1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Chương 3: BIỆN PHÁP CẢI TIẾN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG ĐOÀN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.51 MB, 104 trang )


- Tính khả thi: Các biện pháp đưa ra phải phù hợp với khả năng của cán

bộ, giảng viên và điều kiện hoàn cảnh của Nhà trường (điều kiện cơ sở vật

chất, trang thiết bị, đồ dùng, điều kiện kinh phí, tài liệu, nhân lực…) để triển

khai thực hiện được trong thực tiễn, đồng thời, mỗi biện pháp được đưa ra

phải có khả năng chuyển giao, nghĩa là có quy trình rõ ràng, xác định rõ chủ

thể thực hiện và các điều kiện ràng buộc việc thực hiện biện pháp.

3.1.2. Nguyên tắc kết hợp hài hòa các lợi ích

Hoạt động nghiên cứu khoa học và công tác quản lý nó phải đưa lại lợi ích

của người nghiên cứu, của chủ thể quản lý, của Nhà trường và của toàn xã hội.

Trong đó phải ưu tiên lợi ích của nhà trường và sự nghiệp giáo dục của toàn xã

hội nói chung.

3.1.3. Nguyên tắc chuyên môn hóa

Nguyên tắc này yêu cầu hoạt động nghiên cứu khoa học phải được thực

hiện bởi những người có trình độ chuyên môn khoa học, được đào tạo, có tay

nghề làm đúng vị trí trong guồng máy của hệ thống quản lý. Trong hoạt động

này, mỗi người phải thực hiện những phần viện phù hợp với chức năng và

năng lực chuyên môn, người quản lý phải được đào tạo về khoa học quản lý

và am hiểu lĩnh vực chuyên môn mình phụ trách.

3.1.4. Nguyên tắc sử dụng phối hợp toàn diện các phương pháp quản lý

một cách hệ thống, toàn diện, cân đối

Các biện pháp xây dựng phải có quan hệ biện chứng, liên kết chặt chẽ

và hỗ trợ lẫn nhau trong một chỉnh thể thống nhất. Đồng thời các biện pháp

này phải được xây dựng vừa tuyến tính theo thời gian của quá trình quản lý

hoạt động nghiên cứu khoa học, vừa mang tính chuyên sâu của phương

pháp quản lý. Trong đó kết hợp hài hòa các phương pháp hành chính, tâm lý

giáo dục và kinh tế, đặc biệt coi trọng phương pháp kinh tế.



62



Tính toàn diện, cân đối của hệ thống biện pháp còn thể hiện ở chỗ sự

tham gia của mọi thành viên trong tổ chức, “mỗi người một việc” tuỳ theo

chức năng công tác, đồng thời các biện pháp tác động toàn diện lên tất cả các

mặt: nhận thức, thái độ, tình cảm, ý chí, hành vi của đối tượng quản lý.

3.2. Các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt

động nghiên cứu khoa học ở trường Đại học Công đoàn

Trong phần trình bày dưới đây, đề tài đưa ra những biện pháp quản lý

hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên ở Trường Đại học Công đoàn,

trong đó, tác giả nhấn mạnh một số biện pháp có những cải tiến bổ sung rõ

nét, có tác dụng nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa

học của giảng viên Nhà trường trong bối cảnh hiện nay.

3.2.1. Biện pháp 1

Quản lý chặt chẽ các nguồn lực nghiên cứu khoa học

3.2.1.1. Mục đích và ý nghĩa của biện pháp

Mục đích của biện pháp là xây dựng, tổ chức khai thác sử dụng và

phát triển các nguồn lực nghiên cứu khoa học một cách vững chắc lâu dài

theo hướng chuẩn hóa - hiện đại hóa, đủ khả năng và điều kiện hoàn thành

nhiệm vụ nghiên cứu khoa học ngày càng khó khăn của nhà trường, đáp

ứng nhu cầu nghiên cứu của giảng viên, cán bộ, nhân viên và sinh viên

Nhà trường, đưa Trường Đại học Công đoàn thành một trung tâm nghiên

cứu khoa học trong hệ thống công đoàn nói riêng và hệ thống giáo dục đại

học Việt Nam nói chung.

