1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨCÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.64 MB, 118 trang )


CHƢƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ

CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ

1.1. Vài nét lịch sử nghiên cứu vấn đề

Cuối thế kỷ XVIII, Robert Owen (1771-1858), Charles Babbage (1792-1871) và

Andrew Ure (1778-1875) ở Phƣơng Tây đã đƣa ra ý tƣởng: muốn tăng năng suất lao

động, cần tập trung giải quyết một số yếu tố chủ yếu nhƣ phúc lợi, giám sát công

nhân, mối quan hệ giữa ngƣời quản lý đối với ngƣời bị quản lý. Tiếp đó

FredrickWinslow Taylor (1856-1915) với bốn nguyên tắc quản lý khoa học, đã đề

cập tới nâng cao chất lƣợng của ngƣời quản lý [14, tr.89].

Tại Pháp, Henri Fayol (1841-1915) đã đƣa ra 5 chức năng cơ bản của quản lý

hành chính. Theo ông, nếu ngƣời quản lý có đủ phẩm chất và năng lực kết hợp nhuần

nhuyễn với các chức năng, các quy tắc và nguyên tắc quản lý thì thực hiện đƣợc mục

tiêu quản lý và dẫn đến thực hiện mục tiêu của tổ chức [14, tr.42].

Đến những năm cuối thập niên 60 của thế kỷ XX, khi các khái niệm “vốn con

ngƣời” (Human Capital), “nguồn lực con ngƣời” (Human Resources) xuất hiện ở

Hoa Kỳ và sau đó thịnh hành trên thế giới thì vấn đề phát triển đội ngũ cán bộ

quản lý cũng đƣợc giải quyết với tƣ cách là phát triển một nguồn lực của một

ngành, lĩnh vực. Tuy nhiên, nội dung và cách giải quyết vấn đề có sự khác nhau ở

nhiều mức độ và phụ thuộc rất lớn vào điều kiện thực tế ở mỗi quốc gia và mỗi

giai đoạn lịch sử cụ thể.

Vào thập niên 70-80 của thế kỷ XX, một trƣờng phải tiếp cận về quản lý trên cơ

sở xem xét những yếu tố văn hoá đã xuất hiện trong đo có nêu những nét văn hoá

quản lý vừa thể hiện ở phẩm chất vừa thể hiện ở năng lực ngƣời quản lý. Cũng trong

thời kỳ này, việc nghiên cứu quản lý trên cơ sở xem xét tổng thể, thì lý thuyết sơ đồ

7S: Structure (cơ cấu), Strategy (chiến lƣợc), Skills (các kỹ năng), Style (phong

cách), System (hệ thống) và Shared value (các giá trị chung) và đặc biệt là Staff (đội

ngũ) đã xuất hiện. Khi phân tích về đội ngũ ngƣời đọc thấy đƣợc giá trị về chất lƣợng

đội ngũ quản lý trong việc đạt tới mục tiêu của tổ chức [12, tr.28].

Trong những năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về lý luận cũng nhƣ

các giải pháp phát triển giáo dục. Chiến lược phát triển giáo dục 2001- 2010 nêu bảy



6



nhóm giải pháp phát triển giáo dục “Trong đó, đổi mới chương trình giáo dục, phát

triển đội ngũ nhà giáo là giải pháp trọng tâm; đổi mới quản lý giáo dục là khâu đột

phá” . Cuốn sách “Giáo dục Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ XXI Chiến lược

phát triển” của Đặng Bá Lãm đã có những phân tích khá sâu sắc về giải pháp quản lý

giáo dục [21, tr.283] đã trình bày quan điểm, mục tiêu và biện pháp phát triển giáo

dục và hệ thống giáo dục, làm rõ thêm nhận thức về chiến lƣợc phát triển giáo dục,

ngoài ra còn nhiều tài liệu khác đề cập đến vấn đề này

Nghiên cứu về phát triển đội ngũ CBQL nhà trƣờng ở các địa phƣơng đã có

một số công trình nghiên cứu nhƣ sau:

+ Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục về đề tài: "Thực trạng, phương hướng và

những giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng đội ngũ quản lý giáo dục trường trung

học cơ sở tỉnh Bắc Ninh” của tác giả Nguyễn Công Duật (2000).

