1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY VÀ HỌC Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.51 MB, 108 trang )


vấn đề quản lý Giáo dục- Đào tạo nói chung và chủ yếu đề cập đến những

vấn đề lớn như:

Thứ nhất là nhóm các công trình nghiên cứu đề cập đến hoạt động

tổ chức và quản lý Giáo dục- Đào tạo ở cấp vĩ mô, có thể kể ra đây một số

công trình tiêu biểu như:

- “Tổ chức quản lý quá trình giáo dục - đào tạo” của nhà nghiên cứu

Nguyễn Minh Đường Hà Nội, 1996. Đây là một công trình nghiên cứu

công phu, đề cập đến những khía cạnh cơ bản của hoạt động tổ chức quản

lý Giáo dục- Đào tạo của nước ta qua các giai đoạn lịch sử, đặc biệt là từ

khi đất ta tiến hành đổi mới từ năm 1986 đến nay.

- Tác giả Phan Văn Kha với công trình nghiên cứu: “Quản lý nhà

nước về giáo dục đào tạo” Hà Nội, 1999 đã nêu bật được những vấn đề

liên quan đến vai trò của các cấp chính quyền, hệ thống văn bản pháp luật,

các quy định của các cấp đào tạo nhằm nâng cao chất lượng của công tác

GD& ĐT của nước ta hiện nay.

- Liên quan đến việc nghiên cứu về công tác quản lý quá trình triển

khai các hoạt động GD & ĐT có công trình “Quản lý quá trình giáo dục

đào tạo” của Nguyễn Đức Trí, Hà Nội, 1999. Tác giả đã đưa ra những

biện pháp nhằm nâng cao chất lượng của việc quản lý giáo dục và đào tạo ở

các bậc học.

Thứ hai là nhóm gồm một số đề tài nghiên cứu của các luận văn

Thạc sĩ quản lý giáo dục, đề cập đến nội dung quản lý hoạt động dạy học

của giáo viên và quản lý hoạt động học của học sinh trong trường như:

- “Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học ở trường Đại học Công

nghiệp HN” Nguyễn Thị Minh, 2006.

- “Những biện pháp quản lý hoạt động dạy học của Trung tâm giáo

dục từ xa trường ĐHSP Hà Nội. Phùng Thị Lệ Hằng, 2007.

- “Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học ở trường Trung học

điện tử điện lạnh Hà Nội.” Vũ Quốc Dũng, 1999.



- “Các biện pháp quản lý dạy học của Học viện Kỹ thuật quân sự

theo hướng phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học viên.” Trương

Hữu Thông. Hà Nội, 1999.

- “Một số giải pháp tăng cường quản lý quá trình dạy - học trong

trường trung học kinh tế - kỹ thuật tỉnh Kiên Giang”. Nguyễn Văn Lâu. TP

Hồ Chí Minh, 2000.

- “Các biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên trường cao

đẳng kinh tế tài chính Thái Nguyên.” Phạm Trí Cường. Hà Nội, 2004.

- “Một số biện pháp tăng cường quản lý hoạt động dạy học của

Khoa tự nhiên, trường Cao đẳng sư phạm Quảng Ninh”. Võ Tiến Quang.

Hà Nội, 2004.

- “Một số biện pháp cải tiến công tác giáo vụ ở khoa Sư phạm kỹ thuật

trường ĐHSP Hà Nội”. Nguyễn Thị Tự, 1999

Như vậy, việc nghiên cứu, đánh giá hoạt động dạy và học trong

trường Đại học nói chung và Trường ĐHSP nói riêng thông qua công tác

giáo vụ thì hoàn toàn chưa được đề cập đến. Tuy nhiên những công trình

nghiên cứu kể trên cũng là cơ sở, điều kiện để chúng tôi tiếp tục nghiên cứu

đề tài của mình.

