1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ QUÁ TRÌNH DẠY HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG ĐẠI MỖ - TỪ LIÊM - HÀ NỘI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.63 MB, 117 trang )


3.1.4. Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi

Các biện pháp nêu ra được tổ chức thực hiện trong các điều kiện, hoàn

cảnh cụ thể nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Muốn đảm bảo tính khả thi thì

trước hết phải nhận thức đúng đắn về ý nghĩa tác dụng từng biện pháp đã nêu

ra, biết vận dụng sáng tạo từng biện pháp cũng như kết hợp hài hòa, hợp lý

các biện pháp nêu ra phải phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương cũng

như xu thế phát triển giáo dục của thánh phố và của toàn quốc.

3.2. Các biện pháp quản lí nhằm hoàn thiện quá trình dạy học

Từ cơ sở lý luận ở chương 1 và thực trạng trong chương 2, trên cơ sở

nguyên tắc lựa chọn các biện pháp đề xuất, tôi đề xuất các biện pháp

QLQTDH ở trường THPT Đại Mỗ trong giai đoạn hiện nay như sau:

3.2.1. Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức cho giáo viên, học sinh và các

lực lượng xã hội về sự cần thiết phải nâng cao chất lượng dạy học ở

trường THPT

3.2.1.1. Mục tiêu của biện pháp

Bằng các hoạt động quản lí, người Quản lí cần giúp cho giáo viên, học

sinh và các lực lượng xã hội thấy được thực chất của chất lượng giáo dục ở

các nhà trường trong những năm vừa qua; thấy được những nguyên nhân ảnh

hưởng đến chất lượng giáo dục; thấy được chất lượng đó là chưa đáp ứng

được yêu cầu của sự nghiệp đổi mới của đất nước, chưa phù hợp với sự

nghiệp công nghiệp hóa- hiện đại hóa. Vấn đề đặt ra cho giáo dục là phải

nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường để góp phần nâng cao chất

lượng giáo dục toàn diện.

3.2.1.2.Nội dung và cách thực hiện

Để làm tốt các mục tiêu trên, người quản lí tùy theo đối tượng cần có

các biện pháp cụ thể và phù hợp.

Đối với đội ngũ nhà giáo: Là lực lượng có vai trò quyết định việc bảo

đảm chất lượng giáo dục, hơn ai hết họ phải thấy được thực chất chất lượng

giáo dục. Những năm qua, do còn nhiều bất cập trong giáo dục như: Chương

57



trình giáo dục, nội dung giáo dục, đội ngũ giáo viên với phương pháp dạy

học, sự chỉ đạo của các cấp quản lí giáo dục… đã dẫn đến chất lượng giáo dục

học sinh THPT còn chưa cao, chưa đáp ứng với yêu cầu phát triển đất

nước.Trước thực tế đó, ngành giáo dục đã đổi mới chương trình giáo dục,

phương pháp giáo dục, phương pháp quản lí giáo dục… Thực hiện được công

việc đổi mới đó, người quyết định là đội ngũ nhà giáo. Bởi vậy, đội ngũ nhà

giáo phải nhận thức rõ trách nhiệm của mình để thực hiện được sự nghiệp đổi

mới với đích cuối cùng là nâng cao chất lượng giáo dục trong các nhà trường.

Để làm tốt các vấn đề trên các trường cần phải:

- Tổ chức các hội thảo đánh giá chất lượng giáo dục của trường mình

trong những năm qua, để thấy được những mặt nhà trường đã làm tốt; những

mặt chưa làm tốt và những nguyên nhân ảnh hưởng đến những mặt đó; thấy

được chất lượng giáo dục của trường mình so với các trường khác và so với

yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước. Trong buổi hội thảo, nhà trường

thông báo cho giáo viên biết số liệu cụ thể về học sinh tiếp tục học lên đại

học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp.

- Tổ chức học tập chương trình giáo dục, phương pháp giáo dục mới.

Tích cực cử giáo viên tham gia các lớp tập huần chuyên môn do sở Giáo dục

& Đào tạo tổ chức.

