1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY VÀ HỌC CỦA GIÁO VỤ Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.51 MB, 108 trang )


tiến sĩ đầu tiên được bảo vệ ngày 23 tháng 4 năm 1970, luận án tiến sĩ thứ 100

được bảo vệ ngày 10 tháng 4 năm 1992, luận án tiến sĩ thứ 200 được bảo vệ

ngày 12 tháng 10 năm 1995, luận án tiến sĩ thứ 300 được bảo vệ ngày 8 tháng

5 năm 1997, luận án tiến sĩ thứ 400 được bảo vệ ngày 19 tháng 1 năm 2001,

luận án tiến sĩ thứ 500 được bảo vệ ngày 12 tháng 9 năm 2002 và lụân án tiến

sĩ thứ 600 được bảo vệ ngày 28 tháng 4 năm 2005.

Theo “Thống kê Giáo dục và Đào tạo năm học 2005-2006” của Bộ Giáo

dục và Đào tạo, trong năm học 2005-2006 trường ĐHSP Hà Nội tuyển mới

992 học viên cao học; có tổng cộng 218 nghiên cứu sinh và 1.677 học viên

cao học; số người được cấp bằng tiến sĩ là 31 và số người được cấp bằng

thạc sĩ là 589; tổng số sinh viên của trường là 57.946 (6.957 sinh viên hệ

chính qui, 1.454 sinh viên liên kết đại học chính qui, 2354 sinh viên hệ

chuyên tu, 10.733 sinh viên hệ tại chức, 36.448 sinh viên của các hệ khác)

và số tuyển mới là 17.959 (1.951 sinh viên hệ chính qui, 977 sinh viên hệ

chuyên tu, 2.187 sinh viên hệ tại chức và 12.844 sinh viên của các hệ

khác); số sinh viên tốt nghiệp đại học là 6.250; số giảng viên là 807; tổng

số cán bộ quản lí, giảng viên và nhân viên là 1.227 (807 giảng viên trong

đó có 609 giảng viên biên chế, 70 giảng viên hợp đồng dài hạn, 362 nữ

giảng viên, 24 GS, 126 PGS, 227 TSKH và TS, 177 ThS, 19 Nhà giáo

Nhân dân và 74 Nhà giáo Ưu tú; giảng đường có tổng diện tích là 19.760

m2 và 181 phòng; phòng máy tính có tổng diện tích là 2.812 m2 và 36

phòng; thư viện có tổng diện tích là 6.334 m2 và 31 phòng; phòng thí

nghiệm có tổng diện tích là 2.545 m2 và 38 phòng.

Trường ĐHSP Hà Nội là đơn vị trọng điểm trong nghiên cứu khoa học

và ứng dụng khoa học giáo dục của ngành. Trường có hơn 2.000 công trình

nghiên cứu khoa học. Trong giai đoạn 1996-2003, trường có trên 600 đề tài

nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước và cấp Bộ trong đó có 178 đề tài thuộc

các chương trình trọng điểm quốc gia, 11 đề tài đặc biệt cấp Bộ, 3 đề tài

trọng điểm cấp Bộ,... Nhiều nhà khoa học của trường trở thành các nhà

khoa học tầm cỡ quốc gia và quốc tế và được nhận các Giải thưởng Hồ Chí



Minh và Giải thưởng Nhà nước. Trong năm học 2005-2006, trường đã tiến

hành nghiệm thu 135 đề tài nghiên cứu khoa học trong đó có 26 đề tài cấp

Nhà nước, 44 đề tài cấp Bộ và 65 đề tài cấp Trường. Hiện nay, trường đang

triển khai 172 đề tài nghiên cứu khoa học trong đó có 26 đề tài cấp Nhà

nước, 77 đề tài cấp Bộ, 113 đề tài cấp Trường trong đó có 25% số đề tài

phục vụ đổi mới phương pháp đào tạo. Các đề tài bao gồm các lĩnh vực

khoa học cơ bản, khoa học ứng dụng sản xuất phục vụ đời sống và khoa

học sư phạm phục vụ đổi mới phương pháp đào tạo cử nhân chất lượng cao

và sau đại học. Trường kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu khoa học và đào

tạo sau đại học thông qua hướng nghiên cứu gắn với các đề tài luận án.

