1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÍ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CHO ĐỘI NGŨ TỔ TRƢỞNG CHUYÊN MÔN TRONG CÁC TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƢỜNG XUYÊN CẤP HUYỆN Ở TỈNH VĨNH PHÚC

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.73 MB, 112 trang )


CHƢƠNG 2

THỰC TRẠNG CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÍ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

SÁNG TẠO CHO ĐỘI NGŨ TỔ TRƢỞNG CHUYÊN MÔN TRONG

CÁC TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƢỜNG XUYÊN CẤP HUYỆN

Ở TỈNH VĨNH PHÚC

2.1. Một số nét về tình hình của các Trung tâm GDTX tỉnh Vĩnh Phúc

Toàn Tỉnh Vĩnh Phúc có 19 đơn vị tổ chức bổ túc THPT với 185 lớp và

6.852 học viên. Trong đó có 7 Trung tâm GDTX cấp huyện gồm: Lập Thạch,

Tam Dương, Tam Đảo, Vĩnh Tường, Yên Lạc, Bình Xuyên, Phúc Yên với 63

lớp, 98 giáo viên, 4.590 học viên. Toàn Tỉnh có 135 Trung tâm học tập cộng

đồng.

Căn cứ Quy chế tổ chức và hoạt động, các TTGDTX đã rà soát thực

hiện chức năng nhiệm vụ để định hướng phát triển một trung tâm thực hiện

nhiều nhiệm vụ.

- 100% các trung tâm TGDTX của Tỉnh Vĩnh Phúc đều thực hiện ổn

định mô hình Bổ túc THPT kết hợp với giáo dục nghề nghiệp (trung cấp nghề

hoặc TCCN), tỉ lệ học nghề đạt gần 100%.

- Sở GD&ĐT đã và đang triển khai xây dựng thí điểm 02 trung tâm

GDTX cấp huyện (Yên Lạc, Bình Xuyên) hoạt động có hiệu quả, theo mô hình

một đơn vị thực hiện nhiều nhiệm vụ, từ đó rút kinh nghiệm và triển khai

nhân rộng; Từng bước nghiên cứu việc giao cho trung tâm GDTX cấp tỉnh,

cấp huyện là đơn vị tổ chức các hoạt động bồi dưỡng, tập huấn giáo viên mầm

non, giáo viên phổ thông.

+ Các TT GDTX đang tích cực chuẩn bị các điều kiện về cơ sở vật

chất, đội ngũ, chương trình dạy học, từng bước thực hiện nhiệm vụ đào tạo

nghề tại TT GDTX theo văn bản số 4808/BGDĐT-GDTX ngày 13/8/2010

của Bộ GD&ĐT (định hướng phối hợp thực hiện Quyết định 1956/QĐ-TTg,



38



ngày 27.11.2009 của Thủ tướng chính phủ về phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề

cho lao động nông thôn đế n năm 2020”).

- Cơ sở vật chất, trang thiết bị của các trung tâm GDTX từng bước

được tỉnh quan tâm. Một số tiếp tục mở rộng diện tích, xây dựng phòng học,

phòng dạy nghề 100% TTGDTX có hệ thống phòng học, nhà điều hành cao

tầng, trong đó có 24 phòng máy tính, 5 đơn vị có các phòng học nghề với 31

phòng với trang thiết bị cho dạy văn hóa và dạy nghề. Số máy vi tính được

trang bị: 457, bình quân 01 trung tâm GDTX có 57 máy.

- 100% các đơn vị chủ động xây dựng kế hoạch thực hiện nhiệm vụ

năm học (với mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp cụ thể); Giám đốc TT GDTX chịu

trách nhiệm cá nhân về quản lý, tổ chức có hiệu quả các hoạt động và sự phát

triển của đơn vị.

Tóm lại các trung tâm GDTX cấp huyện ở tỉnh Vĩnh Phúc đã và đang

phát triển toàn diện cả về quy mô, hệ thống; Tăng cường CSVC, trang thiết bị và

đội ngũ; Tạo cơ hội học tập cho người lao động, nâng cao chất lượng phổ cập

Tiểu học, THCS, tích cực triển khai phổ cập giáo dục trung học và xây dựng xã

hội học tập góp phần đáp ứng yêu cầu đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân

lực phục vụ tích cực cho sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hoá xã hội của đất

nước cũng như ở địa phương.