Nhằm nghiên cứu, đề xuất các giải pháp quản lý để nâng cao chất lƣợng đội

ngũ cán bộ quản lý giáo dục ở các trƣờng còn có một số công trình nghiên cứu nhƣ

sau:

+ Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục với đề tài: “Phát triển đội

ngũ cán bộ quản lý ở các trường trung học cơ sở của huyện Mỹ Lộc tỉnh Nam Định

trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Nguyễn Thị Phƣơng Lan (2008).

+ Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục với đề tài: "Phát triển đội ngũ cán bộ quản

lý trường trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Nam Định trong giai đoạn hiện nay”

của tác giả Nguyễn Quý Cao (2010).

Các nghiên cứu và một sồ đề tài trên đã đề cập vấn đề giải pháp nâng cao chất

lƣợng quản lý giáo dục, cụ thể là nâng cao chất lƣợng đội ngũ quản lý giáo dục

trƣờng học. Các kết quả nghiên cứu trên để phát triển đội ngũ cán bộ quản lý ở

trƣờng THCS có thể tham khảo cho phát triển đội ngũ CBQL trƣờng THCS huyện

Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng nhƣng do đặc điểm của địa phƣơng về phát triển

KT-XH và đặc biệt là phát triển giáo dục của huyện Vĩnh Bảo nên không thể rập

khuôn những nội dung của địa phƣơng này cho địa phƣơng khác mà cần có nghiên

cứu chuyên biệt.



7



1.2. Một số khái niêm cơ bản của đề tài

̣

1.2.1. Quản lý

Trong nghiên cứu khoa học có rất nhiều quan niệm về quản lý, theo những cách

tiếp cận khác nhau. Quản lý là cai quản, chỉ huy, lãnh đạo, chỉ đạo kiểm tra theo góc

độ tổ chức. Theo góc độ điều khiển thì quản lý là lái, là điều khiển, điều chỉnh. Theo

cách tiếp cận hệ thống thì quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tƣợng

quản lý nhằm tổ chức, phối hợp hoạt động của con ngƣời trong quá trình sản xuất để

đạt đƣợc mục đích đã định.

Quản lý là một hoạt động thiết yếu, đảm bảo phối hợp nỗ lực hoạt động của cá

nhân nhằm đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức. Trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội con

ngƣời muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào nỗ lực của mỗi cá nhân, mỗi tổ

chức. Theo Các Mác: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào

tiến hành trên quy mô tƣơng đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều

hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận

động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của

nó. Một ngƣời độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần

phải có một nhạc trƣởng” Theo quan điểm này thì trong quá trình lao động con ngƣời

phải có sự phân công, hợp tác với nhau, sự tổ chức phân công lao động đó chính là

một chức năng quản lý, nhƣ vậy quản lý là một chức năng xã hội, xuất hiện và phát

triển cùng với xã hội.

Theo Từ điển Tiếng Việt 1998: “Quản lý là trông coi và giữ gìn theo những yêu

cầu nhất định”.

Henry Fayon (1841-1925), ngƣời đặt nền móng cho lý luận tổ chức cổ điển:

“Quản lý tức là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra”.

Theo W.Taylor (1856-1915) thì “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng chính xác cái gì

cần làm và làm cái đó thế nào bằng phƣơng pháp tốt nhất và rẻ nhất” [14, tr.68].

Có nhiều cách khác nhau định nghĩa về quản lý, theo các tác giả Nguyễn Quốc

Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì định nghĩa kinh điển nhất về quản lý là: “Quá trình

tác động có chủ hƣớng, có chủ đích của chủ thể quản lý (ngƣời quản lý) đến khách

thể (đối tƣợng quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt

đƣợc mục đích của mình” [12, tr 1].