Nguồn lực là nhân tố, nền tảng tiền đề quyết định thành quả của hoạt

động nghiên cứu khoa học của Nhà trường. Đồng thời, phát triển nguồn lực

nghiên cứu khoa học cũng làm tăng cường sức mạnh toàn diện của Nhà

trường để hoàn thành các nhiệm vụ khác tốt hơn, đặc biệt góp phần xây dựng



63



đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý đủ sức gánh vác nhiệm vụ ngày càng

cao hơn của Nhà trường.

3.2.1.2. Nội dung biện pháp và quy trình thực hiện

Biện pháp này gồm 3 nội dung chính:

- Tổ chức quản lý, khai thác, sử dụng và phát triển nguồn nhân lực

nghiên cứu khoa học.

- Cải thiện, tăng cường nguồn tài lực và vật lực cho hoạt động nghiên

cứu khoa học.

- Khai thác, quản lý và phát triển nguồn thông tin cho hoạt động nghiên

cứu khoa học.

Các nội dung này liên quan, tác động hỗ trợ lẫn nhau, bổ sung cho nhau.

Đó là các mặt của 1 vấn đề thống nhất trong thực tiễn quản lý của Nhà

trường.

Quy trình thực hiện:

- Rà soát, kiểm kê, đánh giá lại thực lực các nguồn nhân lực, vật lực, tài

lực và tin lực của nhà trường.

- Dự báo về sự phát triển của Trường trong từng giai đoạn cùng với các

yếu tố của môi trường kinh tế - xã hội, môi trường giáo dục - văn hóa, môi

trường khoa học - công nghệ ở Thủ đô và cả nước có tác động đến hoạt động

và sự phát triển của Nhà trường.

- Xác định mục tiêu, nhiệm vụ căn cứ vào kế hoạch của cấp trên (Bộ

Giáo dục - Đào tạo, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Bộ Khoa học Công nghệ, UBND Thành phố Hà Nội…) và phân tích các yếu tố trên, từ đó:

- Xây dựng kế hoạch quản lý và phát triển nguồn lực nghiên cứu khoa

học của Nhà trường. Trước hết phải xây dựng chiến lược hoạt động nghiên

cứu khoa học trong tầm nhìn ít nhất 5 năm, trong đó thể hiện đầy đủ các chỉ

tiêu thực hiện cho từng thời kỳ, lộ trình, bước đi ở từng năm học, sau đó phải

xây dựng kế hoạch và chương trình hành động cụ thể hàng năm.

64



- Thực hiện kế hoạch tổ chức, khai thác sử dụng và phát triển nguồn lực

nghiên cứu khoa học của nhà trường.

- Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch trên và đưa ra những điều

chỉnh cần thiết trong chu trình mới.

Khi triển khai thực hiện các bước trên, mỗi nội dung có một số vấn đề cụ

thể khác nhau. Cụ thể:

(a). Tổ chức quản lý và phát triển nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học.

- Giáo dục tư tưởng, quán triệt nhiệm vụ đối với hoạt động nghiên cứu

khoa học cho mọi thành viên của Nhà trường: thông qua đợt học chính trị đầu

năm học, qua các buổi sinh hoạt chuyên môn, các hội nghị, hội thảo…, lãnh

đạo quán triệt nhiệm vụ nghiên cứu khoa học cho cán bộ, giảng viên và sinh

viên, tuyên truyền về vai trò quan trọng của hoạt động nghiên cứu khoa học

đối với việc trau dồi năng lực nghề nghiệp của mỗi người và đối với sự

nghiệp của nhà trường, đặc biệt, tổ chức áp dụng ngay các kết quả nghiên cứu

khoa học vào trong hoạt động dạy học và công tác để mọi người thấy rõ ích

lợi của hoạt động nghiên cứu khoa học. Làm phong phú các hình thức sinh

hoạt khoa học như mời các nhà khoa học tên tuổi nói chuyện thời sự khoa

học, tổ chức các câu lạc bộ khoa học theo chuyên đề một cách sinh động.

Xây dựng môi trường lao động mô phạm trong sáng, tạo không khí cạnh

tranh lành mạnh, thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học phát triển thành

phong trào thường xuyên trong giảng viên và sinh viên.

