1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG ĐOÀN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.51 MB, 104 trang )


cấp Công đoàn thành Trường Đại học Công đoàn. Quyết định 174- CT nêu rõ:

“Trường Đại học Công đoàn trực thuộc Ban Thư ký Tổng Liên đoàn Lao động

Việt Nam, là trường đại học đa ngành, đa cấp,...”.

Phát huy truyền thống tốt đẹp, trường Đại học Công đoàn Việt Nam

tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò của mình trong sự nghiệp đào tạo đội ngũ

cán bộ Công đoàn, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực cho

xã hội. Từ chỗ chỉ đào tạo một ngành Kinh tế lao động, đến nay trường Đại

học Công đoàn Việt Nam đã phát triển thành một trường đại học đa ngành,

đa cấp, với nhiều hình thức đào tạo: chính qui, tại chức, đào tạo ngắn hạn,

tập huấn, bồi dưỡng.

Nhà trường còn được Nhà nước tặng thưởng nhiều danh hiệu cao

quý: Huân chương Lao động hạng Nhất (năm 1981), Huân chương Độc lập

hạng Ba (năm 1991), Huân chương Độc lập hạng Nhì (năm 2001), Huân

chương Lao động hạng Ba cho Công đoàn Trường (năm 2000), Huân

chương Lao động hạng Ba cho công tác thể dục thể thao (năm 2001), Huân

chương độc lập hạng Nhất (2006), Huân chương Lao động hạng Nhì cho

Công đoàn trường (2007), Huân chương Lao động hạng Nhất của Nước

Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, nhiều cá nhân được trao tặng Huy chương

Vì sự nghiệp Giáo dục, sự nghiệp văn hoá, sự nghiệp y tế,...

2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ của trường Đại học Công đoàn

Là một trường Đại học trong hệ thống giáo dục quốc dân, trường Đại

học Công đoàn Việt Nam cũng có đầy đủ chức năng và nhiệm vụ của trường

đại học được quy định trong Điều lệ trường đại học:

- Đào tạo nhân lực có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, có kiến thức và năng

lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khoẻ, có năng

lực thích ứng với việc làm trong xã hội, tự tạo việc làm cho mình và cho những

người khỏc, có khả năng hợp tác bình đẳng trong quan hệ quốc tế, đáp ứng yêu

cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hiện nay Trường đang đào tạo Thạc sĩ chuyên

ngành Quản lý nguồn nhân lực; đào tạo kỹ sư Bảo hộ lao động; đào tạo Cử nhân

31



hệ đại học các ngành: Quản trị kinh doanh, Kế toán, Tài chính – Ngân hàng, Xã

hội học, Công tác xã hội, Quản trị nhân lực; đào tạo chuyên tu, tại chức hệ đại

học; đào tạo Cử nhân hệ Cao đẳng các ngành: Quản trị kinh doanh, Kế toán, Tài

chính – Ngân hàng; đào tạo trung cấp ngành Kế toán, Tài chính-Ngân hàng, Du

lịch lữ hành, Kỹ thuật máy tính; đào tạo ngắn hạn đại học phần ngành Quản trị

kinh doanh – Công đoàn, ngành Bảo hộ lao động; đào tạo cấp chứng chỉ Tin học,

Ngoại ngữ; tập huấn, bồi dưỡng cán bộ công đoàn.

- Tiến hành nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ. Giữ gìn và phát

triển những di sản và bản sắc văn hoá dân tộc. Phát hiện và bồi dưỡng nhân tài

trong sinh viên và trong đội ngũ cán bộ giảng viên của Trường.

- Nghiên cứu về phong trào công nhân, công đoàn quốc tế và Việt Nam;

về kinh tế - xã hội – nhân văn. Hợp tác quốc tế đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công

đoàn và nghiên cứu khoa học.

- Quản lý giảng viên, cán bộ, nhân viên; xây dựng đội ngũ giảng viên của

Trường đủ về số lượng, cân đối về cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu

tuổi và giới.