- Thống nhất việc kiểm tra đánh giá học sinh theo tinh thần đổi mới.

- Nghiêm túc thực hiện cuộc vận động “ Nói không với tiêu cực trong

thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”, phong trào “ xây dựng trường học

thân thiện, học sinh tích cực”....

Đối với học sinh: Cần giáo dục cho các em biết: học để ngày mai lập

nghiệp, “ học để biết, học để làm, học để cùng chung sống, học để tự khẳng

định mình”, Từ đó đòi hỏi mỗi học sinh cần phải có động cơ, thái độ học tập

đúng đắn, nghiêm túc. Để thực hiện tốt các nội dung trên cần phải:

- Vào đầu năm học tổ chức cho học sinh học tập nghiêm túc về nhiệm

vụ của người học sinh THPT, những quy định cụ thể của nhà trường đối với

58



học sinh, dưới các hình thức sau: Tổ chức toàn trường để các lớp ký cam kết

thực hiện với nhà trường; tổ chức theo từng lớp để từng học sinh ký cam kết

với lớp, trường; sau đó đưa vào nội dung thi đua để đánh giá các lớp, đánh giá

học sinh.

- Phối hợp với đoàn trường tổ chức các đợt thi đua học tập tốt lập

thành tích chào mừng các ngày kỷ niệm trong năm: Cụ thể là ngày nhà giáo

Việt Nam 20/11; ngày thành lập đoàn TNCS Hồ Chí Minh 26/3…

- Yêu cầu giáo viên thực hiện nghiêm túc việc đánh giá học sinh theo

phương châm “ Trung thực trong kiểm tra, công bằng trong đánh giá”

- Xây dựng nội quy học sinh để yêu cầu học sinh thực hiện. Trên mỗi

lớp học đều phải có nội quy học sinh để nhắc nhở các em thực hiện thường

xuyên.

Đối với cha mẹ học sinh và các lực lƣợng xã hội khác: Thông qua

tuyên truyền bằng các phương tiện thông tin đại chúng, thông qua đội ngũ

giáo viên nhà trường, tranh thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo của chính quyền địa

phương, thông qua sự truyền đạt của học sinh giúp họ thấy được thực chất

chất lượng giáo dục của nhà trường, để từ đó họ có thái độ đúng đắn về chất

lượng giáo dục của nhà trường trong những năm qua: Mặt đã làm được, mặt

chưa làm được và để họ cùng với ngành giáo dục khắc phục những thiếu sót

trong việc đánh giá chất lượng giáo dục. Muốn vậy nhà trường cần phải:

- Chấp hành tốt sự chỉ đạo của các cấp quản lí, tranh thủ sự ủng hộ để

phát triển nhà trường. Thông qua các văn bản báo cáo như: Sơ kết học kỳ,

tổng kết năm học, kế hoạch phát triển nhà trường… để các cấp Quản lí thấy

được chất lượng giáo dục, hướng phát triển của nhà trường, từ đó có những

chỉ đạo sát thực hơn cho nhà trường.

- Cần tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ về vật chất và tinh thần của các

tổ chức xã hội phục vụ cho hoạt động dạy và học của nhà trường

- Với CMHS: Tổ chức chặt chẽ ban đại diện cha mẹ học sinh nhà

trường, tạo điều kiện thuận lợi, động viên để họ tham gia tích cực vào các

59



hoạt động giáo dục của nhà trường; lắng nghe ý kiến của phụ huynh học sinh

đóng góp xây dựng nhà trường; phối hợp chặt chẽ với ban đại diện cha mẹ

học sinh, phụ huynh học sinh trong việc xác định động cơ thái độ học tập,

hướng nghiệp cho học sinh; thông qua sổ liên lạc điện tử, qua các kỳ họp hội

nghị cha mẹ học sinh thường xuyên thông báo kết quả học tập rèn luyện của

con em họ.

