khoa học có thể coi là những

thông tin mới, đó là kết quả của quá trình khai thác và xử lí thông tin.

- Tính khách quan: để đảm bảo khách quan, người nghiên cứu không thể

nhận định theo ý muốn chủ quan, không thể kết luận thiếu kiểm chứng mà

phải luôn xem xét kĩ càng vấn đề nghiên cứu.

- Tính tin cậy: kết quả nghiên cứu phải được kiểm chứng bởi thực tiễn

hay những luận chứng khoa học tin cậy.

- Tính mạnh dạn, mạo hiểm: nhà nghiên cứu phải dám đảm nhận

những vấn đề chưa có ai nghiên cứu hoặc các lĩnh vực mới mẻ, thậm chí

dám lật lại những thành tựu đã được xác nhận trước đây để tìm ra kết quả

12



mới. Tất nhiên khả năng rủi ro, thất bại trong nghiên cứu khoa học là điều

bình thường. Điều quan trọng là phải biết chấp nhận rủi ro và rút kinh

nghiệm, biết cách học hỏi từcác sai lầm.

- Tính kinh tế: sứ mệnh của nghiên cứu khoa học là góp phần phát triển

kinh tế - xã hội, cải biến thế giới. Tuy nhiên, ở tầm vĩ mô, trong rất nhiều

trường hợp nghiên cứu không thể coi lợi nhuận kinh tế là mục đích trực tiếp.

Lao động nghiên cứu khoa học hầu như không thể định mức chính xác như

sản xuất vật chất; hiệu quả kinh tế của nghiên cứu khoa học rất khó xác định.

Trong hoàn cảnh hiện nay, nhất là trong các trường cao đẳng thì chúng ta vẫn

phải cân nhắc tính toán kỹ càng khi đầu tư vào từng công trình nghiên cứu.

(c). Các mức độ và hình thức nghiên cứu khoa học

Có nhiều cách khác nhau, nhiều cơ sở khác nhau để phân loại các mức

độ và hình thức của nghiên cứu khoa học. Sau đây là một số cách phân loại

thông thường

- Nếu dựa vào nội dung và đặc điểm của công trình thì ta có: Báo cáo về

một đề tài khoa học nào đó, bài báo, chuyên khảo, bản tổng kết về hoạt động

khoa học, bài phê bình có tính khoa học, đề cương trình bày tổng quát một

chủ đề gì đó và các luận án khoa học.

- Nếu dựa vào mức độ của công trình nghiên cứu trong thực tiễn trong

giáo dục và đào tạo thì ta có các hình thức: Bài tập nghiên cứu khoa học, khoá

luận tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ hoặc luận án tiến sĩ khoa học.

- Nếu dựa vào trình độ và mục đích của công trình nghiên cứu thì có các

loại hình nghiên cứu khoa học:

Nghiên cứu cơ bản có mục đích tìm tòi, sáng tạo ra những tri thức mới,

những giá trị mới cho nhân loại. Nghiên cứu cơ bản đi sâu nghiên cứu bản

chất và quy luật vận động của thế giới.



13



Nghiên cứu ứng dụng có mục đích là tìm cách vận dụng những tri thức

cơ bản để tạo ra những quy trình công nghệ mới, những nguyên lý mới trong

quản lý kinh tế, xã hội.

Nghiên cứu triển khai là loại hình nghiên cứu có mục đích tìm khả năng

áp dụng đại trà các kết quả nghiên cứu ứng dụng vào thực tế cuộc sống.

Nghiên cứu dự báo có mục đích tìm tòi, phát hiện những triển vọng,

những khả năng, xu hướng mới của sự phát triển khoa học và thực tiễn.

- Nếu dựa vào chức năng của quá trình nghiên cứu thì ta có:

Nghiên cứu mô tả là quá trình nghiên cứu để trình bày về một hiện

tượng, sự việc một cách chuẩn xác, có trình tự, có hệ thống nhằm giúp mọi

người hiểu được vấn đề, phổ biến cho mọi người hưởng ứng làm theo.

Nghiên cứu giải thích là nghiên cứu để lập luận, để kiến giải một vấn đề

nào đó trên cơ sở khoa học. Giải thích ở đây là làm rõ nguyên nhân dẫn đến

sự hình thành và tính quy luật chi phối quá trình vận động và phát triển của sự

việc, sự vật mà ta cần giải thích.

Nghiên cứu tiên đoán là nghiên cứu để ngoại suy thấy được trước các xu

thế vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng. Việc tiên đoán có thể dựa

vào mô tả và giải thích.

Nghiên cứu sáng tạo là quá trình nghiên cứu để tìm ra những tri thức,

những quy luật và các giải pháp mới.

1.2.2. Quản lý

1.2.2.1. Một số quan niệm về quản lý

Quản lý là một hiện tượng xã hội đặc biệt xuất hiện từ rất sớm và là một

nhân tố quyết định sự phát triển của xã hội. C. Mác đã nói: “Bất cứ lao động

xã hội trực tiếp hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô khá

lớn đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá

nhân. Sự chỉ đạo đó phải là những chức năng chung, tức là những chức năng

14



phát sinh từ sự khác nhau giữa sự vận động chung của cơ thể sản xuất với

những vận động cá nhân của những khí quan độc lập hợp thành cơ thể sản

xuất đó. Một nhạc sĩ độc tấu thì tự điều khiển lấy mình, nhưng một dàn

nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng. [dẫn theo 31, tr24].