2.2. Thực trạng hoạt động của tổ chuyên môn trong các trung tâm GDTX

cấp huyện ở tỉnh Vĩnh Phúc

2.2.1 Khái quát về chức năng, nhiệm vụ của các trung tâm GDTX cấp

huyện ở tỉnh Vĩnh Phúc.

Chức năng, nhiệm vụ của trung tâm thực hiện theo Quy chế Tổ chức và

hoạt động của TTGDTX được ban hành kèm theo Quyết định số

01/2007/QĐ-BGDĐT ngày 02 tháng 01 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ

GD&ĐT. Trung tâm có nhiệm vụ chính như sau:

- Chương trình xóa mù chữ và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ;



39



- Chương trình giáo dục đáp ứng yêu cầu của người học, cập nhật kiến

thức, kỹ năng, chuyển giao công nghệ;

- Chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn,

nghiệp vụ bao gồm: chương trình bồi dưỡng ngoại ngữ, tin học ứng dụng,

công nghệ thông tin - truyền thông; chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao

trình độ chuyên môn; chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ;

chương trình dạy tiếng dân tộc thiểu số cho cán bộ, công chức công tác tại

vùng dân tộc, miền núi theo kế hoạch hằng năm của địa phương;

- Chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học cơ sở và trung học

phổ thông.

+ Điều tra nhu cầu học tập trên địa bàn, xác định nội dung học tập, đề

xuất với sở giáo dục và đào tạo, chính quyền địa phương việc tổ chức các

chương trình và hình thức học phù hợp với từng loại đối tượng.

+ Tổ chức các lớp học theo các chương trình giáo dục thường xuyên cấp

trung học cơ sở và trung học phổ thông quy định tại điểm d khoản 1 của Điều

này dành riêng cho các đối tượng được hưởng chính sách xã hội, người tàn

tật, khuyết tật, theo kế hoạch hằng năm của địa phương.

+ Tổ chức dạy và thực hành kỹ thuật nghề nghiệp, các hoạt động lao

động sản xuất và các hoạt động khác phục vụ học tập.

+ Nghiên cứu, tổng kết rút kinh nghiệm về tổ chức và hoạt động nhằm

nâng cao chất lượng giáo dục góp phần phát triển hệ thống giáo dục thường

xuyên.

+ Trung tâm đã thực hiện Quyết định số 1070/QĐ – CT ngày 20 tháng 4

năm 2005 của Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Phúc về việc giao bổ sung nhiệm vụ

thực hiện chức năng hướng nghiệp, dạy nghề cho các Trung tâm GDTX cấp

huyện;

+ Đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo quyết định số 1956/QĐTTg ngày 27 tháng 11 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ.



40



Toàn tỉnh có 7 Giám đốc, 10 Phó giám đốc, trong tổng số 17 CBQL ở

các trung tâm GDTX cấp huyện tỉnh Vĩnh Phúc có 05 nữ, 100% đạt chuẩn, 13

người đã qua bồi dưỡng về quảnlý giáo dục, 04 người đã qua quảnlý về nhà

nước, 05 người có trình độlý luận chính trị trung cấp trở lên. Đội ngũ giáo

viên trong toàn tỉnh ở các trung tâm GDTX cấp huyện là 98 người trong đó có

66 nữ, dân tộc 05, hợp đồng 03, đạt chuẩn là 100% và trên chuẩn có 10 người

(Bảng 2.1 phụ Lục).

Trong tỉnh Vĩnh Phúc đã thực hiện xếp loại chuẩn về trình độ: của TT

GDTX căn cứ các Điều 13 (Đối với giám đốc), 14 (Đối với phó giám đốc) và

25 (Đối với giáo viên) của quy chế tổ chức và hoạt động của TT GDTX ban

hành theo Quyết định 01/2007/QĐ-BGDĐT ngày 02/01/2007.

2.2.2. Thực trạng đội ngũ tổ trưởng tổ chuyên môn của các trung tâm

GDTX cấp huyện ở tỉnh Vĩnh Phúc

2.2.2.1. Thực trạng về số lượng và cơ cấu đội ngũ TTCM

Trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc có 7 trung tâm GDTX cấp huyện, trong đó

có 98 giáo viên trực tiếp giảng dạy (không kể Giám đốc, phó giám đốc, nhân

viên trường học), chia thành 14 tổ chuyên môn (Bảng 2.2 phụ lục). Các tổ

chuyên môn trong mỗi trung tâm đều gồm 2 tổ là:

- Khoa học tự nhiên gồm các môn: Toán,lý, hóa, sinh và tin học. Tổng

số giáo viên trong các trung tâm là 52 giáo viên.