- Làm tốt công tác tổ chức cán bộ: Trước hết, rà soát, đánh giá lại thực

lực đội ngũ nghiên cứu khoa học và cán bộ quản lý nghiên cứu khoa học

hiện có theo các tiêu chuẩn, trong đó cần nhấn mạnh tiêu chí về năng lực

và triển vọng phát triển năng lực nghiên cứu khoa học. Ngoài việc xem xét

về sức khoẻ, bằng cấp đã đào tạo, số năm kinh nghiệm, thành tích nghiên

cứu khoa học đã đạt được, kể cả khi còn học đại học, khả năng về ngoại

ngữ và công nghệ thông tin, kiến thức về phương pháp luận nghiên cứu

65



khoa học. Từ đó có kế hoạch sắp xếp, phân công hợp lý và tổ chức bồi

dưỡng thêm về kiến thức, kỹ năng nghiên cứu khoa học cho những giảng

viên còn yếu kém, giảng viên trẻ cũng như tuyển dụng thêm những người

giỏi để bổ sung đội ngũ nghiên cứu khoa học của Nhà trường đủ về số lượng,

mạnh về chất lượng, cân đối về cơ cấu.

- Lựa chọn, bố trí đội ngũ nghiên cứu viên giỏi gồm những người có học

vấn cao, là các tiến sỹ, các cán bộ và giảng viên giàu kinh nghiệm đã có

những sản phẩm nghiên cứu khoa học có giá trị, đã được khẳng định làm

nòng cốt cho hoạt động nghiên cứu khoa học ở các chuyên ngành và các bộ

phận. Mạnh dạn đề ra một số chính sách mạnh để khai thác tài năng của đội

ngũ này cũng như có hình thức làm cho họ giúp đỡ những người khác trong

hoạt động nghiên cứu khoa học. Với những người có năng lực sáng tạo đặc

biệt, sắp xếp bớt thời lượng giảng dạy và các việc sự vụ khác để giải phóng

thời gian cho họ tập trung nhiều hơn vào nghiên cứu khoa học.

- Quản lý tốt công tác tự học, tự bồi dưỡng của giảng viên. Tiếp tục tổ

chức dưỡng kiến thức chuyên môn, tin học, ngoại ngữ, các kỹ năng và

phương pháp luận nghiên cứu khoa học cho giảng viên. Các khoa, bộ môn

phân công người có kinh nghiệm giúp đỡ các giảng viên trẻ và người còn yếu

trong nghiên cứu khoa học. Chẳng hạn cùng nhau thực hiện chung 1 đề tài.

- Tổ chức liên kết giữa các giảng viên ở chuyên ngành khác nhau, ở các

khoa, bộ môn khác nhau để kết hợp trí tuệ tập thể trong những dự án nghiên

cứu lớn, đề tài trọng điểm.

- Tuỳ theo từng điều kiện cụ thể, có hình thức hợp tác với các cơ quan,

tổ chức bên ngoài trường để vừa phối kết hợp thực hiện một số đề tài, vừa tạo

điều kiện cho cán bộ, giảng viên học tập kinh nghiệm hoạt động nghiên cứu

khoa học của các tổ chức, đơn vị bạn.



66



(b). Cải thiện, tăng cường nguồn tài lực và vật lực cho hoạt động

nghiên cứu khoa học.

Tăng cường đầu tư kinh phí cho hoạt động nghiên cứu khoa học: Hiện

nay mức chi cho nghiên cứu khoa học của Nhà trường so với các khoản chi

khác chưa thể đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của hoạt động nghiên cứu khoa

học. Vì thế, tăng cường kinh phí cho nghiên cứu khoa học là một yêu cầu

cần thiết đối với Trường Đại học Công đoàn. Các cấp lãnh đạo cần quán

triệt sâu sắc chủ trương “đầu tư cho khoa học là đu tư cho phát triển”,

nghiên cứu khoa học là loại lao động trí tuệ đỉnh cao mà không phải ai cũng

có thể làm được. Vấn đề ở đây là phải tháo gỡ những vướng mắc, bất cập về

cơ chế quản lý thu chi để có quy định, kế hoạch và phương án tài chính cụ

thể của trường phù hợp, ăn khớp với các văn bản quy định chế độ tài chính

của Nhà nước. Trường chỉ đạo Phòng Tài vụ xem xét một cách cụ thể.