- Tuyển sinh và quản lý sinh viên. Phối hợp với gia đình sinh viên, các

tổ chức, cá nhân trong hoạt động giáo dục.

- Tổ chức cho giảng viên, cán bộ, nhân viên và sinh viên tham gia các

hoạt động xã hội phối hợp với ngành nghề đào tạo và nhu cầu của xã hội.

- Quản lý, sử dụng đất đai, trường sở, trang thiết bị và tài chính theo quy

định của pháp luật.

- Thực hiện các nhiệm vụ khỏc theo quy định của pháp luật.

2.1.3. Biên chế tổ chức

- Hiện nay nhà trường có tổng số 235 cán bộ, công nhân viên

- 5 Phó Giáo sư, 15 Tiến sĩ, 1 Tiến sĩ khoa học, 71 Thạc sĩ, 11 nghiên cứu

sinh, 31 cán bộ giảng viên đang học cao học, hơn 70 người có trình độ lý luận chính

trị từ cao cấp đến cử nhân, 1 giảng viên cao cấp, 32 giảng viên chính.

Thu hút và tập hợp giảng viên kiêm chức, tham gia công tác đào tạo và

nghiên cứu khoa học của nhà trường. Hiện nay Trường cú 182 giảng viên kiêm



32



chức, cộng tác viên khoa học, trong đó có 7 giáo sư, 29 Phó Giáo sư, 104 Tiến

sĩ, 38 Thạc sĩ, 4 chuyên viên cao cấp.

- Hiện nay Trường có 11 khoa, 6 bộ môn, 9 phòng (tổng số 26 bộ phận).

Trường có phân hiệu tại thành phố Hồ Chí Minh. (xem bảng 1 và sơ đồ 2)

Bảng 1: Tổng hợp số lượng, cơ cấu đội ngũ cán bộ, giảng viên của

trường Đại học Công đoàn

TT



Bộ phận



Tổng số



Biên chế



Hợp

đồng



Trình độ chuyên môn

Tiến sĩ



Thạc sĩ



Cử nhân



1.



Khoa Công đoàn



13



7



6



2



6



5



2.



Khoa QTKD



13



5



8



0



7



6



3.



Khoa Kế toán



9



3



6



1



4



4



4.



Khoa Mác-Lênin



11



4



7



2



6



3



5.



Khoa QTNL



5



2



3



1



1



3



6.



Khoa XHH



7



3



4



1



5



1



7.



Khoa CTXH



5



2



3



0



2



3



8.



Khoa BHLĐ



8



8



0



2



5



1



9.



Khoa TC - NH



7



1



6



0



4



3



10.



Khoa Sau đại học



3



1



2



1



2



0



11.



Khoa Tại chức



7



6



1



0



2



4



12.



Bộ môn Luật



4



1



3



1



2



1



13.



Bộ môn NNgữ



14



9



5



0



8



6



14.



Bộ môn TDQS



6



4



2



0



1



5



15.



Bộ môn KHCB



9



7



2



0



7



2



16.



Bộ môn Kinh tế



7



2



5



1



3



3



17.



Bộ môn Tin học



6



6



0



0



6



0



18.



Phòng Tổ chức



7



5



2



0



1



6



19.



Phòng K.Học



5



4



1



1



1



3



20.



Phòng Đào tạo



9



4



5



2



4



2



21.



Phòng Tài vụ



8



6



2



0



0



8



22.



Phòng Y tế



3



3



0



0



0



3



23.



Phòng QLSVNT



13



5



8



0



0



13



24.



Phòng CTSV



6



3



3



1



0



5



25.



Phòng TTTL



9



4



5



0



1



8



26.