1.2. Một số vấn đề lý luận về Quản lý

1.2.1. Khái niệm Quản lý

Quản lý là nhân tố không thể thiếu được trong đời sống và sự phát

triển của xã hội. Loài người đã trải qua nhiều thời kỳ phát triển với nhiều

hình thái xã hội khác nhau nên cũng đã trải qua nhiều hình thức quản lý

khác nhau. Các triết gia, các nhà chính trị từ thời cổ đại đến nay đều rất coi

trọng vai trò của quản lý trong sự ổn định và phát triển của xã hội. Nó là

một phạm trù tồn tại khách quan và là một tất yếu lịch sử. Ở mỗi góc độ

tiếp cận và hoạt động, người ta có thể đưa ra một quan niệm và quản lý

khác nhau.

Các Mác viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động

chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần



đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện

những chức năng chung phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ thể khác với

sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm

tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”

[27].

Hoạt động quản lý bắt nguồn từ phân công lao động của xã hội loài

người nhằm đạt mục đích, hiệu quả cao hơn, năng suất cao hơn. Đó chính

là hoạt động giúp con người đứng đầu tổ chức phối hợp sự nỗ lực các thành

viên trong nhóm, trong cộng đồng nhằm đạt mục tiêu đề ra.

Trong quá trình tồn tại và phát triển của quản lý, đặc biệt trong quá

trình xây dựng lý luận về quản lý, khái niệm quản lý được nhiều nhà lý

luận đưa ra, nó thường phụ thuộc vào lĩnh vực hoạt động, nghiên cứu của

mỗi người. Chẳng hạn:

- Theo quan điểm triết học, quản lý được xem như một quá trình liên

kết thống nhất giữa chủ quan và khách quan để đạt mục tiêu đề ra.

- Theo quan điểm kinh tế học, nhà kinh tế học người Mỹ- Frederic

Wiliam Taylor (1856- 1915) cho rằng: “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng,

chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất

và rẻ tiền nhất” [44].

Với nhà lý luận quản lý kinh tế Pháp A.Fayon (1841- 1925) thì:

“Quản lý là đưa xí nghiệp tới đích, cố gắng sử dụng các nguồn lực (nhân,

tài, vật, lực) của nó” [20].

- Dưới góc độ điều khiển học, A.I.Beng cho rằng: “Quản lý là quá

trình chuyển một hệ động lực phức tạp từ trạng thái này sang trạng thái

khác nhờ sự tác động vào các phần tử biến thiên của nó [41].

- Nhà toán học A.N.Kolmogorov cho rằng: Quản lý là quá trình gia

công thông tin thành tín hiệu điều chỉnh hoạt động của máy móc hay cơ thể

sống [40].

Khi nói về vai trò của quản lý trong xã hội, ý kiến của Paul Hersay và

Ken Blanc Heard trong cuốn “Quản lý nguồn nhân lực” là: “Quản lý là một



quá trình cùng làm việc giữa nhà quản lý với người bị quản lý, nhằm thông

qua hoạt động của cá nhân, của nhóm, huy động các nguồn lực khác để đạt

mục tiêu của tổ chức [24].

- Theo quan điểm của hệ thống thế giới quan Mác-Lênin cho rằng:

“Toàn bộ thế giới vật chất đang tồn tại, mọi sự vật, hiện tượng là một chỉnh

thể, một hệ thống. Trong công tác điều hành xã hội thì quản lý cũng vật,

cũng là hệ thống. Theo quan điểm này thì quản lý một đơn vị với tư cách là

hệ thống xã hội là khoa học và nghệ thuật tác động vào hệ thống, vào từng

thành tố của hệ thống bằng các phương pháp thích hợp nhằm đạt mục tiêu

đặt ra trong điều kiện biến đổi của môi trường”.

- Quan niệm về quản lý của một số nhà khoa học Việt Nam

Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt cho rằng: “Quản lý là một quá trình

định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được

những mục tiêu nhất định” [24].

Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo “Quản lý là quá trình tác động liên

tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý

(S-O) về các mặt chính trị, xã hội, kinh tế, văn hoá bằng một hệ thống các

nguyên tắc pháp luật, chính sách, phương pháp và giải pháp quản lý tạo ra

những điều kiện cho sự phát triển của khách thể và tạo ra uy tín [12].