Sự phát triển xã hội loài người dựa vào ba yếu tố cơ bản, đó là tri thức,

sức lao động và trình độ quản lý. Quản lý là tổ chức, điều hành, kết hợp

vận dụng tri thức với việc sử dụng sức lao động để phát triển sản xuất xã

hội.

Tuy tư tưởng về quản lý đã có từ rất lâu, từ khi con người được xã hội

hoá nhưng khoa học quản lý lại chỉ mới phát triển thành một khoa học thực

sự từ đầu thế kỉ XX. Có rất nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm quản

lý, tuỳ theo góc độ, quan điểm và phương pháp tiếp cận. Nhiều nhà nghiên

cứu đã xem quản lý là cai quản, cai trị, quản trị, lãnh đạo, chỉ huy, chỉ đạo,

kiểm soát, điều khiển, ... Sau đây là một số định nghĩa tiêu biểu:

- Frederick Winslow Taylor (1856 - 1915) là người đề xuất thuyết “Quản

lý khoa học” cho rằng: “Quản lý là biết được chính xác điều mình muốn

người khác làm và sau đó thấy được rằng họ đã hoàn thành công việc một

cách tốt nhất và rẻ nhất’’.

- Các nhà khoa học Harold Koontz, Cyril Odonell và Hein Weihrich cho

rằng: “Quản lý là hoạt động thiết yếu của nhà quản lý đảm bảo sự phối hợp,

sự nỗ lực của mỗi cá nhân trong tổ chức nhằm đạt đến một mục tiêu nhất định

trong những điều kiện thời gian, công sức và kinh phí bỏ ra ít nhất nhưng đạt

hiệu quả cao nhất’’.

- Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu về khoa học quản lý đều nhấn

mạnh các yếu tố: chủ thể quản lý, khách thể và mục tiêu quản lý, đồng

thời khẳng định rằng: Quản lý là một hoạt động mà trong đó con người

vừa là chủ thể vừa là là khách thể quản lý. Mai Hữu Khuê đã nêu “Hoạt

động quản lý là một dạng lao động đặc biệt của người lãnh đạo, mang

tính tổng hợp của các dạng lao động trí óc liên kết bộ máy thành một

15



chỉnh thể thống nhất, điều hoà, phối hợp các khâu quản lý và các cấp

quản lý hoạt động nhịp nhàng đưa đến hiệu quả cao’’. [24, tr21].

Theo Phạm Khắc Chương thì “Quản lý là sự tác động có hướng đích của

chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý bằng một hệ thống các giải pháp nhằm

thay đổi trạng thái của đối tượng quản lý, đưa hệ thống tiếp cận mục tiêu cuối

cùng, phục vụ mục đích của con người” [20, tr5].

Như vậy, khi bàn về quản lý, các tác giả đều có quan điểm thống nhất

chung là: “Quản lý là quá trình tác động có mục đích của chủ thể quản lý đối với

khách thể (đối tượng) quản lý về mặt chính trị, văn hoá, kinh tế xã hội… bằng

một hệ thống các luật lệ, chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các

biện pháp có thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối

tượng”.

Có thể thấy quản lý bao giờ cũng là quản lý một hệ, một đơn vị cụ thể.

Trong quản lý bao giờ cũng bao gồm các thành phần cơ bản: chủ thể quản lý,

đối tượng và khách thể quản lý, mục tiêu quản lý, các công cụ quản lý. Hoạt

động quản lý về bản chất là tác động (bằng tổ chức, điều khiển và chỉ huy)

hợp quy luật của chủ thể quản lý đến đối tượng và khách thể quản lý nhằm

làm cho tổ chức vận hành đạt mục tiêu đã đề ra với hiệu quả mong muốn.

Tiếp cận trong quản lý là đường lối xem xét hệ thống quản lý, là cách

thức thâm nhập vào hệ thống quản lý, là đường lối xử lí các vấn đề của quản

lý. Trên thực tế có một số cách tiếp cận thông dụng: tiếp cận lịch sử/logic;

tiếp cận phân tích/tổng hợp; tiếp cận mục tiêu và tiếp cận hệ thống.

Tiếp cận hệ thống cho phép xem xét các hoạt động quản lý như một hệ

thống hoàn chỉnh bao gồm những nhân tố và mối quan hệ tương tác giữa các

nhân tố để đạt được mục tiêu xác định.

Mỗi loại hệ thống đều có tính độc lập tương đối, có những chức năng và

nhiệm vụ riêng, vận hành và phát triển bởi những tác động qua lại theo những

quy luật riêng của những nhân tố bên trong của hệ thống đó, đồng thời nó cũng

chịu sự chi phối và tác động qua lại của các hệ thống đồng cấp.

16



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (104 trang)

×