- Khoa học xã hội gồm các môn: Văn, Sử, Địa, ngoại ngữ, GDCD.

Tổng số giáo viên trong các trung tâm là 46 giáo viên.

Việc phân chia các tổ chuyên môn do Giám đốc mỗi trung tâm ra quyết

định dựa trên một số tiêu chí: Đặc điểm bộ môn; số lượng giáo viên...Việc

thành lập tổ chuyên môn ở các trung tâm GDTX cấp huyện ở tỉnh Vĩnh Phúc

đều ghép các môn lại với nhau. Thường là ghép 4 đến 5 môn; Số lượng thành

viên ở trong mỗi tổ chuyên môn tùy thuộc vào từng trung tâm.



41



Các trung tâm GDTX trong tổ chức cơ cấu bộ máy quản lý có tổ trưởng

chuyên môn, đạt tỷ lệ 100%. Số CBQL tổ (tổ trưởng) là nữ chiếm 64,3%. Số

CBQL tổ chuyên môn là Đảng viên có 11/14 người, chiếm 78,57%, sinh hoạt

trong các chi bộ Đảng ở mỗi trung tâm giúp sớm nắm bắt được chủ trương

của ban Giám đốc để điều hành tổ chuyên môn đạt hiệu quả cao (Bảng 2.3

phụ lục). Qua điều tra thực tế cho thấy, số TTCM ở độ tuổi dưới 40 chiếm

57,14%, trên 40 tuổi chiếm 42,86% . Kết quả này cho thấy, Giám đốc các trung

tâm cũng đã chú ý đến việc bồi dưỡng, phát triển đội ngũ giáo viên trẻ có năng

lực ở độ tuổi dưới 40 trong đội ngũ TTCM tại các trung tâm (Bảng 2.4 phụ lục).

Số người làm quản lý tổ chuyên môn ở các trung tâm GDTX cấp huyện

ở tỉnh Vĩnh Phúc phần lớn đã có một số năm làm công tác quản lý tổ, do vậy ít

nhiều đã có kinh nghiệm trong lĩnh vực này. Số tổ trưởng chuyên môn có trên 5

năm làm quản lý chiếm tới 85,71%, đặc biệt số có trên 15 năm làm quản lý tổ

chiếm tới 21,43% (Bảng 2.1). Đây là những thuận lợi cơ bản cho việc quản lý

phát triển đội ngũ này. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng cho thấy những tồn tại,

hạn chế. Đó là việc quản lý tổ chuyên môn nếu không được đào tạo bài bản và

bồi dưỡng thường xuyên mà chỉ dựa trên kinh nghiệm quản lý riêng của mỗi

người như đang diễn ra thì dễ dẫn đến sáo mòn, lặp lại, thiếu tính sáng tạo,

không có sự đột phá, đổi mới. Như vậy khó nâng cao được chất lượng hoạt

động tổ chuyên môn để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong các trung tâm

GDTX hiện nay.

Bảng 2.1. Thực trạng về số năm làm quản lý của đội ngũ tổ trưởng chuyên môn

trong các trung tâm GDTX cấp huyện ở tỉnh Vĩnh Phúc

Thống kê



1 - 5 năm 6 - 10 năm 11 - 15 năm 16 - 20 năm

công tác QL công tác QL công tác QL công tác QL



Số người



02



04



05



03



Tỷ lệ %



14,29%



28,57%



35,71%



21,43%



42



2.2.2.2 Thực trạng chất lượng đội ngũ TTCM

Đội ngũ TTCM trong các trung tâm GDTX cấp huyện ở tỉnh Vĩnh Phúc

đều trưởng thành lên từ đội ngũ nhà giáo trực tiếp giảng dạy. Một đặc điểm

chung dễ nhận ra nhất ở đội ngũ này là họ có trình độ chuyên môn vững vàng,

nổi trội nhất trong số những giáo viên cùng bộ môn của trường. Họ có nhiệt

huyết, tinh thần trách nhiệm cao, say mê công việc, được mọi người tin

tưởng…

Về trình độ lý luận chính trị: Đội ngũ TTCM trong các trung tâm GDTX

cấp huyện ở tỉnh Vĩnh Phúc mới đạt trình độ sơ cấp về chính trị, chiếm tỷ lệ

tuyệt đối 100%. Về trình độ học vấn và chuyên môn nghiệp vụ: Qua kết quả

thống kê cho thấy, tất cả đội ngũ TTCM đều có trình độ chuyên môn đào tạo

đạt chuẩn nhà giáo THPT (bằng Đại học), trong đó 100% tốt nghiệp ĐHSP.