Tác giả Hồ Văn Vĩnh cho rằng: “Quản lý là sự tác động có tổ chức,

có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu

đã đề ra” [42].

Theo quan điểm của Nguyễn Quang Toản- Trung tâm quản lý chất

lượng quốc tế (IQC) thì: Quản lý là các hoạt động có phối hợp để định

hướng và kiểm soát một tổ chức trong việc đạt mục đích đề ra [41].

Theo tác giả Nguyễn Đức Trí: “Quản lý là một quá trình tác động có

định hướng (có chủ đích), có tổ chức, có lựa chọn trong số các tác động có

thể có, dựa trên các thông tin về tình trạng và môi trường, nhằm giữ cho sự

vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục tiêu

đã định [40].



Nhìn chung các tác giả đã nêu quan niệm của mình về quản lý với

những cách tiếp cận khác nhau nhưng từ những quan niệm đó có thể thấy

rõ được nội hàm khái niệm quản lý như sau:

- Quản lý là hoạt động lao động, hoạt động này để điều khiển lao

động.

- Trong quản lý bao giờ cũng có chủ thể quản lý và đối tượng quản lý

quan hệ với nhau bằng những tác động quản lý. Những tác động quản lý

chính là những quyết định quản lý, là những nội dung và chủ thể quản lý

yêu cầu đối với đối tượng quản lý.

- Quản lý là một thuộc tính bất biến nội tại của mọi quá trình lao

động xã hội. Lao động quản lý là điều kiện quan trọng để làm cho xã hội

loài người tồn tại, vận hành.

- Quản lý là một hệ thống xã hội trên nhiều phương diện. Điều đó

cũng xác lập rằng quản lý phải có một cấu trúc và vận động trong một môi

trường xác định.

Hoạt động “quản lý” bao giờ cũng gắn với hoạt động có ý thức của

con người và toàn xã hội dưới tác động của hoàn cảnh nhằm định hướng sự

vận động và phát triển của đối tượng cần quản lý theo một mục đích nhất

định. Khái niệm đó phải bao quản được tất cả mọi hoạt động của con

người. Đồng thời khái niệm “quản lý” cũng như bất kỳ một khái niệm nào

khác cũng phải xây dựng theo những quy tắc khái niệm và không phạm

phải sai lầm có thể có khi khái niệm sẽ thuộc loại khái niệm chính xác.

Trong các quan điểm về quản lý đã nêu trên chúng ta nhận thấy hầu

như các quan điểm đó chưa bao quát được mọi hoạt động của con người.

Có định nghĩa chưa nêu được khuynh hướng vận động của đối tượng quản

lý theo mục đích hoạt động của con người. Để tài của chúng tôi sử dụng

quan niệm của Nguyễn Đức Trí về “quản lý” nêu trên:

Quản lý là một quá trình tác động có định hƣớng (có chủ đích), có

tổ chức, có lựa chọn trong số các tác động có thể có, dựa trên các thông



tin về tình trạng và môi trƣờng, nhằm giữ cho sự vận hành của đối

tƣợng đƣợc ổn định và làm cho nó phát triển tới mục tiêu đã định [40].

1.2.2. Chức năng của quản lý

Thứ nhất, chức năng kế hoạch hoá

Peter Drucker, một trong những chuyên gia quản lý hàng đầu đương

đại đã đề xuất tiêu chuẩn về tính hiệu nghiệm (tức là khả năng làm những

việc “đúng”) và tính hiệu quả (tức là khả năng làm đúng việc). Ông cho

rằng tính hiệu nghiệm là quan trọng hơn, bởi vẫn có thể đạt được hiệu quả

khi chọn sai mục tiêu. Hai tiêu chuẩn này song hành cùng với hai khía cạnh

của kế hoạch: xác định những mục tiêu “đúng” và lựa chọn những giải

pháp “đúng” để đạt các mục tiêu này. Cả hai khía cạnh đó đều có ý nghĩa

sống còn đối với quá trình quản lý.