8



Quản lý là sự cộng tác có tổ chức, có định hƣớng của chủ thể quản lý đến

khách thể quản lý trong mỗi tổ chức nhằm làm cho tổ chức hoạt động và đạt đƣợc

mục tiêu đặt ra. Quản lý là sự tác động, điều khiển, chỉ huy, hƣớng dẫn các quá trình

xã hội và hành vi hoạt động của con ngƣời nhằm đạt đƣợc mục đích đề ra. Quản lý

còn là một quá trình tác động có mục đích vào hệ thống nhằm làm thay đổi hệ thống,

thông qua các chức năng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra để thực hiện hoạt

động quản lý. Trong các định nghĩa trên, tuy cách diễn đạt khác nhau nhƣng đều

chứa đựng những dấu hiệu chung:

Quản lý là thuộc tính bất biến nội tại của mọi quá trình, mọi hoạt động xã hội

loài ngƣời. Lao động quản lý là điều kiện quan trọng để làm cho xã hội loài ngƣời

tồn tại và phát triển.

Hoạt động quản lý đƣợc tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội.

Hoạt động quản lý thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận gắn bó chặt chẽ với nhau:

Chủ thể quản lý và đối tƣợng quản lý. Yếu tố con ngƣời (ngƣời quản lý và ngƣời bị

quản lý) giữ vai trò trung tâm trong hoạt động quản lý.

Bản chất của quản lý:

Bản chất của hoạt động quản lý là sự tác động có mục đích của ngƣời quản lý

(chủ thể quản lý) đến ngƣời bị quản lý (đối tƣợng quản lý) nhằm đạt đƣợc mục tiêu

chung. Trong đó:

- Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức

- Đối tƣợng quản lý là những con ngƣời cụ thể, nhóm ngƣời…

- Nội dung quản lý các yếu tố cần quản lý của đối tƣợng quản lý

- Công cụ quản lý là phƣơng tiện tác động của chủ thể quản lý tới đối tƣợng

quản lý nhƣ: mệnh lệnh, quyết định, luật lệ, chính sách…

- Phƣơng pháp quản lý là cách thức tác động của chủ thể tới đối tƣợng quản lý.

- Mục tiêu của tổ chức đƣợc xác định theo nhiều cách khác nhau, nó có thể do

chủ thể quản lý áp đặt hoặc do sự cam kết giữa chủ thể và đối tƣợng quản lý.

Quản lý có một số đặc điểm:

- Quản lý là một nghệ thuật tác động vào hệ thống;

- Quản lý là sự thể hiện tổ hợp các biện pháp nhằm vận hành hệ thống đạt

đƣợc mục tiêu đặt ra. Trong quản lý, chủ thể quản lý phải sắp xếp hợp lý các hoạt

động và phải có các tác động phù hợp, kết hợp giữa tri thức và kinh nghiệm quản lý



9



để đạt đƣợc mục tiêu, đồng thời để phát huy tiềm năng của đối tƣợng quản lý thì phải

có cơ chế quản lý đúng đắn. Để thực hiện tốt các quá trình quản lý, ngoài các điều

kiện phƣơng tiện quản lý nhƣ máy móc, thiết bị... thì nhân cách, phong cách của nhà

quản lý là không thể thiếu đƣợc.

Xét dƣới góc độ hoạt động thì quản lý có 4 chức năng cơ bản:

- Chức năng lập kế hoạch: Dự kiến các hoạt động của một quá trình, một giai

đoạn hoạt động hợp lý và các điều kiện, những tình huống dự báo sẽ xảy ra và biện

pháp giải quyết các tình huống đó.

- Chức năng tổ chức: Sự phân công, phối hợp giữa các bộ phận trong tổ chức

để thực hiện các mục tiêu đặt ra. Do có chức năng này mà chủ thể quản lý có thể

phối hợp, phân phối tốt nhất các nguồn lực hiện có. Hiệu quả đạt đƣợc nhiều hay ít,

thành công hay thất bại phụ thuộc nhiều vào năng lực và phong cách của chủ thể

quản lý, phụ thuộc vào việc sử dụng, huy động các nguồn lực cũng nhƣ tạo động lực

và khơi dậy tiềm năng của mỗi cá nhân trong tổ chức.