Ngoài những văn bản quy định về tài chính hiện hành, Nhà trường chủ động

đề xuất, tham mưu với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam cùng bàn bạc

với các sở, ban ngành liên quan như Sở Khoa học - công nghệ, Bộ Giáo dục

- Đào tạo để thống nhất văn bản quy định về định mức chi ngân sách cho

hoạt động nghiên cứu khoa học để có sơ sở pháp lý cụ thể phù hợp hơn xây

dựng kế hoạch kinh phí cho hoạt động nghiên cứu khoa học. Kế hoạch này

phải thể hiện được tính chất đặc thù của hoạt động nghiên cứu khoa học.

Nhà trường xây dựng tiêu chí cụ thể để định lượng mức chi phù hợp với kết

quả nghiên cứu của từng công trình, khuyến khích người nghiên cứu. Đặc

biệt cần xây dựng cơ chế khen thưởng rõ ràng để giảng viên và sinh viên

trong trường có thêm động lực tham gia nghiên cứu khoa học tích cực hơn.

Các kế hoạch, chế độ, thủ tục về kinh phí hoạt động nghiên cứu khoa học

cần phải tường minh, dễ thực hiện và phải được phổ biến công khai, rộng rãi

cho mọi người.



67



Một vấn đề cần được giải quyết là trường phải có văn bản quy định cụ

thể những hoạt động nào được quy định vào hoạt động nghiên cứu khoa học

của giảng viên, định mức cho từng đối tượng theo chức danh, mức thù lao và

thủ tục chi trả, thanh toán cụ thể.

Về phía người nghiên cứu, cần có kế hoạch dự trù kinh phí xác đáng kèm

theo kế hoạch đề cương nghiên cứu đề tài.

Tăng cường điều kiện cơ sở vật chất và cung cấp trang thiết bị, phương tiện

dụng cụ cho nghiên cứu khoa học:

- Đẩy nhanh tiến độ xây dựng cơ bản theo dự án cải tạo xây dựng đã được

phê duyệt.

- Sửa chữa, nâng cấp các máy móc thiết bị đã có và trang bị thêm các đồ

dùng, tài liệu sách báo cần thiết, cải tiến thủ tục sử dụng sao cho thật thuận tiện

cho người dùng.

- Nâng cấp mạng LAN, mạng internet, tổ chức khâu vận hành, bảo trì và

khai thác sử dịng có hiệu quả vào công tác quản lý và các hoạt động, trong đó

có hoạt động nghiên cứu khoa học của Nhà trường.

- Xây dựng, lắp đặt và đưa vào sử dụng thư viện điện tử.

(c). Quản lý, khai thác và phát triển nguồn thông tin cho hoạt động

nghiên cứu khoa học:

- Tạo lập và duy trì cơ chế trao đổi thông tin khoa học, nhất quán trong

trường. Đối với các thông tin về quản lý, điều hành cần tinh lọc, việc thu

nhận, truyền phát thông tin phải đúng chức năng, thẩm quyền, hạn chế bớt

các văn bản giấy tờ mang thông tin sự vụ nhất thời, để giảm bớt sự nhiễu loạn

thông tin và tiết kiệm vật chất, thời gian.

- Tăng cường mua sắm tài liệu, sách vở chuyên sâu, phù hợp vớu nhu

cầu nghiên cứu của giảng viên và sinh viên, chú ý ưu tiên các tài liệu về

phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu khoa học, về khoa học quản lý



68



giáo dục, cập nhật các tri thức hiện đại. Khi lập và duyệt kế hoạch mua sắm

phải thu thập đề xuất từ dưới cơ sở lên, từ bộ môn và từng cá nhân.

- Có biện pháp cụ thể để lưu trữ và cập nhật thông tin cần thiết. Nhà

trường và mỗi bộ phận lưu trữ các văn bản pháp qui, các quy định cụ thể, các

kết quả hoạt động từng mặt hàng năm... Trường tạo kho cơ sở dữ liệu để mọi

người tiện khai thác sử dụng.

- Phát huy vai trò, tác dụng của công nghệ thông tin vào nghiên cứu khoa

học và quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học. Song song với việc trang bị

thêm, sửa chữa, bảo dưỡng nâng cấp máy móc, thiết bị, trường cần chú trong

nâng cao kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin cho giảng viên bằng biện pháp

mạnh như đưa ra một số quy định bắt buộc, gắn với công tác thi đua...