Nhờ có đội ngũ cán bộ giảng dạy, nghiên cứu hùng hậu, Trường ĐHSP

Hà Nội có thể xây dựng chương trình, biên soạn giáo trình có chất lượng

cao nhằm phục vụ yêu cầu đào tạo của trường và cung cấp cho ngành sư

phạm. Hai phần ba số tác giả biên soạn sách giáo khoa phổ thông là cán bộ

của trường. Trường ĐHSP Hà Nội là một trong những trường có thành tích

xuất sắc trong đào tạo tài năng trẻ cho đất nước. Hệ trung học phổ thông

chuyên đã đào tạo gần 2.000 học sinh tốt nghiệp phổ thông loại giỏi và xuất

sắc. Có 36 học sinh đoạt Huy chương (10 Huy chương Vàng, 17 Huy

chương Bạc và 11 Huy chương Đồng) tại các kì thi Olympic quốc tế. Đặc

biệt là liên tục từ năm 1999 đến nay, năm nào trường cũng có học sinh đoạt

Huy chương Vàng Olympic quốc tế và khu vực Châu Á-Thái Bình Dương.

2.1.3. Thực trạng công tác giáo vụ ở trường Đại học Sư phạm Hà Nội

trong giai đoạn đầu của quản lý hoạt động dạy và học theo tín chỉ

Cũng như rất nhiều trường đại học khác, công tác giáo vụ tại trường

ĐHSP Hà Nội bên cạnh những ưu điểm nổi bật còn gặp nhiều vấn đề phức

tạp. Đặc biêt, bắt đầu từ năm học 2009- 2010 chuyển sang đào tạo theo tín

chỉ, công tác giáo vụ lại gặp nhiều khó khăn nhất định.

Một là, do sinh viên được đào tạo theo học chế tín chỉ thường học ổn

định ở một lớp môn học trong một học kỳ và việc quản lý sinh viên chủ yếu

dựa vào mã số sinh viên, mã số học phần, số lượng tín chỉ sinh viên đăng



ký tích lũy trong một học kỳ. Thực tế đó đặt các đơn vị chức năng vào tư

thế bị động trong việc hoạch định kế hoạch, lập chương trình tổ chức các

hoạt động quản lý. Để giải quyết vấn đề này, đòi hỏi chủ thể làm công tác

này phải có sự chuẩn bị lâu dài về mặt kế hoạch, các chương trình hỗ trợ

phải được chuẩn hóa và quan trọng nhất là đội ngũ cán bộ, viên chức phải

hết sức năng động, nhiệt tình, có năng lực công tác tốt.

Hai là, với số lượng lớn sinh viên có nhu cầu trải đều trên tất cả

phương diện của công tác hỗ trợ sinh viên có thể dẫn đến tình trạng quá tải

về cơ sở vật chất phục vụ trong khi đào tạo theo học chế học phần có thể

không bị vấp phải. Giải pháp khắc phục tạm thời là nhà trường có thể thiết

kế chương trình, thời khóa biểu hướng sinh viên vào những loại hình hỗ trợ

trọng tâm có thể đáp ứng trước mắt. Về lâu dài, sự tăng cường về cơ sở vật

chất cho các hoạt động ngoại khóa, công tác phong trào, đoàn thể phải

được tăng cường không ngừng theo hướng đáp ứng tốt nhất nhu cầu của

sinh viên.

Tuy nhiên, khi không còn học theo lớp truyền thống trước đây, thì

việc quản lý sinh viên của trường thực hiện theo hướng như sau :

- Theo học chế tín chỉ, ngoài lớp học phần (lớp mà sinh viên đăng ký

theo học cùng học phần trong một học kỳ) còn có lớp chuyên ngành. Lớp

chuyên ngành được hình thành từ đầu khóa học cho đến cuối khóa học.

Lớp chuyên ngành được tổ chức để duy trì những sinh hoạt đoàn thể, lao

động, xét kết quả rèn luyện, xét khen thưởng, phổ biến những thông tin của

trường, của khoa đến sinh viên...