Phòng HCTH



40



15



25



0



3



5



33



Tổng số cán bộ, giảng viên Nhà trường: 235



(Nguồn: Phòng Tổ chức cán bộ - trường Đại học Công đoàn)



34



Cơ cấu tổ chức hành chính của trường Đại học Công đoàn (sơ đồ số 2)

HIỆU TRƯỞNG



PHÓ HIỆU TRƯỞNG



PHÓ HIỆU TRƯỞNG



PHÓ HIỆU TRƯỞNG



PHÓ HIỆU TRƯỞ



CÁC PHÒNG



CÁC KHOA



CÁC BỘ MÔN



Phòng Tổ chức



Lý luận&nghiệp vụ Công đoàn



Văn hóa cơ bản



Phòng Đào tạo



Mác - Lênin, TTHCM



Ngoại ngữ



Phòng Quản lý khoa học



Quản trị kinh doanh



Tin học



Phòng Hành chính tổng

hợp

Phòng Công tác sinh

viên



Bảo hộ lao động



Kinh tế



Xã hội học



Luật



Phòng Quản lý SV nội trú



Công tác xã hội



Thể dục - quân sự



Phòng Tài vụ



Kế toán



Phòng Thông tin tư liệu



Tài chính – Ngân hàng



Phòng Y tế



Quản trị nhân lực

Sau Đại học

Tại chức



35



2.1.4. Những thành tích chủ yếu

- Nhà trường đó chủ động nắm bắt thời cơ, khai thác tốt mọi tiềm năng, đi

trước đón đầu và đề ra những định hướng phát triển mang tầm chiến lược;

từng bước mở rộng quy mô, đa dạng hoá các ngành đào tạo, xây dựng

Trường Đại học Công đoàn thành một trường đại học đa ngành, đa cấp.

- Chủ động mở rộng hợp tác quốc tế trong đào tạo, bồi dưỡng. Dần chuẩn

hoá chương trình đào tạo các ngành trong trường và nghiên cứu phát triển các

ngành mới phù hợp với nhu cầu xã hội.

- Chất lượng đào tạo không ngừng nâng lên: Tỷ lệ sinh viên có kết quả

học tập đạt loại Khá, Giỏi tăng; giảm gần tỷ lệ sinh viên có kết quả đạt loại

trung bình.

- Số lượng các công trình nghiên cứu khoa học tăng, chất lượng các

công trình được nâng cao, kinh phí đầu tư cho hoạt động khoa học tăng

dần. Nghiên cứu khoa học đó phục vụ đắc lực cho việc nâng cao chất

lượng đào tạo, trọng tâm là hoàn thiện các chương trình, giáo trình và quy

trình đào tạo. Ngoài ra cũng tổ chức cho sinh viên nghiên cứu khoa học và

đạt nhiều giải thưởng có giá trị.

- Thiết lập quan hệ với Học viện quan hệ lao động và xã hội Nga, trường

Đại học Paris 7 (Pháp), Học viện công vận Trung Quốc, Tổ chức lao động

quốc tế ILO, … Liên kết với Viện FES (Cộng hoà liên bang Đức), Công đoàn

Italia, CGT (Pháp), Liên hiệp công đoàn Lào, Cămpuchia,… thực hiện các dự

án đào tạo, bồi bưỡng cán bộ công đoàn, hội thảo khoa học.

- Chú trọng đầu tư cho phát triển nhân lực, nâng cao chất lượng đội ngũ

giảng viên, tăng cường giảng viên trẻ có năng lực và trình độ chuyên môn

cao, tạo điều kiện để mọi cán bộ quản lý và giảng viên được đi bồi dưỡng,

đào tạo nâng cao trình độ phục vụ cho công tác quản lý và giảng dạy.

- Cơ sở vật chất phục vụ cho dạy và học được đảm bảo và ngày một hiện

đại. Nhà trường đang có dự án mở rộng cơ sở đào tạo.



36



- Thực hiện các hoạt động công ích, chăm sóc thiếu niên, nhi đồng, người cao

tuổi, phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng; tham gia tích cực các hoạt động từ

thiện, đền ơn đáp nghĩa, ủng hộ đồng bào các vùng có thiên tai,…

2.1.5. Thiếu sót

Việc chỉnh lý và tái bản bộ giáo trình Lý luận và nghiệp vụ Công đoàn

còn chậm; nội dung đào tạo cán bộ Công đoàn chưa thực sự đi sâu vào kỹ

năng, vẫn còn nặng về lý thuyết; giảng viên chưa tiếp cận nhiều với thực tế

cơ sở, do đó chất lượng bài giảng chưa kịp thời đổi mới.