- Chức năng chỉ đạo: Là sự chỉ huy, hƣớng dẫn, tác động để bộ máy hoạt

động, đây chính là quá trình tác động của chủ thể quản lý, sau khi kế hoạch đã đƣợc

thiết lập, cơ cấu của tổ chức đã đƣợc hình thành, nhân sự đã đƣợc tuyển dụng. Thực

hiện tốt chức năng này ngƣời quản lý phải biết phối hợp, gắn kết giữa các thành viên

lại với nhau, có hình thức, phƣơng pháp động viên khích lệ để họ hoàn thành những

nhiệm vụ nhất định để đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức, xong trong quá trình hoạt động

có điều chỉnh và thúc đẩy.

- Chức năng kiểm tra: Đây là chức năng cơ bản và rất quan trọng của quản lý,

lãnh đạo mà không kiểm tra thì coi nhƣ không lãnh đạo, kiểm tra nhằm nắm tình

hình hoạt động của bộ máy, từ đó điều chỉnh hoạt động của bộ máy theo mong muốn

của nhà lãnh đạo để đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức.

KẾ HOẠCH



KIỂM TRA



THÔNG TIN



TỔ CHỨC



CHỈ ĐẠO



Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa các chức năng quản lý



10



1.2.2. Quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có kế hoạch và hƣớng đích của chủ thể

quản lý ở các cấp khác nhau ở tất cả các khâu, các bộ phận của hệ thống nhằm

đảm bảo cho các cơ quan trong hệ thống giáo dục vận hành tối ƣu, đảm bảo cho sự

phát triển mở rộng cả về số lƣợng cũng nhƣ chất lƣợng để đạt tới mục tiêu giáo

dục. Mục tiêu của quản lý giáo dục chính là trạng thái mong muốn trong tƣơng

lai đối với hệ thống giáo dục, đối với trƣờng học, hoặc đối với những thông số

chủ yếu của hệ thống giáo dục trong mỗi nhà trƣờng. Những thông số này đƣợc

xác định trên cơ sở đáp ứng những mục tiêu tổng thể của sự phát triển kinh tế

xã hội trong từng giai đoạn phát triển của kinh tế đất nƣớc. Mục tiêu này gồm:

Đảm bảo quyền học sinh vào các ngành học, các cấp học, các lớp học đúng chỉ

tiêu và tiêu chuẩn; đảm bảo chỉ tiêu và chất lƣợng đạt hiệu quả đào tạo, phát

triển tập thể sƣ phạm đồng bộ, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và đời

sống vật chất; xây dựng và hoàn thiện các tổ chức chính quyền, Đảng, đoàn thể,

quần chúng để thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục và đào tạo.

Trong QLGD, chủ thể quản lý chính là bộ máy quản lý các cấp; đối tƣợng

quản lý chính là nguồn nhân lực, cơ sở vật chất, kỹ thuật và các hoạt động thực hiện

các chức năng của quá trình giáo dục và đào tạo.

Nội dung của quản lý Nhà nƣớc về giáo dục bao gồm các vấn đề cơ bản

đƣợc quy định tại điều 99 Luật giáo dục năm 2005 (QĐ số 38/2005/QH11 ngày 14

tháng 6 năm 2005). QLGD cũng chịu sự chi phối của các quy luật xã hội và tác động

của quản lý xã hội. QLGD có những đặc trƣng chủ yếu sau đây:

Sản phẩm giáo dục là nhân cách nên QLGD phải ngăn ngừa sự dập khuôn,

máy móc trong việc tạo ra sản phẩm và không đƣợc phép tạo ra phế phẩm.

QLGD nói chung và quản lý nhà trƣờng nói riêng phải chú ý đến sự khác biệt

giữa đặc điểm lao động sƣ phạm so với lao động xã hội.

QLGD đòi hỏi những yêu cầu cao về tính toàn diện, tính thống nhất, tính liên

tục, tính kế thừa và tính phát triển.

Trong QLGD, các hoạt động quản lý hành chính nhà nƣớc và quản lý sự

nghiệp chuyên môn đan xen vào nhau, thâm nhập lẫn nhau, không thể tách rời nhau,

tạo thành hoạt động QLGD thống nhất.



11



Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng, QLGD phải quán triệt quan điểm xã

hội hóa giáo dục. Dựa vào phạm vi quản lý, ngƣời ta đƣa ra hai loại QLGD:

- Quản lý hệ thống giáo dục: QLGD đƣợc diễn ra ở tầm vĩ mô, trong phạm vi

toàn quốc, trên địa bàn lãnh thổ địa phƣơng.