3.2.2. Biện pháp 2: Hoàn thiện các quy chế quản lí quá trình dạy học

3.2.2.1 Mục tiêu của biện pháp

Thiết lập môi trường hành lang pháp lý trong điều hành và quản lí hoạt

động giảng dạy của giáo viên, hoạt động học tập của học sinh.

Thực hiện đầy đủ, đúng tiến độ, kiểm soát chặt chẽ, có hiệu quả đối với

chương trình giảng dạy và quy chế chuyên môn của Bộ GD&ĐT.

Tạo động lực cho giáo viên và học sinh trong phong trào thi đua “dạy

tốt- học tốt”.

Đáp ứng những yêu cầu và đòi hỏi về mục tiêu, nội dung, phương pháp

giáo dục THPT của nhà nước.

Lựa chọn được các biện pháp quản lí phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh

của nhà trường và địa phương.

Phối hợp thực hiện có hiệu quả mối quan hệ giáo dục: Nhà trường - Gia

đình - Xã hội.

Nâng cao kết quả học tập của học sinh, góp phần nâng cao chất lượng

đào tạo, đáp ứng yêu cầu của địa phương và xã hội trong thời kỳ công nghiệp

hoá, hiện đại hoá đất nước.

3.2.2.2. Nội dung và cách thực hiện

Đối với hoạt động giảng dạy của giáo viên:

+ Tổ chức cho giáo viên học tập các văn bản pháp quy về giáo dục đào

tạo (chú ý các khâu: giảng dạy, kiểm tra đánh giá) và các định hướng phát

triển GD&ĐT trong thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, đặc biệt



60



là luật giáo dục và chiến lược pháp triển GD&ĐT đến năm 2020 của Bộ

GD&ĐT.

+ Chỉ đạo, tổ chức thực hiện chặt chẽ, đúng, đầy đủ, có hiệu quả

chương trình giảng dạy, kế hoạch, quy chế chuyên môn của Bộ GD&ĐT và

mục tiêu, nội dung, phương pháp giảng dạy cấp học của nhà nước bằng cách

xây dựng, thực hiện thời khoá biểu khoa học, hợp lý đúng quy định của môn

học, phù hợp với nguồn lực hiện có của nhà trường trong mọi hoàn cảnh.

Chỉ đạo tổ chuyên môn phân công giáo viên có kinh nghiệm giảng dạy

có trình độ chuyên môn vững vàng, các giáo viên giỏi kèm cặp giúp đỡ giáo

viên mới ra trường hoặc còn non yếu về chuyên môn bằng cách: thường

xuyên trao đổi về vấn đề nội dung bài học, dự giờ rút kinh nghiệm, hướng dẫn

cách soạn bài, xây dựng kế hoạch bài dạy, chuẩn bị các đồ dùng cần thiết, xử

lý tình huống sư phạm xảy ra và các hoạt động giáo dục khác.

+ Quy định tổ chuyên môn, giáo viên bộ môn phải làm đầy đủ hồ sơ

chuyên môn, đặc biệt phải lên kế hoạch giảng dạy chi tiết tới từng tuần, tháng,

học kỳ và cả năm học. Chú trọng việc xác định nội dung trọng tâm, phương

pháp giảng dạy từng bài từng tiết, báo giảng hàng tuần.

+ Thực hiện thông qua tổ chuyên môn, tổ chức xây dựng phân phối

chương trình môn học dựa trên PPCTMH của Bộ GD&ĐT đến từng giáo

viên bộ môn. Yêu cầu giáo viên giảng dạy đúng tiến trình, tiến độ, kế hoạch

không được cắt xén, thay đổi nội dung chương trình, coi sách giáo khoa là

pháp lệnh thể hiện mục tiêu, nguyên lý giáo dục, cụ thể hoá nội dung, phương

pháp giáo dục quy định trong chương trình của cấp học.

+ Phổ biến cách sử dụng hồ sơ sổ sách chuyên môn, quy định cách ghi

tên ghi điểm, lên điểm ở sổ điểm lớn và sổ điểm cá nhân.