- Quản lí HSSV thông qua mã số học sinh sinh viên, mã số học phần

- Quản lí HSSV thông qua các tổ chức đoàn thể, khi nhà trường để

sinh viên có quyền tự xây dựng chương trình đào tạo cho riêng mình thì các

em phải tự chịu trách nhiệm với bản thân mình trong việc quyết định giờ

học tập và tham gia công tác phong trào. Các tổ chức chính trị xã hội sinh

viên có cơ hội gần gũi với đối tượng của mình hơn bằng việc tổ chức nhiều

loại hình sinh hoạt đoàn thể, vận động thanh niên tham gia các phong trào



do mình phát động. Tuy nhiên, những thử thách đối với các tổ chức này là

rất lớn. Do được chủ động về thời gian, số lượng sinh viên có nhu cầu tham

gia các hoạt động phong trào có thể tăng đột biến trong khi độ đồng nhất

trong thành viên, thời gian tham gia lại rất thấp làm công tác tổ chức, quản

lý trở nên khó khăn, lỏng lẻo khác hẳn với hình thức tổ chức trước là đơn vị

cơ sở của các tổ chức chính trị xã hội gắn với lớp học. Thực tế đó, đòi hỏi

các các tổ chức chính trị xã hội sinh viên phải vận động một cách uyển

chuyển theo thực tế như:

Làm tốt công tác tổ chức, hướng dẫn thành viên ngay từ khi sinh

viên mới vào trường còn đang phải học theo lớp học ở học kỳ đầu tiên.

Làm tốt công tác tổ chức ở đây không chỉ dừng lại ở việc cấp mã số và biên

chế sinh viên vào các đơn vị cơ sở mà còn phải cung cấp chương trình hoạt

động cơ bản nhất của mình để sinh viên có thể tự chủ trong tham gia. Việc

biên chế sinh viên vào các tổ chức cơ sở gắn liền với việc đưa tổ chức cơ sở

đó hoạt động linh hoạt ngay sau khi học kỳ đầu tiên kết thúc.

Tổ chức các hoạt động đa dạng theo chủ đề, chuyên đề hoạt động

từng tuần, quý, năm cho thành viên đăng ký tham gia. Thông qua việc đăng

ký tham gia của thành viên hình thành cơ chế đánh giá, phân loại chất

lượng thành viên trên cơ sở phân loại mức độ trọng điểm của từng chủ đề,

chuyên đề.

Như vậy, khi tiến hành đào tạo sinh viên theo học chế tín chỉ, công

tác quản lý sinh viên sẽ gặp nhiều khó khăn nhất định. Tuy nhiên, với sự

uyển chuyển, linh động từ mặt tổ chức cơ sở vật chất cho đến con người

theo hướng vừa làm, vừa học, vừa rút kinh nghiệm, những lĩnh vực công

tác này vẫn và sẽ phát huy tốt vai trò làm cầu nối giữa nội dung chương

trình đào tạo của nhà trường, giảng viên với sinh viên; là điểm tựa giúp

sinh viên không chỉ chủ động trong học tập mà còn cảm thấy tự tin và gắn

bó hơn với nhà trường.

Để đánh giá thực trạng công tác giáo vụ của Trường, các khoa trong

trường chúng tôi sử dụng bảng hỏi dưới đây để điều tra xã hội học với đối



tượng là 50 cán bộ quản lý đào tạo, giáo vụ ở các khoa và sinh viên; kết

quả được trình bày trên biểu đồ 2.1

Biểu đồ 2.1: Thực trạng điểm trung bình chung về các nội dung quản lý

của công tác giáo vụ

(theo đánh giá của cán bộ quản lý và giáo vụ)



5

4

3

2

1

0

1



2



3



4



5



6

điểm 7

TB 8



9



10



11



12



Trong đó chúng tôi đánh giá cụ thể về những công tác trọng tâm

chính của cán bộ giáo vụ như sau:

Bảng 2.2: Về quản lý và lập kế hoạch trong quá trình đào tạo:

Nội dung

1. Lên kế hoạch đào

tạo cả khóa

2. Công tác quản lý

lịch giảng hàng ngày

3. Xử lý tình huống

quản lý đào tạo

(Thay đổi lịch, thi,

kiểm tra)

4. Giảng viên lên lớp

(đúng lịch, thời gian,

chất lượng bài giảng)



Mức 1

SL %

27 54

%

0

0

%

0

0

%



0



0

%



Mức 2

SL

%

21

42

%

0

0%



Mức 3

SL

%

2

4%



Mức 4

SL

%

0

0%



Mức 5

SL

%

0

0%



25



50%



20



40%



5



10%



2



4%



32



64%



15



30%



1



2%



0



0%



1



2%



43



86%



6



12%



Biểu đồ 2.2: Thực trạng quản lý và lập kế hoạch trong quá trình đào tạo:



100

80

60

40

20

0



mức 1



mức 2



mức 3



mức 4



mức 5



lên kế hoạch đào tạo



quản lý lịch giảng dạy hàng ngày



xử lý tình huống



giảng viên lên lớp



Đa số đều chưa lập kế hoạch giảng dạy khóa học theo đúng kế hoạch,

sinh viên ít có cơ hội tiếp cận được chương trình đào tạo cả khóa học. Công

tác quản lý lịch giảng dạy hàng ngày chưa được thực hiện đầy đủ, do chưa có

chế tài xử lý, còn tâm lý nể nang, ngại khi xử lý việc giáo viên đi dạy muộn

hay bỏ dạy.



Bảng 2.3: Về quản lý sinh viên và kết quả học tập

Nội dung

1. Quản lý công tác tổ

chức thi, kiểm tra và

công tác chấm thi,

kiểm tra

2. Quản lý kết quả học

tập của sinh viên (cuối

kỳ, năm, khóa)

3.Quản lý sinh viên đi

thực tế, thực tập

4. Quản lý kết quả rèn

luyện của sinh viên

5. Nghiên cứu khoa

học của sinh viên



Mức 1

SL

%

0

0%



Mức 2

SL

%

0

0%



Mức 3

SL

%

32

64%



Mức 4

SL

%

16

32%



Mức 5

SL %

2

4%



0



0%



0



0%



22



44%



26



52%



2



4%



0



0%



0



0%



3



6%



34



68%



13



26%



0



0%



0



0%



3



6%



29



58%



18



36%



4



8%



32



64% 14



28%



0



0%



0



0%



Biểu đồ 2.3: Thực trạng về quản lý sinh viên và kết quả học tập:



1

2

3

4

5



Nhìn chung, theo đánh giá của cán bộ quản lý và giáo vụ thì công

tác ở khâu quản lý sinh viên là khá tốt. Mức độ 4 (chiếm 42%) chiếm tỷ lệ

nhiều nhất. Trong đó việc quản lý kết quả rèn luyện của sinh viên được

giám sát từ đầu kỳ học, điểm chuyên cần của sinh viên luôn được theo dõi

hàng tháng. Quản lý công tác nghiên cứu khoa học của sinh viên còn chưa

tốt, khó quản lý danh sách sinh viên nghiên cứu khoa học vì hay có sự thay

đổi trong sinh viên, về hướng nghiên cứu hay giáo viên hướng dẫn…

Biểu đồ 2.4: Thực trạng điểm trung bình chung về các nội dung quản lý

của công tác giáo vụ

(theo đánh giá của sinh viên)

5

4

3

2

1

0

1



2



3



4



5



6

điểm 7

TB 8



9



10



11



12



Các kết quả điều tra trên sinh viên cho kết quả khá tương đồng với

đánh giá của cán bộ quản lý và giáo vụ. Tuy nhiên một số đánh giá có sự

khác biệt:



Bảng 2.4: Kết quả đánh giá của sinh viên và cán bộ quản lý

Về quản lý thông tin sinh viên



Nội dung

Quản



thông

tin

sinh

viên



CB



SV



Từ trúng tuyển cho đến khi ra trường



1,2



2,2



Cập nhật thông tin sinh viên trong suốt quá trình đào tạo

tại khoa (hoàn cảnh gia đình; tham gia phong trào sinh

viên; khen thưởng; kỷ luật; điểm học tập, rèn luyện)