Số TTCM đạt trình độ Thạc sĩ có 05 người, chiếm 35,7%. Con số này tuy có

tăng so với 3 năm trước nhưng vẫn cho thấy chất lượng đào tạo về chuyên

môn nghiệp vụ cho đội ngũ TTCM còn thấp, chưa xứng tầm với yêu cầu nâng

cao chất lượng giáo dục ở một tỉnh mũi nhọn về kinh tế, văn hoá, chính trị của

cả nước.

Về trình độ năng lực quản lý: Hầu hết TTCM chưa được trang bị, bồi

dưỡng những kiến thức lý luận cần thiết, đặc biệt là bốn kỹ năng cơ bản của

quản lý (lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra đánh giá). Họ quản lý tổ

chuyên môn hầu hết bằng kinh nghiệm, bằng sự học hỏi xung quanh và qua

sự chỉ đạo của Giám đốc. Số TTCM được đào tạo nghiệp vụ quản lý trong

các trung tâm hầu như không có. Họ chỉ được bồi dưỡng theo chuyên đề

nhưng không thường xuyên do Sở Giáo dục & Đào tạo tổ chức vào một vài

dịp nào đó trong hè hoặc trong năm học.

Để phân tích thực trạng phẩm chất và năng lực chuyên môn của đội ngũ

TTCM các trung tâm GDTX cấp huyện ở tỉnh Vĩnh Phúc đề tài khảo sát 115

người, trong đó có 7 Giám đốc, 10 phó giám đốc, 14 tổ trưởng chuyên môn và



43



84 giáo viên của 7 trung tâm GDTX nói trên. Đánh giá phẩm chất và năng lực

của đội ngũ TTCM trong các trung tâm GDTX cấp huyện ở tỉnh Vĩnh Phúc

với 04 mức độ: Tốt, Khá, Trung bình và Chưa đạt. Xử lý từng nội dung và

đánh giá bằng điểm số theo nguyên tắc:

Cho điểm theo 4 mức độ: Tốt: 4 điểm, Khá: 3 điểm, TB: 2 điểm, Chưa

đạt: 1 điểm (min = 1; max = 4); Lấy tổng ∑ chia cho tổng số phiếu khảo sát

(115 phiếu) ta được giá trị B. Ta có thể xác định và so sánh các nội dung

thông qua giá trị trung bình là B

Tốt: 3, 25 ≤ B ≤ 4 điểm ;



Khá: 2,5 ≤ B ≤ 3,24 điểm ;



TB: 1,75 ≤ B ≤ 2,49 điểm;



Chưa đạt (Yếu): 1 ≤ B ≤ 1,74 điểm.



Có 3 nhóm đối tượng tham gia đánh giá về năng lực của TTCM theo

mẫu phiếu phát ra, đó là:

- Giám đốc (GĐ), Phó giám đốc (PGĐ) người trực tiếp quản lý các

TTCM đánh giá về TTCM.

- TTCM tự đánh giá về mình.

- Các tổ viên (giáo viên) đánh giá về TTCM của mình.

Các tiêu chí để đánh giá về mức độ đạt được ở TTCM như sau:

Mức tốt: Người TTCM thực hiện công việc một cách thành thạo, sáng tạo và

có khả năng hướng dẫn cho người khác.

Mức Khá: Người TTCM thực hiện công việc một cách thành thạo, độc lập.

Mức trung bình: Người TTCM thực hiện được công việc, nhưng vẫn cần có

sự hướng dẫn.

Mức chưa đạt: Người TTCM chỉ thực hiện được công việc khi được hướng

dẫn, kèm cặp cụ thể.

Kết quả cụ thể từng mặt sẽ được trình bày ở những phần dưới đây.

Kết quả cho thấy phẩm chất chính trị đạo đức nghề nghiệp, lối sống

của đội ngũ TTCM được đánh giá chung là tốt, có điểm trung bình của các



44



tiêu chí B = 3,28. Riêng phẩm chất Tự tin, lạc quan, có ý thức ủng hộ, chấp

nhận sự thay đổi ở đội ngũ TTCM được đánh giá ở mức độ trung bình B = 2,4

(thứ bậc 10/10). Đây cũng là chính điểm còn bộc lộ nhiều tồn tại của đội ngũ

cán bộ quản lý giáo dục nói chung và đội ngũ tổ trưởng chuyên môn nói riêng

(Bảng 2.5 phụ lục).