2.2. Hoạt động nghiên cứu khoa học ở trường Đại học Công đoàn

2.2.1. Chỉ đạo của Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam

Hàng năm, Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đều có

định hướng về đào tạo, nghiên cứu khoa học cho Trường Đại học Công đoàn

Việt Nam, tạo những điều kiện thuận lợi cho Nhà trường trong nghiên cứu, hợp

tác khoa học như cấp kinh phí cho nghiên cứu khoa học, giành cho Trường

những đề tài cấp Bộ, tạo điều kiện cho cán bộ, giảng viên, sinh viên Nhà trường

tham gia nghiên cứu khoa học. Các cán bộ, Ban của Tổng Liên đoàn Lao động

Việt Nam, các Công đoàn ngành Trung ương, Công đoàn địa phương cùng phối

hợp nghiên cứu về phương pháp, cách thức đào tạo cán bộ và các đề tài khoa

học khác; Đặc biệt Viện Nghiên cứu kỹ thuật Bảo hộ lao động không chỉ phối

hợp với trường trong đào tạo mà cả trong việc xây dựng và triển khai các đề tài

do Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam giao và quản lý.

2.2.2. Chủ trương của nhà trường về công tác nghiên cứu khoa học

Trên cơ sở những định hướng lớn của Đảng và các Nghị quyết của Đoàn Chủ

tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Đại hội Đảng bộ Trường Đại học Công

đoàn Việt Nam Việt Nam lần thứ XIX tháng 11/2001 đã nêu phương hướng,

nhiệm vụ cho công tác nghiên cứu khoa học là: “Đẩy mạnh công tác nghiên cứu

khoa học, xây dựng đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học tăng về số lượng và

nâng cao chất lượng. Tranh thủ lực lượng sinh viên tham gia nghiên cứu khoa



37



học, đặc biệt sinh viên là cán bộ Công đoàn. Gắn nghiên cứu khoa học với giảng

dạy”.

- Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị, công tác nghiên cứu

khoa học đã được nhà trường xác định là một trong bốn chương trình hành

động thực hiện Nghị quyết 05/TLĐ - NQ của Tổng Liên đoàn Lao động Việt

Nam. Nội dung chương trình được xác định là: “Xây dựng kế hoạch nghiên

cứu khoa học dài hạn, kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu lý luận và nghiên

cứu ứng dụng, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ và xây dựng tổ

chức Công đoàn vững mạnh.

Trường động viên cán bộ, giảng viên tham gia nghiên cứu về phong

trào công nhân và hoạt động Công đoàn, về xây dựng các chương trình đào

tạo, bồi dưỡng cán bộ, về ứng dụng các phương pháp giảng dạy và học tập

tiên tiến. Đến năm 2003 có ít nhất 80% giảng viên là thạc sỹ, tiến sỹ có đề

tài nghiên cứu cấp cơ sở và tham gia nghiên cứu đề tài cấp Tổng Liên

đoàn, cấp Nhà nước.

Các đề tài nghiên cứu khoa học đã triển khai theo hướng:

- Tổng kết thực tiễn, bổ sung vào lý luận về xây dựng giai cấp công

nhân và tổ chức Công đoàn trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

- Hoạt động Công đoàn trong các thành phần kinh tế, trong nền kinh tế

thị trường, chú trọng nghiên cứu lý luận và thực tiễn về tổ chức và hoạt động

của Công đoàn khu vực ngoài quốc doanh, nhất là liên doanh, doanh nghiệp

có vốn đầu tư nước ngoaì, doanh nghiệp cổ phần hoá.

- Nghiên cứu về mối quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao

động, về thương lượng tập thể, giải quyết tranh chấp lao động, về nội dung,

cách thức bảo vệ người lao động....