3,3



3,6



Quản lý giờ lên lớp của sinh viên



3,1



3,6



Điểm trung bình chung



2,53



3,13



Biểu đồ 2.5 Kết quả đánh giá của sinh viên và cán bộ quản lý

Về quản lý thông tin sinh viên

5

4

3

2

1

0



CB

SV



1



2



3



(1: quản lý thông tin từ trúng tuyển tới khi ra trường; 2: Cập nhật thông tin

trong suốt quá trình đào tạo; 3:quản lý giờ lên lớp của sinh viên)

Về lập kế hoạch đào tạo, thông tin môn học, đa phần SV chưa được

cung cấp thông tin về mục tiêu đào tạo của môn học, SV ít được cung cấp

thông tin rõ ràng về yêu cầu của môn học, kế hoạch giảng dạy, tiêu chí

đánh giá kết quả học tập (hình thức thi/ kiểm tra giữa môn, kết thúc môn,

cách tính điểm…)



Sau khi SV nhập học hoặc đầu mỗi học kỳ, dưới sự hướng dẫn của

trợ lý học tập, SV tiến hành đăng ký học các học phần muốn học trong

chương trình đào tạo sao cho phù hợp với họ. Việc đào tạo theo tín chỉ giúp

SV tự học theo khả năng, giúp nhiều SV cùng lúc có thể theo học nhiều

ngành khác nhau, tăng cường khả năng bổ trợ kiến thức giữa các ngành học

khác nhau nhưng lại tạo ra nhiều khó khăn, vất vả cho những người quản lý

quá trình đào tạo. Việc tập hợp tất cả các đăng ký học của SV, thống kê số

học phần để lên kế hoạch đào tạo là công việc lớn và gặp nhiều khó khăn,

mất nhiều thời gian và mang tính phức tạp nên công tác giáo vụ thực hiện

chưa tốt. Lịch học và lịch thi sắp xếp chưa cụ thể, thông báo chưa kịp thời.

Ngoài ra, việc thường xuyên đổi lịch so với kế hoạch đã thông báo gây khó

khăn cho SV (điểm trung bình lên kế hoạch cả khóa là 1,6; quản lý lịch

giảng dạy hàng ngày 3,1)

Đối với mỗi SV, nếu việc đăng ký của họ được chấp nhận thì sau

mỗi học kỳ, kết quả thi của họ được thông báo đồng thời giáo vụ phải cập

nhật vào bảng kết quả tích lũy học phần của SV đó theo từng khóa học.

Bên cạnh đó, giáo vụ phải lên danh sách thi lại theo từng học phần cho

những SV chưa đạt yêu cầu và đề nghị Khoa tổ chức thi lại sau mỗi học kỳ.

Sau khoảng thời gian nhất định đối với mỗi khóa học, giáo vụ phải rà soát

lại toàn bộ danh sách SV toàn khóa để lên danh sách SV đủ điều kiện tốt

nghiệp, trình Lãnh đạo nhà trường duyệt và tổ chức thi tốt nghiệp cho SV.

Việc này tốn nhiều thời gian và công sức. Do vậy, theo kết quả đánh giá

của sinh viên, việc quản lý kết quả học tập sinh viên chưa cao (điểm trung

bình 3,7).

75% sinh viên cho rằng việc ứng dụng CNTT vẫn chưa được đồng

bộ trên tất cả các khâu của quá trình quản lý SV, mới chỉ thực hiện được

phần quản lý hồ sơ, thông tin về SV và quản lý điểm là chính. Việc ứng

dụng CNTT cho các công việc này chỉ ở mức độ sử dụng các phần mềm

Word, Excel... Còn các công việc quản lý khác như: Đăng ký học, quản lí

quá trình đào tạo, theo dõi học phí, thi lại, tốt nghiệp,… của SV thì hầu như



giáo vụ vẫn phải làm bằng tay.