+ Chỉ đạo tổ chuyên môn hoạt động có hiệu quả, sinh hoạt hàng tuần có

chất lượng, phân công giảng dạy và phục vụ dạy học hợp lý, thực hiện dự giờ

thăm lớp, xếp loại chuyên môn giáo viên, góp ý, rút kinh nghiệm thường



61



xuyên, thực hiện thống nhất tiến độ thực hiện các loại bài kiểm tra, quy chế

cho điểm, cách ra đề, duyệt đề, thời gian chấm, trả bài, lên điểm.

+ Giao cho Phó hiệu trưởng (phụ trách chuyên môn), Tổ trưởng

chuyên môn có trách nhiệm duyệt kế hoạch giảng dạy và giáo án lên lớp của

giáo viên trước một tuần (đặc biệt chú trọng nội dung, kiến thức cơ bản và

phương pháp giảng dạy của từng tiết học, bài học).

+ Đưa việc thực hiện quy chế chuyên môn vào nội dung đánh giá thi đua.

+ Hiệu trưởng yêu cầu Phó hiệu trưởng phụ trách chuyên môn, Tổ

trưởng chuyên môn nộp sổ điểm theo dõi hồ sơ sổ sách chuyên môn, xếp loại

chuyên môn của giáo viên có chế độ báo cáo thường xuyên với Hiệu trưởng.

+ Cải tiến đổi mới phương pháp dạy học thông qua xây dựng kế hoạch

đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao nhận thức cho giáo viên về tính tất

yếu thường xuyên phải đổi mới phương pháp dạy học, cải tiến, đổi mới

phương pháp dạy học là nhiệm vụ thường xuyên của người giáo viên bởi

người dạy là “nhân tố quyết định của giáo dục”. Phát động các phong trào

nghiên cứu để đổi mới, cải tiến phương pháp dạy học. Kiên quyết bài trừ lối

dạy “đọc chép” và “dạy chay” mang kiểu “dạy học thụ động, chuyền thụ một

chiều, thầy dạy trò ghi nhớ” cải tiến sinh hoạt chuyên môn về nội dung, đưa

ra các vấn đề cần thảo luận, toạ đàm về phương pháp dạy học và trao đổi

phương pháp dạy học, từng tiết, từng bài, cũng như cách soạn giảng. Các nội

dung này phải được đưa ra, thành chủ đề chính của các buổi sinh hoạt chuyên

môn. Xây dựng mối quan hệ trong quá trình lên lớp giữa thầy và trò là mối

quan hệ hợp tác, trong đó thầy giữ vai trò chủ đạo trong quá trình định hướng,

tổ chức cho học sinh tự chiếm lĩnh tri thức đảm bảo “khơi dậy và phát huy

năng lực tự học, sáng tạo của học”; tạo mọi điều kiện để giáo viên tiếp cận

với những phương pháp dạy học mới và sử dụng các trang thiết bị dạy học,

động viên khuyến khích giáo viên cải tiến phương pháp dạy học, trường hợp

chất lượng và học sinh quá yếu cần phải khảo sát, phân tích, xác định mức độ

của giáo viên và học sinh, lấy đó làm cơ sở để lựa chọn những phương pháp



62



dạy học phù hợp, sát đối tượng để dần dần nâng cao chất lượng. Thành lập

ban chỉ đạo theo dõi việc cải tiến, đổi mới phương pháp dạy học, có tổng kết,

đúc rút, phổ biến kinh nghiệm, có khen thưởng, kỷ luật.

Đối với GVCN lớp:

+ Xây dựng kế hoạch chủ nhiệm lớp: GVCN là người quản lí toàn diện

HS một lớp, không phải chỉ nắm được những chỉ số của quản lí hành chính

như tên, tuổi, số lượng, gia cảnh, trình độ HS về học lực, đạo đức… mà còn

phải dự báo xu hướng phát triển nhân cách của HS trong lớp để có phương

hướng tổ chức hoạt động giáo dục, dạy học cho phù hợp điều kiện, khả năng

của mỗi HS. Trong nhà trường hiệu trưởng hoặc phó hiệu trưởng ( phụ trách

đức dục) trực tiếp chỉ đạo, điều hành hoạt động của GVCN, chỉ đạo thống

nhất để cho các GVCN tiến hành lập kế hoạch chủ nhiệm một cách cụ thể và

sát với tình hình của từng lớp.