Để thực hiện có hiệu quả, việc xây dựng và phát triển nguồn lực nghiên

cứu khoa học phải được cấp uỷ Đảng lãnh đạo quan tâm, coi đó là một trong

các nhiệm vụ then chốt hàng đầu để phát triển Nhà trường.

3.2.2. Biện pháp 2

Tổ chức lại bộ máy quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học một cách

hợp lý, hiệu quả.

3.2.2.1. Mục đích của biện pháp

Sắp xếp, kiện toàn lại bộ máy quản lý nghiên cứu khoa học của Nhà

trường tương xứng với chức năng và nhiệm vụ của hoạt động nghiên cứu khoa

học trong tương quan với các mặt hoạt động khác như hoạt động dạy học, đào

tạo, bồi dưỡng theo từng bước phát triển Nhà trường. Bộ máy cơ cấu theo

hướng gọn nhẹ nhưng phải chuẩn hóa, đủ công năng để quán xuyến và thúc

đẩy mạnh mẽ phong trào nghiên cứu khoa học của Nhà trường. Tăng cường

thực hiện phân quyền để tăng sự chủ động, sáng tạo của cấp cơ sở, của từng

cá nhân.

3.2.2.2. Quy trình thực hiện

69



Hiển nhiên công tác quản lý nghiên cứu khoa học có quan hệ chặt chẽ

với quản lý các công tác khác, đặc biệt là quản lý chuyên môn của Nhà

trường. Vì thế, bộ máy quản lý nghiên cứu khoa học là một phân hệ trong

bộ máy quản lý chung của Nhà trường, kể cả tính pháp lý và hiệu lực hoạt

động thực tế. Việc tổ chức bộ máy quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học

của nhà trường cơ bản dựa trên sự phận công chức năng cho các đơn vị và

cá nhân. Việc chấn chỉnh, cải tiến bộ máy quản lý nghiên cứu khoa học nằm

trong tiến trình cải cách hành chính nói chung.

- Việc đầu tiên phải làm là cần có sự bố trí, sắp xếp lại bộ phận chuyên

trách quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của Nhà trường. Nghiên cứu

khoa học của giảng viên và sinh viên cần phải có cơ chế hoạt động, chức

năng, nhiệm vụ quyền hạn rõ ràng, nhưng phải ăn khớp với các bộ phận khác

trong guồng máy làm việc chung của Nhà trường. Đội ngũ cán bộ của phòng

Quản lý Khoa học phải có đủ về số lượng và mạnh về chất lượng, phải tinh

thông chuyên môn, nghiệp vụ về hoạt động nghiên cứu khoa học và biết

quản lý, điều hành. Họ phải biết tham mưu cho lãnh đạo tổ chức và huy

động các nguồn lực phục vụ hoạt động nghiên cứu khoa học, biết khơi dậy

và kích thích niềm say mê và năng lực nghiên cứu khoa học cũng như tiềm

năng sáng tạo của tập thể giảng viên và sinh viên.

Chúng tôi đề xuất: Trước mắt, phòng Quản lý khoa học có một bộ phận

chuyên trách theo dõi, quản lý phân theo từng mảng của các hoạt động

nghiên cứu khoa học (bộ phận quản lý các đề tài cấp trên cơ sở, bộ phận quản

lý các đề tài cấp cơ sở và bộ phận quản lý các đề tài của sinh viên).

- Phân công, quy định rành mạch về chức năng, trách nhiệm, quyền

hạn và quyền lợi cho từng bộ phận đối với hoạt động nghiên cứu khoa học

theo từng tiêu chí, tiêu chuẩn nhất định, trong đó phải xác định rõ các mối

quan hệ công tác giữa các cấp, các đơn vị, cán bộ, giảng viên với nhau.

- Việc quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học ở cấp khoa, bộ môn đặc