Bảng 2.5: Kết quả đánh giá của sinh viên và cán bộ quản lý

về quản lý và lập kế hoạch đào tạo

Nội dung



CB



SV



Lên kế hoạch đào tạo cả khoá học



1,5



1,6



3,6

Quản lý và Công tác quản lý lịch giảng hàng ngày

lập kế hoạch Xử lý tình huống quản lý đào tạo (thay đổi lịch, 3,1

đào tạo

giảng viên, thi, kiểm tra...)

Điểm trung bình chung

2,73



3,1

2,8

2,50



Biểu đồ 2.6: Kết quả đánh giá của sinh viên và cán bộ quản lý về

quản lý và lập kế hoạch đào tạo

5

4

3



CB

SV



2

1

0

1



2



3



(1 : lên kế hoạch cả khóa học ; 2 :công tác quản lý lịch giảng hàng ngày ;

3 :Xử lý tình huống quản lý đào tạo)

Nhận xét chung :

1. Cán bộ quản lý đào tạo, giáo vụ và sinh viên đánh giá về các tiêu chí quản

lý đào tạo tương đối đồng nhất, các khách thể khảo sát đánh giá các tiêu chí

quản lý đào tạo đại học của Khoa, Trường phần lớn ở mức trung bình khá.

Mức trên 4 điểm không nhiều, một số tiêu chí ở mức rất thấp (quản lý thông

tin sinh viên sau tốt nghiệp, sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học).

2. Cả hai loại khách thể đánh giá thấp nhất về quản lý thông tin đầu ra của

sinh viên ; gồm có quản lý thông tin sinh viên sau tốt nghiệp, lưu trữ hồ sơ

của sinh viên. Như vậy Trường cần có một trung tâm, thậm chí một Ban hoặc



Khoa có nhiệm vụ chuyên làm đầu mối liên lạc với các cựu sinh viên. Qua

những thông tin phản hồi gửi về từ các cựu sinh viên này, Trường có thể đánh

giá được chất lượng đầu ra của mình.

3. Sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học được đánh giá còn thấp. Sinh viên

nhận đề tài nghiên cứu phần lớn không phải do hứng thú với vấn đề mình

định nghiên cứu mà do phong trào nhận đề tài nghiên cứu để được cộng thêm

điểm vào kết quả học tập.

4. Một điểm yếu của quản lý đào tạo nữa là quản lý và lập kế hoạch đào tạo;

đó là những vấn đề lên kế hoạch học tập, quản lý lịch giảng, giờ giảng của

giảng viên, xử lý tình huống trong ngày,...

5. Trình độ giảng viên cũng đáng bàn trong quản lý đào tạo, nhiều giảng viên

chưa có nhiều kinh nghiệm, chưa có phương pháp giảng dạy và trình độ

chuyên môn còn hạn chế.

6. Thông tin về kết quả học tập cho sinh viên còn yếu, thông tin về quản lý

đào tạo hàng ngày, kỳ, năm học cho sinh viên chưa thường xuyên.

7. Một điều cần quan tâm nữa là khi đánh giá về phẩm chất, trình độ chuyên

môn của cán bộ quản lý đào tạo chưa đạt điểm cao (chỉ 3,8 điểm/5 điểm - cán

bộ tự đánh giá và 3,5 - sinh viên đánh giá. Như vậy, chính cán bộ quản lý đào

tạo và giáo vụ cần phát huy về phẩm chất và trình độ chuyên môn hơn nữa để

đạt được yêu cầu quản lý đào tạo ngày càng phức tạp và đáp ứng nguyện vọng

của cán bộ, nhân viên và sinh viên nhà trường.

2.2. Thực trạng biện pháp quản lý hoạt động dạy và học của giáo vụ ở

trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà nội

Thực trạng quản lý hoạt động dạy và học hiện nay của giáo vụ ở

Trường ĐHSP Hà Nội được giao cho Phòng Đào tạo kết hợp với giáo vụ của

các khoa trong trường. Phương thức quản lý hoạt động dạy và học của

Trường là phương thức đào tạo tập trung, người học sẽ tham gia khoá học 4

năm, một năm có 2 kỳ chính, mỗi học kỳ chính có ít nhất 15 tuần thực học và

3 tuần thi.



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (108 trang)

×