Xây dựng kế hoạch phối hợp giữa GVCN với GVBM và tổ chức đoàn

thể trong và ngoài nhà trường trong việc quản lí nề nếp, giáo dục đạo đức,

quản lí chất lượng dạy học.

Thực hiện các biện pháp giáo dục HS phù hợp với các đối tượng, phân

loại đối tượng, đặc biệt chú ý đến HS yếu, kém, HS có hoàn cảnh khó khăn.

Kế hoạch của GVCN được kiểm tra định kỳ hàng tháng..

Đối với hoạt động học tập của học sinh:

+ Tổ chức cho học sinh học tập các văn bản pháp quy về GD&ĐT của

Bộ GD&ĐT các nội quy của nhà trường, của lớp (chú trọng nhiệm vụ, quyền

hạn của học sinh; qui chế thi, kiểm tra đánh giá xếp loại, khen thưởng, kỉ luật

đối với học sinh).

+ Quản lí hoạt động học tập của học sinh chặt chẽ kể từ tuyển sinh lớp

đầu cấp đến cuối cấp

+ Làm tốt công tác tuyển sinh vào lớp 10.

- Thành lập hội đồng tuyển sinh nhà trường theo quyết định: Thu nhận

hồ sơ lên điểm xét duyệt công bố điểm chuẩn, danh sách trúng tuyển, đảm bảo

tính nghiêm túc khách quan, công bằng dân chủ đúng quy chế

63



- Tiến hành định biên lớp học, bố trí phòng học, phân công giáo viên

chủ nhiệm, làm lễ đón nhận học sinh mới (học sinh đầu cấp).

- Tổng kết đánh giá, rút kinh nghiệm làm bài học kinh nghiệm cho kỳ

tuyển sinh năm học sau.

- Chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn xây dựng mạng lưới

cán bộ lớp, cán bộ chi đoàn, cán sự bộ môn có phẩm chất, năng lực, năng

động, tự giác trong hoạt động, có khả năng giúp đỡ học sinh yếu kém, làm hạt

nhân cho phong trào học tốt.

+ Đẩy mạnh công tác tổ chức, quản lí chặt chẽ việc học tập chính khoá,

ngoại khoá và học tập ở nhà của học sinh.

+ Quy định trách nhiệm và nghĩa vụ của giáo viên bộ môn trong việc

quản lí giờ dạy của mình. Cán bộ lớp, cán bộ Chi đoàn chịu trách nhiệm quản

lí các thành viên trong lớp, có chế độ báo cáo thường xuyên với chủ nhiệm

(mức cấp thiết có thể báo cáo với Ban giám hiệu).

+ Chỉ đạo các đồng chí GVCN, tổ chức điều tra cơ bản học sinh vào

trường để nắm được trình độ, năng lực và sở trường từ đó đề ra những biện

pháp giáo dục phù hợp với từng nhóm đối tượng.

+ Xây dựng nề nếp kỷ cương dạy học trong nhà trường. Nề nếp này trở

thành thói quen cho giáo viên và học sinh.

+ Phối hợp đoàn thanh niên, hội cha mẹ học sinh trong việc giáo dục

học sinh. Lưu ý giáo dục học sinh cá biệt.

+ Xây dựng tập thể học sinh đoàn kết, nhất trí, tôn trọng giúp đỡ nhau

trong học tập.

- Tăng cường quản lí hoạt động học tập của học sinh:

Song song với việc quản lí dạy của thầy giáo, nhà trường phải tiến

hành quản lí học tập của học sinh. Hai hoạt động này không thể tách rời. Các

biện pháp quản lí của nhà trường là: Xây dựng một môi trường lành mạnh, tạo

điều kiện tốt nhất cho các em học tập và rèn luyện, nhằm đào tạo các em trở

thành những công dân, những người chủ tương lai của đất nước, góp phần xây

64



dựng và bảo vệ Tổ quốc. Muốn vậy mọi hoạt động học tập của học sinh phải

lấy việc thực hiện nề nếp kỷ cương làm gốc.