- Quản lý nhà trường: QLGD ở tầm vi mô, trong phạm vi một đơn vị, một cơ

sở giáo dục.

1.2.3. Quản lý nhà trường

1.2.3.1. Trường học

Trƣờng học là một tổ chức giáo dục ở cơ sở nằm trong hệ thống giáo dục quốc

dân. Trong nhà trƣờng hoạt động trung tâm là hoạt động dạy và học, tất cả các hoạt

động đa dạng khác đều hƣớng tới làm tăng hiệu quả của quá trình dạy và học. Theo

tác giả Đặng Quốc Bảo: “Trường học là một thiết chế xã hội trong đó diễn ra quá

trình đào tạo giáo dục với sự hoạt động tương tác của hai nhân tố Thầy - Trò.

Trường học là một bộ phận của cộng đồng và trong guồng máy của hệ thống giáo

dục quốc dân, nó là đơn vị cơ sở.” [4, tr 63].

Trƣờng học là phần tử của hệ thống giáo dục quốc dân, đồng thời cũng là phần tử

của xã hội, thực hiện thể chế chuyên biệt của xã hội, của Nhà nƣớc, có chức năng

đào tạo thế hệ trẻ, có mục tiêu rõ ràng, có tổ chức rất chặt chẽ, đƣợc Nhà nƣớc cung

cấp các điều kiện cần thiết cho việc thực hiện các chức năng của mình. Trƣờng học

có mối quan hệ mật thiết với môi trƣờng kinh tế - chính trị - văn hóa, xã hội. Với tƣ

cách là một phần tử trong hệ thống giáo dục quốc dân nên trƣờng học có nhiệm vụ và

quyền hạn theo luật định của Luật giáo dục.

1.2.3.2. Quản lý nhà trường

Quản lý nhà trƣờng là một bộ phận trong quản lý giáo dục. Nhà trƣờng (cơ sở

giáo dục) chính là nơi tiến hành giáo dục và đào tạo, có nhiệm vụ trang bị kiến thức,

phát triển nhân lực cho xã hội.

Nhà trƣờng là một thiết chế đặc biệt của xã hội, thực hiện chức năng kiến tạo các

kinh nghiệm xã hội cho nhóm cƣ dân nhất định. Từ đó ta thấy quản lý hoạt động giáo

dục trong nhà trƣờng chính là xây dựng phát triển các mối quan hệ giữa học sinh và

giáo viên. Mối quan hệ đó do quá trình sƣ phạm trong nhà trƣờng quy định, thông qua

các văn bản quy phạm pháp luật của nhà nƣớc và của ngành.



12



Do con đƣờng giáo dục lâu dài, đặc biệt hàm súc về trí tuệ và cảm xúc, do các

tình huống trong đời sống nội tâm, tâm hồn nên tập thể của toàn nhà trƣờng có sự

biến đổi liên tục. Tất cả những điều đó dặt ra yêu cầu cao đối với việc quản lý nhà

trƣờng, việc tổ chức hợp lý quá trình giáo dục, học tập, việc xây dựng các điều kiện

vật chất kỹ thuật, tổ chức sƣ phạm và việc tao ra những điều kiện khác của lao động,

của giáo viên, của học sinh cũng phải linh hoạt hơn. Theo tác giả Phạm Minh Hạc,

khi bàn về khái niệm quản lý nhà trƣờng đã khẳng định: “Quản lý nhà trường là thực

hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa

nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu

đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh.” [17, tr. 373]

Quản lý nhà trƣờng là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch hợp

quy luật của chủ thể quản lý (Các cấp QLGD) nhằm làm cho nhà trƣờng vận hành

theo quy luật giáo dục để đạt tới mục tiêu giáo dục đặt ra trong từng thời kỳ phát

triển của đất nƣớc. Quản lý nhà trƣờng là một phạm vi cụ thể của quản lý hệ thống

giáo dục. Quản lý nhà trƣờng thực chất là quản lý hoạt động giáo dục trên tất cả các

mặt, liên quan đến hoạt động GD&ĐT trong phạm vi một nhà trƣờng.