Tổ chức nghiên cứu biên soạn bộ giáo trình chuyên ngành công tác xã

hội, Bảo hộ lao động. Chỉnh lý và hoàn thiện bộ giáo trình lý luận và nghiệp



38



vụ Công đoàn. Xuất bản bộ tài liệu chẩn để tập huấn, bồi dưỡng cho cá đối

tương cán bộ Công đoàn khác nhau”.

Chương trình này là định hướng quan trọng và đặt ra cho cán bộ, giảng

viên và sinh viên trường đại học Công đoàn nhệm vụ to lớn và cấp bách trong

nghiên cứu khoa học phục vụ đào tạo, bồi dưỡng góp phần thực hiện chiến

lược phát triển nhà trường trong những năm tới.

Bên cạnh đó Trường Đại học Công đoàn Việt Nam Việt Nam đã xây

dựng quan hệ trong đào tạo và nghiên cứu khoa học với nhiều trường đại học,

viện nghiên cứu trong và ngoài Hà Nội như: Học viện Chính trị quốc gia,

Tổng cục dạy nghề, Viện Xã hội học, Viện Khoa học xã hội VN, Bộ Khoa

học - Công nghệ, Sở Khoa học - Công nghệ Hà Nội, Viện Nghiên cứu phát

triển Kinh tế - Xã hội Hà Nội. Trên cơ sở đó, Nhà trường vừa tranh thủ được

nguồn đề tài vừa tranh thủ được đội ngũ các nhà khoa học đầu đàn của mỗi

lĩnh vực.

2.2.3. Nguồn lực hoạt động nghiên cứu khoa học của nhà trường

Nhiều cán bộ, giảng viên đã nhận thức được sự cần thiết tự tích luỹ kiến

thức, góp phần nâng cao nhận thức về chuyên môn, phục vụ cho bài giảng có

chiều sâu, tạo điều kiện để hướng dẫn cho sinh viên nghiên cứu khoa học tốt hơn.

Nhiều giảng viên tự tìm tòi, tích luỹ tư liệu, tài liệu phục vụ cho đề tài mình hằng

ấp ủ. Một số không nhỏ giảng viên đã chủ động phối hợp với các cơ quan, đơn vị

bạn, các nhà khoa học ở các trường đại học, các Viện để nghiên cứu đề tài, viết

sách, hướng dẫn luận văn tốt nghiệp, viết bài cho các tạp chí...

Việc chuyển thành Trường Đại học, hoà nhập hệ thống các trường đại học

đã tạo ra thời cơ lớn nhưng cũng đặt ra nhiều vấn đề mới với những yêu cầu cao

về đào tạo cũng như nghiên cứu khoa học trong khi đội ngũ cán bộ, giảng viên

còn thiếu, số cán bộ, giảng viên có học hàm, học vị cao còn ít. Năm 1992, khi

trường chuyển lên Đại học, nhiều cán bộ, giảng viên còn chưa quan tâm đến

nghiên cứu khoa học, coi nghiên cứu khoa học là xa vời, là khó khăn. Nhưng



39



cũng trong thời gian đó, Nhà trường đã được giao nhiệm vụ quan trọng là

nghiên cứu đề tài cấp Nhà nước KX 05- 10. Đây là nhiệm vụ rất nặng nề vì lúc

đó lực lượng cán bộ nghiên cứu, giảng dạy còn rất khiêm tốn cả về số lượng và

chất lượng. Việc nghiên cứu thành công đề tài này đã đem lại tác động to lớn

không chỉ ở những kết quả nghiên cứu mà còn là một mẫu hình cho việc khuyến

khích các hoạt động nghiên cứu khoa học đối với nhiều cán bộ, giảng viên.

Nhiều cán bộ, giảng viên đã nhận thức đúng đắn về nghiên cứu khoa

học, coi đây là bước tập luyện cơ bản về tư duy, là một biện pháp để tự tích

luỹ kiến thức, góp phần nâng cao nhận thức về chuyên môn, phục vụ cho bài

giảng có chiều sâu, tạo điều kiện để hướng dẫn cho sinh viên nghiên cứu

khoa học tốt hơn. Nhiều giảng viên tự tìm tòi, tích luỹ tư liệu, tài liệu phục vụ

cho đề tài mình hằng ấp ủ. Một số không nhỏ đã chủ động phối hợp với các

cơ quan, đơn vị bạn, các nhà khoa học ở các trường đại học, các viện để

nghiên cứu đề tài, viết sách, hướng dẫn luận văn tốt nghiệp, viết bài cho các

tạp chí...