+ Hình thành hệ thống quản lí theo đơn vị lớp, giáo viên chủ nhiệm,

giáo viên bộ môn, cán bộ lớp, cán bộ tổ, cán bộ đoàn và phụ huynh học sinh:

Học sinh khi mới được tuyển vào trường, việc tạo ra cho các em một môi

trường học tập hứng thú là rất cần thiết. Học sinh thường quan tâm đến việc học

ở lớp nào, thầy cô nào dạy, chủ nhiệm… Việc hình thành một hệ thống quản lí

theo đơn vị lớp là phù hợp với nhu cầu của phụ huynh và học sinh.

Chú trọng phân chia học sinh cho các lớp theo quan điểm: Chia đều số

lượng học sinh về các mặt: Trình độ học lực, xếp loại đạo đức, nam, nữ, đoàn

viên và địa bàn cư trú, tạo ra sự công bằng về chất lượng đầu vào giữa các lớp.

Giáo viên chủ nhiệm nghiên cứu hồ sơ của học sinh lớp mình, trên cơ

sở đó ổn định tổ chức lớp, tìm cho được đội ngũ cán bộ lớp, cán bộ tổ, cán bộ

đoàn là những học sinh học tốt, có năng lực và phát huy được vai trò gương

mẫu, nhanh nhẹn, hoạt bát.

Quản lí việc học tập ở trên lớp của học sinh: Giờ học của giáo viên nào

thì giáo viên ấy hoàn toàn chịu trách nhiệm trước hiệu trưởng về tình hình học

tập của học sinh. Bên cạnh đó GVCN phải theo dõi sát sao tình hình học sinh

của lớp mình, hỗ trợ với giáo viên bộ môn để quản lí học sinh. Nề nếp đi học

đầy đủ, ra vào lớp đúng giờ, học và làm bài đầy đủ, không nói chuyện riêng ở

trong lớp… Phải được chuẩn hoá bằng nội quy, cho học sinh học tập ngay từ

đầu năm học và phải viết cam kết có chữ ký của phụ huynh học sinh. GVCN

phải biết dựa vào đội ngũ cán bộ lớp, cán bộ đoàn để tăng cường công tác

quản lí lớp học mình phụ trách.

+ Quản lí tự học của học sinh. Tổ chức nhóm bạn cùng học:

Thầy dạy học sinh phương pháp tự học. HS phải coi việc tự học là cốt

lõi, thầy dạy mà trò không tự học thì sẽ không có kết quả. Quản lí việc tự học

của học sinh hiện nay đang là một vấn đề khó. Trong khi giờ học ở trên lớp

một ngày chỉ có 4 đến 5 giờ, còn lại thời gian ở gia đình. Bố mẹ học sinh có

65



nhiều trình độ khác nhau, hoàn cảnh khác nhau, nên điều kiện chăm sóc con

cái khác nhau. Vậy quản lí việc tự học của học sinh như thế nào?

GVBM là người quản lí trực tiếp tự học của học sinh lớp mình dạy.

Muốn vậy GV phải có sự hướng dẫn HS cách học. Sau mỗi bài dạy phải

hướng dẫn cho HS việc cần làm ở nhà, những lưu ý cần thiết của bài học. Giờ

học sau phải dành thời gian kiểm tra những vấn đề giờ trước GV yêu cầu HS

chuẩn bị, đưa việc này vào nề nếp.

GVCN kết hợp với GVBM tạo cho các em từng nhóm học tập từ 4-5

em có đặc điểm: Cư trú gần nhau, trong nhóm có HS khá, HS giỏi và HS yếu.