Về mặt bản chất của công tác quản lý nhà trƣờng là quá trình chỉ huy, điều khiển

vận động của các thành tố và mối quan hệ giữa các thành tố. Công tác quản lý trƣờng

học chính là những công việc của nhà trƣờng mà ngƣời CBQL trƣờng học thực hiện

những chức năng quản lý theo yêu cầu và nhiệm vụ quy định. Đó là các hoạt động có ý

thức, có kế hoạch và có định hƣớng của chủ thể quản lý tác động tới các hoạt động của

nhà trƣờng nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ mà trung tâm đó là hoạt động dạy

và học trong nhà trƣờng. Có thể nói công tác quản lý trƣờng học bao gồm việc giải

quyết sử lý các quan hệ nội bộ trong nhà trƣờng và các quan hệ giữa nhà trƣờng với các

lực lƣợng giáo dục khác trên địa bàn. Ở góc độ cụ thể thì quản lý trƣờng học đó là việc

ngƣời CBQL tổ chức, chỉ đạo và điều hành mọi hoạt động của nhà trƣờng, trong đó mọi

hoạt động đều hƣớng tới hiệu quả của hoạt động trung tâm là dạy và học đáp ứng đƣợc

mục tiêu giáo dục.

Quản lý nhà trƣờng bao gồm:

- Quản lý các quá trình giáo dục.

- Quản lý các điều kiện cơ sở vật chất, tài chính và nhân lực.



13



Các quá trình giáo dục trong nhà trƣờng gồm 6 thành tố có mối quan hệ chặt chẽ

với nhau:

- Mục đích giáo dục (MĐ). - Nội dung (ND). - Phƣơng pháp giáo dục (PP).

- Thầy giáo (GV)



- Học sinh (HS)



- Phƣơng tiện giáo dục (PT)







ND

D



PP

QTGD



GV



HS

PT



Sơ đồ 1.2. Mối quan hệ giữa các thành tố trong quá trình giáo dục

1.2.4. Đội ngũ cán bộ quản lý

Cán bộ quản lý là ngƣời phân bổ nhân lực và các nguồn lực khác, là ngƣời

chỉ dẫn sự vận hành của một bộ phận hoặc toàn bộ tổ chức để tổ chức đó hoạt

động có hiệu quả và đạt tới mục đích mà tổ chức đó đề ra.

Trong trƣờng THCS thì đội ngũ cán bộ quản lý có thể có quan điểm khác nhau

khi định danh, theo chúng tôi họ là những ngƣời đứng đầu các nhà trƣờng gồm Hiệu

trƣởng, Phó Hiệu trƣởng chịu trách nhiệm lãnh đạo, quản lý, điều hành các hoạt

động của nhà trƣờng.

1.2.5. Phát triển đội ngũ cán bộ

1.2.5.1. Phát triển

Thuật ngữ phát triển theo triết học là: “biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít

đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp”. Các học giả Việt

Nam cũng định nghĩa phát triển theo nhiều góc độ khác nhau. Tác giả Nguyễn Văn

Đạm cho rằng: Phát triển là sự lớn lên về mặt kích thƣớc, độ rộng (số lƣợng) hay về

mặt giá trị, tầm quan trọng (chất lƣợng).



14



Trong quản lý nguồn nhân lực, các nhà quản lý không chỉ quan tâm đến việc

cung cấp và nâng cao các kiến thức và kĩ năng cho nhân viên của mình để cải thiện

năng lực thực thi công việc, trong hiện tại cũng nhƣ trong tƣơng lai. Phát triển có thể

xem nhƣ một sự thúc đẩy nhân viên có những khả năng vƣợt ra khỏi những đòi hỏi

của công việc hiện hành. Nó thể hiện những nỗ lực nâng cao năng lực nhân viên để

giải quyết những nhiệm vụ đƣợc giao khác nhau, mang lại lợi ích cho tổ chức cũng

nhƣ cho cá nhân. Thông qua quá trình phát triển, cả nhân viên cũng nhƣ ngƣời lãnh