Hiện tại, công tác nghiên cứu khoa học và quản lý khoa học của Nhà

trường chưa thực sự đi vào nề nếp. Bên cạnh một số cán bộ, giảng viên rất

tâm huyết, nhiệt tình, say mê nghiên cứu, vẫn còn một số chưa nhận thức đầy

đủ tầm quan trọng của công tác nghiên cứu khoa học. Nhiều cán bộ, giảng

viên còn quá chú trọng đến giảng dạy nên chưa dành thời gian tương xứng

cho nghiên cứu khoa học.

Số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ, giảng viên chưa ngang tầm với

nhiệm vụ nghiên cứu khoa học. Còn thiếu cán bộ quản lý khoa học có năng

lực, có trình độ nghiệp vụ. Công tác tổ chức nghiên cứu khoa học, quản lý

các đề tài còn lúng túng. Trước năm 2000, công tác quản lý khoa học còn

nhiều bất cập. Hướng nghiên cứu chưa được phổ biến rộng rãi trong cán bộ,

giảng viên, việc tổ chức thực hiện các đề tài chưa theo quy trình chặt chẽ,

khoa học. Công tác xét duyệt đề cương đề tài, kiểm tra việc thực hiện và

nghiệm thu các đề tài chưa có quy trình thống nhất nên chất lượng các đề tài



40



chưa cao, việc chọn những đề tài cần thiết phục vụ cho công tác đào tạo, bồi

dưỡng và quản lý lại vẫn còn lúng túng và bất cập.

2.3. Thực trạng quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên

Trường Đại học Công đoàn Công Đoàn

2.3.1. Nội dung quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của nhà trường

Ở Trường Đại học Công Đoàn, công tác quản lý hoạt động nghiên cứu

khoa học gồm các nội dung:

(1). Xây dựng kế hoạch hoạt động nghiên cứu khoa học

(2). Xây dựng cơ cấu hệ thống quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học

(3). Xây dựng, tổ chức khai thác sử dụng và phát triển các nguồn lực

nghiên cứu khoa học.

(4). Tổ chức thực hiện các hoạt động nghiên cứu khoa học

(5). Đánh giá, nghiệm thu, phổ biến, lưu trữ, ứng dụng sản phẩm nghiên

cứu khoa học.

(6). Tổ chức các loại hình sinh hoạt nghiên cứu khoa học trong nhà trường.

(7). Tổ chức các hoạt động dịch vụ phục vụ hoạt động nghiên cứu

khoa học

Trong thực tế những năm qua, Trường Đại học Công Đoàn đã thực

hiện một số nội dung quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học. Thăm dò ý

kiến của cán bộ, giảng viên và kết quả bảng 2 cho thấy:

Bảng 2: Đánh giá về việc thực hiện các nội dung quản lý hoạt động

nghiên cứu khoa học của nhà trường

Các nội dung quản lý hoạt động



Đã thực hiện



Chưa thực

hiện



NCKH



Hiệu quả cao



Hiệu quả trung

bình



Hiệu qủa thấp



CBQL



GV



CBQL



GV



CBQL



GV



CBQL



GV



1. Xây dựng kế hoạch hoạt động



00



00



25



75



17



80



06



05



NCKH



00



00



52%



47%



35.5%



50%



2. Xây dựng cơ cấu hệ thống quản



00



02



09



41



28



110



11



15



lý hoạt động NCKH



00



12.5



19%



26%



58%



69%



23%



09%



3. Xây dựng, tổ chức khai thác sử



02



09



12



30



20



104



14



17



dụng và phát triển các nguồn lực



4%



05%



25%



19%



42%



65%



29%



11%



41



12,5% 03%



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (104 trang)

×