Để phản ánh bản chất của khái niệm chức năng kế hoạch hoá, chúng

ta có thể định nghĩa như sau: Chức năng kế hoạch hoá là quá trình xác định

mục tiêu và quyết định những giải pháp tốt nhất để thực hiện mục tiêu đó.

Như vậy, thực chất của kế hoạch hoá là đưa toàn bộ những hoạt động vào

công tác kế hoạch hoá với mục đích, giải pháp rõ ràng, bước đi cụ thể và ấn

định tường minh các điều kiện cung ứng cho việc thực hiện mục tiêu.

Nhiều lý thuyết quản gia cho rằng, kế hoạch là cái khởi nguyên của

mọi hoạt động, mọi chức năng quản lý khác. Họ ví kế hoạch như một chiếc

đầu tầu kéo theo các toa “tổ chức”, “chỉ đạo”, “kiểm tra”. Như vậy, người

quản lý, nếu không có kế hoạch thì không biết phải tổ chức nhân lực và các

nguồn nhân lực khác như thế nào, thậm chí học còn không rõ phải tổ chức

cái gì nữa. Không có kế hoạch, người quản lý không thể chỉ dẫn, lãnh đạo

người thuộc quyền hành động một cách chắc chắn với những kỳ vọng đặt

vào kết quả mong đạt tới. Cũng vậy, không có kế hoạch thì cũng không xác

định được tổ chức hướng tới đúng hay chệch mục tiêu, không biết khi nào

đạt được mục tiêu và sự kiểm tra trở thành vô căn cứ.

Kế hoạch hoá là một chức năng quan trọng của quá trình quản lý vì

trên cơ sở phân tích các thông tin quản lý, căn cứ vào những tiềm năng đã



có và những khả năng sẽ có mà xác định rõ hệ thống mục tiêu, nội dung

hoạt động, các giải pháp cần thiếu để chỉ rõ trạng thái mong muốn của đối

tượng khi kết thúc các hoạt động. Kế hoạch hoá có vai trò to lớn như vậy

với bản thân nó có những chức năng cơ bản cụ thể sau:

Chức năng chuẩn đoán: Bao gồm việc xác định trạng thái xuất phát và

những phân tích về trạng thái đó.

Chức năng dự báo: Bao gồm việc xác định nhu cầu và các mục tiêu để suy

ra những hướng phát triển cơ bản, trong đó có tính tới nhu cầu bên ngoài và

bên trong. Lựa chọn những hướng ưu tiên, dự kiến những mục tiêu cần đạt

và các tiêu chuẩn đánh giá.

Chức năng dự đoán: Bao gồm việc phát hiện các phương án chọn lựa có

tính đến tiềm năng của nguồn lực dự trữ và những mong muốn chủ quan.

Thứ hai, chức năng tổ chức

Bamard định nghĩa tổ chức như là “hệ thống các hoạt động hay tác

động có ý thức của hai hay nhiều người”. Cuốn “Cơ sở khoa học của quản

lý” đã xác định: “Tổ chức là hoạt động hướng tới hình thành cấu trúc tối ưu

của hệ thống quản lý và phối hợp tốt nhất giữa các hệ thống lãnh đạo và bị

lãnh đạo (chấp hành) [12].

Nhờ chức năng tổ chức mà hệ thống quản lý trở nên có hiệu quả, cho

phép các cá nhân góp phần tốt nhất vào mục tiêu chung. Tổ chức được coi

là điều kiện của quản lý, đúng như V.I.Lê-Nin đã khẳng định: “Chúng ta

phải hiểu rằng muốn quản lý tốt – còn phải biết tổ chức về mặt thực tiễn

nữa”. Thực chất của tổ chức là thiết lập mối quan hệ bền vững giữa con

người, giữa các bộ phận trong hệ thống quản lý. Tổ chức tốt sẽ khơi nguồn

các động lực, tổ chức không tốt sẽ làm triệt tiêu động lực và giảm sút hiệu

quả quản lý.