đạo với những kinh nghiệm và khả năng thích ứng sẽ tăng cƣờng năng lực của tổ

chức mình để thích nghi với sự thay đổi của môi trƣờng. Mỗi các nhân đều trƣởng

thành cùng với thời gian và phát triển là quá trình cho phép mỗi cá nhân đạt đƣợc

đầy đủ, trọn vẹn tiềm năng của mình. Cũng chính vì vậy, xét về mặt tổng thể, phát

triển thƣờng nhấn mạnh vào tƣơng lai xa, phát triển có một phạm vi rộng hơn. Kết

quả mà phát triển mang lại khó có thể trực tiếp thấy đƣợc ngay mà thƣờng đƣợc đánh

giá trong tƣơng lai.

Những đặc trƣng cơ bản của phát triển đƣợc biểu hiện nhƣ:

- Sự phát triển của tất cả mọi sự vật, hiện tƣợng đều có mối liên hệ, tác động qua

lại và quy định lẫn nhau;

- Phát triển là quá trình vận động không ngừng;

- Phát triển từ những thay đổi về số lƣợng đƣợc chuyển hoá thành những thay

đổi về chất lƣợng;

- Phát triển thông qua sự đấu tranh giữa các mặt đối lập;

- Phát triển có thể diễn ra bằng cách chuyển hoá và nhảy vọt;

1.2.5.2. Phát triển nguồn nhân lực

Phát triển nguồn nhân lực là tạo ra sự phát triển bền vững về hiệu năng của mỗi

thành viên và hiệu quả chung của tổ chức, gắn liền với việc không ngừng tăng lên về

mặt chất lƣợng, số lƣợng của đội ngũ và chất lƣợng sống.

Nội dung của phát triển nhân lực xét trên bình diện xã hội là một phạm trù rộng

lớn. Theo chƣơng trình phát triển của Liên hợp quốc, có năm nhân tố phát năng của

sự phát triển nguồn nhân lực là: giáo dục - đào tạo; sử dụng - bồi dƣỡng; sức khoẻ và

dinh dƣỡng; đầu tƣ - việc làm; sự giải phóng con ngƣời. Trong năm nhân tố đó, nhân

tố giáo dục - đào tạo là nhân tố giữ vai trò quan trọng hơn cả, bởi nó là cơ sở cho sự



15



phát triển của các nhân tố còn lại. Một số quan điểm nghiên cứu khác cho rằng: Phát

triển nguồn nhân lực bao gồm ba mặt chủ yếu là giáo dục - đào tạo, sử dụng - bồi

dƣỡng và đầu tƣ - việc làm.

Theo Fombrun, quản lý phát triển nguồn nhân lực đƣợc mô hình hoá nhƣ sau.



Tuyển

chọn



Phát triển

nguồn nhân

lực



Thực hiện

công việc



Đánh giá

Thăng thƣởng



Hình 1.2: Mô hình phát triển nguồn nhân lực

Phát triển nguồn nhân lực có thể coi là một lĩnh vực của “quản lý nguồn nhân

lực”. Phát triển nguồn nhân lực liên quan đến Giáo dục - Đào tạo, sử dụng những

tiềm năng của con ngƣời và tiến bộ KH-KT. Các yếu tố tác động đến phát triển

nguồn nhân lực là: Giáo dục, sức khoẻ, việc làm và các nhân tố kinh tế - xã hội.

Vấn đề phát triển nguồn nhân lực trong chiến lƣợc công nghiệp hoá, hiện đại hoá

đất nƣớc bao gồm đồng bộ ba mặt chủ yếu: Giáo dục - đào tạo con ngƣời, sử dụng

con ngƣời, tạo môi trƣờng làm việc và đãi ngộ thoả đáng cho con ngƣời trong đó

giáo dục - đào tạo đƣợc coi nhƣ là cơ sở để sử dụng con ngƣời có hiệu quả và để mổ

rộng và cải thiện môi trƣờng làm việc.

Khái niệm phát triển nguồn nhân lực đƣợc hiểu đầy đủ hơn trong ý tƣởng quản lý

nguồn nhân lực của Leonar Nadle (Hoa Kỳ) vào năm 1980, thể hiện qua sơ đồ sau:



16



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (118 trang)

×