Yêu cầu đặt ra là các em khá, giỏi giúp các em yếu hơn về phương pháp học

tập, bổ sung giảng giải kiến thức mà bạn chưa hiểu, tuyệt đối không làm thay,

học thay.

Mỗi buổi học, học sinh vào lớp trước giờ học tiết một 15 phút để các tổ

kiểm tra việc học bài và làm bài cũ của các thành viên trong tổ. Đoàn TNCS Hồ

Chí Minh tự quản trong giờ này và chấm điểm thi đua cho các lớp. Làm như thế

sẽ tạo ra không khí thi đua giữa các tổ, nhóm giúp các em học tập tốt hơn.

GVCN phối hợp với phụ huynh học sinh trong việc tạo điều kiện về

thời gian và vật chất cho HS: Phụ huynh phải kiểm tra giờ giấc học tập, lịch

học đã được ghi trong thời gian biểu, tạo góc học tập cho HS ở nhà; mua sách

giáo khoa, sách tham khảo, đồ dùng học tập đầy đủ; thường xuyên báo cáo

với GVCN về tình hình học tập của con em mình.

+ Phát hiện, bồi dưỡng học sinh giỏi và phụ đạo bổ sung kiến thức cho

HS yếu, kém:

Trong QTDH và quá trình tự học của HS, GV là người phát hiện ra

những học sinh khá, giỏi và những HS yếu kém trong học tập.

Đối với đối tượng HS giỏi, GV cần yêu cầu cao đối với HS này, có câu

hỏi, bài tập riêng về nhà, hướng dẫn HS loại sách tham khảo, các chuyên đề

HS tự học, tự nghiên cứu.



66



Lựa chọn HS giỏi bộ môn ngay từ đầu cấp, hướng dẫn các em cách

học. Tổ chức cho các em được học chuyên sâu, nâng cao kiến thức bộ môn

giúp các em tham gia thi các đội tuyển HS giỏi. Việc bồi dưỡng HS này phải

có kế hoạch cụ thể, chi tiết. Mỗi GV giảng dạy phải đảm nhận một chuyên đề.

Dạy đội tuyển là trách nhiệm của mỗi GV. Với GV mới tham gia giảng dạy

đội tuyển, phần chương trình dạy phải được thông qua tổ chuyên môn để các

GV có kinh nghiệm giúp đỡ.

Với HS học ở mức độ yếu hơn GV cũng phải phân loại, có kế hoạch

bồi dưỡng cho các em, có chương trình mềm dẻo hơn, câu hỏi gợi mở riêng

giúp các em từng bước vươn lên trong học tập.

3.2.3. Biện pháp 3: Xây dựng đội ngũ giáo viên nhằm nâng cao chất lượng

dạy và học

3.2.3.1. Mục tiêu của biện pháp

Nhằm giúp cán bộ quản lí các trường THPT xây dựng đội ngũ giáo

viên đủ về số lượng, đảm bảo chất lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú

trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề

của giáo viên để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng đòi hỏi

ngày càng cao của sự nghiệp CNH- HĐH đất nước.

3.2.3.2. Nội dung và cách thực hiện

Muốn có trò giỏi phải có thầy giỏi. Đội ngũ giáo viên là nhân tố quyết

định chất lượng giáo dục và chất lượng dạy học trong nhà trường. Vì vậy, để

nâng cao chất lượng dạy học thì công tác xây dựng đội ngũ có vai trò rất quan

trọng. Để thực hiện việc xây dựng đội ngũ được tốt, cần quan tâm 2 nội dung

cơ bản: Lập kế hoạch về nhu cầu tuyển dụng, xây dựng kế hoạch đào tạo bồi

dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên.

- Lập kế hoạch tuyển dụng: Căn cứ vào kế hoạch phát triển hàng năm

những biến động về đội ngũ các năm tới cùng với sự phát triển lâu dài của nhà

trường, phù hợp với yêu cầu xây dựng trường chuẩn của Bộ GD&ĐT. Nhà

trường có kế hoạch biên chế đội ngũ giáo viên phù hợp chuẩn và đủ về số

67



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (117 trang)

×