biệt quan trọng, Nhà trường tạo điều kiện, giao cho cấp này quyền chủ động

70



mạnh hơn trong công tác. Chính cấp quản lý này phải trực tiếp chịu trách

nhiệm về nội dung, chất lượng của các đề tài nghiên cứu khoa học của giảng

viên. Những yêu cầu bức xúc của nhiệm vụ dạy và học đều được các thành

viên của khoa, bộ môn nắm bắt đầu tiên và chính họ chủ động trong việc đưa

ra các vấn đề, các mâu thuẫn cần giải quyết, từ đó nảy sinh ý tưởng và thai

nghén các đề tài khoa học. Do đó, khoa, bộ môn là những đơn vị trực tiếp đề

xuất vấn đề nghiên cứu và cùng chịu trách nhiệm đánh giá chất lượng, hiệu

quả của công trình nghiên cứu. Ở Khoa, Bộ môn không có biên chế riêng phụ

trách hoạt động nghiên cứu khoa học, Trưởng, Phó bộ phận phụ trách chung

mọi công tác của đơn vị mình.. Tuy vậy nên phân công cho một trợ lý

Trưởng bộ phận tham mưu, hỗ trợ cho lãnh đạo khoa, bộ môn làm đầu mối

để trao đổi thông tin quản lý hoạt động này.

- Ngoài ra để các đề tài nghiên cứu khoa học được tiến hành thuận lợi, tránh

được những khó khăn về thời gian, về điều kiện, phương tiện nghiên cứu, về kinh

phí cần có sự tham gia của các bộ phận khác trong trường như phòng Tài vụ,

Phòng Thông tin tư liệu, Phòng Tổ chức, Phòng Hành chính tổng hợp...

3.2.3. Biện pháp 3

Đa dạng hoá các hình thức sinh hoạt khoa học.

3.2.3.1. Mục đích và ý nghĩa của biện pháp

Đây là biện pháp phong phú hóa hình thức sinh hoạt khoa học, tao ra

môi trường khoa học sinh động, mở ra nhiều kênh trao đổi thông tin khoa

học, tạo điều kiện học tập lẫn nhau giữa mọi người để tham gia hoạt động

nghiên cứu khoa học tốt hơn.

3.2.3.2. Nội dung biện pháp và quy trình thực hiện

Từ trước đến nay Nhà trường đã thực hiện công việc này khá tốt, tuy

nhiên cần cải tiến mấy vấn đề sau đây:



71



- Đối với các hội nghị, hội thảo quan trọng cần chú trọng khâu chuẩn bị

tốt, nội dung có chiều sâu. Tiểu ban phụ trách nội dung có thể đặt hàng với

các chuyên gia viết bài và đóng góp ý kiến chủ chốt. Vấn đề đặt ra trong các

Hội thảo, Hội nghị có tính chất mở để sau khi hội nghị, hội thảo kết thúc, mọi

người vẫn tiếp tục quan tâm thảo luận, giải quyết vấn đề.

- Trước mắt tổ chức một Hội thảo tại trường với chuyên đề đổi mới công

tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học.

- Hàng năm, Nhà trường tổ chức một Hội nghị khoa học sau khi hoàn

thành việc thẩm định, nghiệm thu các đề tài với sự tham gia của tất cả giảng

viên và người có liên quan đến công tác nghiên cứu khoa học. Nội dung chính

của Hội nghị gồm: tổng kết công tác nghiên cứu khoa học trong năm học

trước, triển khai ứng dụng các kết quả nghiên cứu mới, thảo luận những vấn

đề mới đặt ra trong hoạt động nghiên cứu khoa học, từ đó đưa ra định hướng

hoạt động cho năm học mới, chú trọng giảng quyết những vướng mắc của

những người tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học, nhất là những ý kiến có

tính cải tiến, sáng tạo trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả của nghiên

cứu khoa học.

- Ngoài việc tổ chức hội nghị, hội thảo, sinh hoạt chuyên môn định kỳ ở

các bộ phận, nên cổ động Công đoàn, Đoàn Thanh niên, các chi đoàn giáo

viên, chi đoàn văn phòng cơ quan phát huy vai trò của mình trong nghiên cứu

khoa học, tổ chức các câu lạc bộ, viết bài đăng thông tin khoa học... tổ chức

các cuộc thi sáng tạo trong giảng dạy và học tập, nghiên cứu khoa học...

- Cử giảng viên tham gia các hội thảo khoa học, đi học tập, giao lưu

với các đơn vị bạn và các trường, các cơ sở giáo dục phổ thông, quản lý tốt

công tác tự học tập, bồi dưỡng hàng năm của giảng viên, gắn công tác này

với nhiệm vụ nghiên cứu khoa học của họ.

3.2.4. Biện pháp 4

Quản lý chặt chẽ hoạt động đối ngoại trong nghiên cứu khoa học

3.2.4.1. Mục đích và ý nghĩa của biện pháp



72



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (104 trang)

×