Thứ ba, chức năng chỉ đạo

Chỉ đạo là quá trình tác động ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến hành

vi và thái độ của những người khác nhằm đạt các mục tiêu đã đề ra. Chỉ



đạo thể hiện quá trình ảnh hưởng qua lại giữa chủ thể quản lý và mọi thành

viên trong tổ chức nhằm góp phần thực hiện hoá các mục tiêu đã đặt ra.

Chức năng chỉ đạo, xét cho cùng là sự tác động lên con người, khơi

dậy động lực của nhân tố con người trong hệ thống quản lý, thể hiện mối

quan hệ giữa con người với con người và quá trình giải quyết những mối

quan hệ đó do họ tự nguyện và nhiệt tình phấn đấu.

Thứ tư, chức năng kiểm tra

Sau khi xác định các mục tiêu, quyết định những giải pháp tốt nhất để

đạt tới các mục tiêu và triển khai các chức năng tổ chức, chỉ đạo để hiện thực

hoá các mục tiêu đó cần phải tiến hành những hoạt động kiểm tra để xem xét

việc triển khai các quyết định trong thực tiễn, từ đó có những điều chỉnh cần

thiết trong các hoạt động để góp phần đạt tới mục tiêu đã xác định.

Như vậy, kiểm tra có vị trí quan trọng trong việc đổi mới công tác

quản lý như: Đổi mới công tác kế hoạch hoá, công tác tổ chức, chỉ đạo

cũng như đối với cơ chế quản lý, phương pháp quản lý nhằm nâng cao chất

lượng và hiệu quả quản lý.

Tóm lại: Sự phân công và chuyên môn hoá trong hoạt động quản lý

đã hình thành nên các chức năng quản lý. Đó là chức năng kế hoạch hoá,

chức năng tổ chức, chức năng chỉ đạo và chức năng kiểm tra.

Qua phân tích các chức năng quản lý, chúng ta thấy rằng các chức

năng này có mối quan hệ chặt chẽ tác động qua lại với nhau, chi phối lẫn

nhau tạo thành một thể thống nhất của hoạt động quản lý. Mối quan hệ đó,

chúng tôi thể hiện ở sơ đồ sau đây:



Kế hoạch

hoá



Chỉ đạo



Tổ chức



Kiểm tra



1.3. Một số vấn đề lý luận về quản lý giáo dục

1.3.1. Khái niệm quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến

khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt

tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất. Quản lý giáo dục theo

nghĩa tổng quan là một hoạt động điều hành, phối hợp giữa các lực lượng

trong xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát

triển ngày càng cao của xã hội.

Theo Phạm Minh Hạc: “Quản lý giáo dục là tổ chức các hoạt động

dạy học. Có tổ chức được các hoạt động dạy học, thực hiện được các tính

chất của nhà trường phổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa mới quản lý

được giáo dục, tức là cụ thể hóa đường lối của Đảng và biến đường lối đó

thành hiện thực, đáp ứng nhu cầu của nhân dân, của đất nước” [23].

Theo Nguyễn Quang Học, quản lý giáo dục là hệ thống tác động có

mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nằm làm cho hệ

thống vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện

được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm

hội tụ là quá trình dạy học.

Có thể nói rằng quản lý giáo dục chứa đựng những đặc trưng sau:



- Chủ thể quản lý ở tầm vĩ mô: Là quản lý của nhà nước mà cơ quan

quản lý trực tiếp là Bộ giáo dục, Sở giáo dục, Phòng giáo dục.

- Chủ thể quản lý ở tầm vi mô: Là quản lý của Hiệu trưởng các

trường dưới Hiệu trưởng là các Chủ nhiệm khoa, Trưởng các phòng ban,

Giám đốc các trung tâm, Viện trưởng các viện nghiên cứu.

Quản lý giáo dục có tính chất xã hội cao bởi vì luôn luôn trong nó

cần phải được tập trung giải quyết các vấn đề có tính thời sự như: Kinh tế,

chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng... để phục vụ tốt cho công

tác giáo dục.