Thực trạng năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ TTCM

Qua 10 nội dung khảo sát:

1. Có hiểu biết về chương trình giáo dục THPT

2. Có trình độ chuẩn về bộ môn được đào tạo.

3. Có năng lực tự học, tự bồi dưỡng chuyên môn.

4. Có năng lực cố vấn, bồi dưỡng nâng cao chuyên môn nghiệp vụ cho đồng

nghiệp.

5. Nhạy bén, tích cực trong đổi mới phương pháp dạy học.

6. Có khả năng nghiên cứu khoa học.

7. Giải quyết vấn đề sáng tạo

8. Tư duy sáng tạo

9. Trực tiếp tham gia dạy ở đội tuyển HSG các cấp có hiệu quả.

10. Có khả năng về tin học và ngoại ngữ, có thể phục vụ tốt cho việc học tập

nghiên cứu chuyên môn.

Cho thấy trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ TTCM các trung

tâm GDTX cấp huyện ở tỉnh Vĩnh Phúc được đánh giá chung là khá tốt, có

điểm trung bình của các tiêu chí B = 3,06 (Bảng 2.6 phụ lục).

Có những phẩm chất năng lực chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ TTCM

được đánh giá ở mức tốt, đó là: Có trình độ chuẩn về bộ môn được đào tạo B =

3,96 (thứ bậc 1/10); Có hiểu biết về chương trình GDTHPT B = 3,89 (thứ bậc

2/10). Trực tiếp tham gia dạy ở đội tuyển HSG các cấp có hiệu quả B = 3,45



45



(thứ bậc 3/10); Có khả năng nghiên cứu khoa học B = 3,28 (thứ bậc 4/10)

(Bảng 2.6 phụ lục).

Những phẩm chất năng lực được đánh giá ở mức độ khá, đó là: Có

năng lực cố vấn, bồi dưỡng nâng cao chuyên môn nghiệp vụ cho đồng nghiệp

B = 3,09 (thứ bậc 5/10; Có năng lực tự học, tự bồi dưỡng chuyên môn B =

3,05 (thứ bậc 6/10); Nhạy bén, tích cực trong đổi mới phương pháp dạy học B

= 2,9 (thứ bậc 7/10); Có khả năng về tin học và ngoại ngữ, có thể phục vụ tốt

cho việc học tập nghiên cứu chuyên môn B = 2,6 (thứ bậc 8/10) (Bảng 2.6

phụ lục).

Trong tất cả các nội dung khảo sát trên, ta thấy có 2 nội dung là: Tư duy

sáng tạo B = 2,26 (thứ bậc 9/10) và Giải quyết vấn đề sáng tạo B= 2,14 (thứ

bậc 10/10) là bị đánh giá ở mức độ trung bình thấp (Bảng 2.6 phụ lục).

Từ năm 2012, để đánh giá xếp loại cán bộ quản lý nhà trường, Sở Giáo

dục & Đào tạo tỉnh Vĩnh phúc đã áp dụng Chuẩn Hiệu trưởng, Giám đốc

trong đó có quy định về Năng lực ngoại ngữ và công nghệ thông tin là một

yêu cầu bắt buộc. Mặt khác đây cũng là những năng lực cần thiết để giúp

TTCM sáng tạo trong công việc. TTCM cũng là một trong những lực lượng

cán bộ quản lý trường học nên rất cần tiêu chí này trong đánh giá, xếp loại.

Riêng về vấn đề này, tác giả tiến hành khảo sát trình độ Tin học, Ngoại ngữ

của 14 TTCM thuộc 7 trung tâm GDTX cấp huyện ở tỉnh Vĩnh Phúc gồm các

năng lực: 1. Sử dụng Microsoft Word (chủ yếu để soạn thảo văn bản); 2. Sử

dụng Microsoft Excel (Chủ yếu để lập bảng biểu và tính toán đơn giản); 3. Sử

dụng Power Point; 4. Truy cập và khai thác thông tin trên Internet; 5. Biết sử

dụng các phầm mềm quản lý và phần mềm dạy học cần thiết; 6. Trình độ cao

hơn (lập trình, thiết kế phần mềm…) và Năng lực ngoại ngữ gồm: 1. Biết

đọc, viết, nói đơn giản (tương đương trình độ A); 2. Biết giao tiếp thông

thường (tương đương trình độ B); 3. Tham dự được những cuộc họp, cuộc



46



làm việc với người nước ngoài bằng ngoại ngữ; 4. Biết dùng ngoại ngữ để

giảng dạy trên lớp; 5. Biết dùng ngoại ngữ để nghiên cứu, dịch thuật.