- Khách thể quản lý giáo dục là đội ngũ giáo viên, sinh viên và học

viên, có thể nói trong giáo dục và đào tạo thì đây là đối tượng khách thể

quan trọng nhất nhưng đồng thời ở một lĩnh vực nào đó đội ngũ này cũng là

chủ thể quản lý trực tiếp quản lý quá trình giáo dục. Khách thể quản lý là

những con người cụ thể, trong họ có rất nhiều mối quan hệ đan xen, phức

tạp, đa dạng mà người quản lý phải đối phó, xử lý khi thực hiện chức năng

quản lý của mình. Vì vậy người quản lý phải biết biến các mối quan hệ trên

trở thành các yếu tố tích cực tạo nên môi trường thuận lợi nhất để hướng tới

hoàn thành mục tiêu chung.

Như vậy quản lý giáo dục là sự tác động có định hướng, có mục đích

vào khách thể quản lý. Đó là việc tổ chức, định hướng và duy trì các hoạt

động giáo dục nhằm làm cho bộ máy, cho cá nhân và tổ chức các cán bộ

giảng viên và tập thể nhà trường, sinh viên và cả cộng đồng xã hội thực

hiện đầy đủ đúng đắn những đường lối, chủ trương và quan điểm giáo dục

của Đảng. Với phương pháp quản lý nghệ thuật, người quản lý giáo dục

phải biết tổ chức các hoạt động giáo dục đi đến mục đích bằng nhiều cách,

ứng xử các tình huống trong quản lý giáo dục một cách linh hoạt mau lẹ và

tinh tế, biết tìm ra phương án tối ưu, biết cách huy động mọi lực lượng cả

về vật chất và tinh thần.

Quản lý giáo dục là một hoạt động khó khăn, phức tạp bởi vì sản

phẩm giáo dục là “con người”. Do vậy người cán bộ quản lý giáo dục cần



phải có nhân cách quản lý vì con người, cho con người và xuất phát từ con

người. Quản lý giáo dục trong giai đoạn cách mạng hiện nay, khi mà đất

nước chúng ta đang tiến hành tiến trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa.

Khái quát về vấn đề quản lý giáo dục Khuđôninski, trong cuốn

“Quản lý giáo dục quốc dân ở địa bàn huyện, quận” đã viết: “Quản lý

khoa học hệ thống giáo dục có thể xác định nhƣ là tác động có hệ

thống, có kế hoạch, có ý thức và hƣớng đích của chủ thể quản lý ở các

cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ Bộ đến các

Trƣờng, các cơ sở giáo dục khác...) nhằm mục đích bảo đảm việc giáo

dục- Xã hội chủ nghĩa cho thể hệ trẻ, trên cơ sở nhận thức và vận dụng

những quy luật chung của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực

và tâm lý của trẻ em, thiếu niên và thanh niên”.

1.3.2 Quản lý nhà trường

Nhà trường là đối tượng cơ bản nhất của quản lý giáo dục trong đó

đội ngũ giáo viên và sinh viên là đối tượng quản lý và cũng là chủ thể trực

tiếp quản lý quá trình giáo dục. Thực chất của quản lý giáo dục xét cho

cùng là tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động của nhà trường được vận

hành theo đúng mục tiêu. Trường học là những tế bào quan trọng của hệ

thống giáo dục, mà những tế bào này hoạt động có tốt thì hệ thống giáo dục

mới thực hiện được đúng mục tiêu mà xã hội giao phó.

Vì vậy quản lý nhà trường có thể coi như một bộ phận không thể

thiếu của quản lý giáo dục.

Quản lý nhà trường là quá trình thực hiện đường lối giáo dục của

Đảng trong phạm vi quyển hạn và trách nhiệm của mình tức là phải đưa

nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục.

Quản lý nhà trường chính là quản lý giáo dục nhưng trong một phạm

vi xác định của một đơn vị giáo dục nền tảng đó là nhà trường. Vì thế quản

lý nhà trường phải vận dụng tất cả các nguyên lý chung của quản lý giáo

dục để đẩy mạnh mọi hoạt động củ nhà trường theo mục tiêu đào tạo.



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (108 trang)

×