Kết quả khảo sát cho thấy:

Về trình độ tin học, trong những năm gần đây, việc ứng dụng công nghệ

thông tin vào dạy học và quản lý được chú trọng đẩy mạnh, do đó nhiều cán bộ

quản lý và giáo viên đã tự học và biết sử dụng máy vi tính, ứng dụng công nghệ

thông tin ở những mức độ nhất định nào đó. Tuy nhiên, qua điều tra thực tế, cho

thấy trên 90% tổ trưởng chuyên môn chưa có bằng hoặc chứng chỉ về đào tạo

tin học. Việc sử dụng CNTT chủ yếu dừng ở mức độ rất thấp như soạn thảo văn

bản (100%), trình chiếu Power Point (55,5% biết sử dụng và sử dụng thành

thạo), truy cập và khai thác một số thông tin tài liệu trên mạng...; chỉ có 42,8%

TTCM biết sử dụng bình thường và thành thạo các mức độ của trình độ tin học

ứng dụng, còn lại 24,8% lúng túng và đến 32,4% không thể sử dụng được theo

các mức độ như trên (Bảng 2.7 phụ lục).

Về trình độ ngoại ngữ, có 01 TTCM là giáo viên ngoại ngữ nên có bằng

Đại học ngoại ngữ, chiếm 7,1%, còn lại chưa có chứng chỉ hoặc bằng riêng về

ngoại ngữ. Họ chỉ được học một ngoại ngữ nào đó (chủ yếu là tiếng Anh) từ

khi ở trường Đại học, sau đó không học thêm để củng cố và nâng cao trình độ

(Bảng 2.7 phụ lục).

Có thể nói, trình độ tin học và ngoại ngữ của đội ngũ CBQL các nhà

trường nói chung và TTCM nói riêng rất yếu kém, có 77,1% TTCM không

biết sử dụng được ngoại ngữ ở những mức độ khác nhau. Điều này có ảnh

hưởng không nhỏ đến việc học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ chuyên môn

cũng như phát triển năng lực sáng tạo. Trong khi đó một trong những yêu cầu

bắt buộc của CBQL trường học (chuẩn Hiệu trưởng) là phải có trình độ ngoại

ngữ và tin học để làm việc có hiệu quả.



47



2.2.3. Thực trạng sự hiểu biết về năng lực sáng tạo của người giáo viên ở

trung tâm GDTX cấp huyện ở tỉnh Vĩnh Phúc

Để tìm hiểu thực trạng về sự hiểu biết năng lực sáng tạo của người giáo

viên trong đội ngũ TTCM tại các trung tâm GDTX ở tỉnh Vĩnh phúc. Chúng

tôi thực hiện điều tra theo phiếu hỏi và được tổng hợp theo bảng sau:

Bảng 2.2. Đánh giá sự hiểu biết về năng lực sáng tạo của người giáo viên ở

trung tâm GDTX cấp huyện ở tỉnh Vĩnh Phúc. (Hãy đánh dấu X vào ô phù

hợp)

Biểu hiện cụ thể



Đúng



Sai



1.



Tò mò, ham muốn tìm hiểu cái mới



2.



Có khả năng tưởng tượng



3.



Có kiến thức về các môn khoa học



4.



Có khả năng tư duy để hình thành các ý tưởng

mới.



5.



Sử dụng các phương pháp dạy học tích cực



6.



Thấy được năng lực sáng tạo của học sinh.



7.



Có phương pháp dạy học sáng tạo



53

46,1%

43

37,4%

77

67,0%

114

99,1%

113

98,3%

85

73,9%

103

89,6%

74

64,3%

53

46,1%

36

31,3%

47

40,9%

37

32,2%

94



62

53,9%

72

62,6%

38

33,0%

01

0,9%

02

1,7%

30

26,1%

12

10,4%

41

35,7%

62

53,9%

79

68,7%

58

59,1%

78

67,8%

21



TT



8.

9.

10.

11.

12.

13.



Sử dụng các phương pháp sáng tạo để phát

triển năng lực sáng tạo của học sinh

Tin rằng tất cả mọi học sinh đều có năng lực

sáng tạo

Không thích sự thay đổi

Xác định cách giải quyết mới hoàn toàn khác

với những cách giải quyết đã quen biết.

Có năng lực phân tích để đánh giá được ý

tưởng nào là có giá trị.

Có năng lực tổ chức thực hiện các mục tiêu đề



48



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (112 trang)

×