1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN LỊCH SỬ Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.64 MB, 148 trang )


trò của quản lý trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục. Tác giả Hà Sĩ Hồ và

Lê Tuấn cho rằng: “Trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo, việc quản lý dạy

và học là nhiệm vụ trung tâm của nhà trường”. Đặc biệt với sự tâm huyết của

mình với công tác GD, các tác giả đã nhấn mạnh: Hiệu trưởng phải là người

“biết kết hợp một cách hữu cơ sự quản lý dạy và học (theo nghĩa rộng) với sự

quản lý các quá trình bộ phận, hoạt động dạy và học các môn và các hoạt

động khác hỗ trợ cho hoạt động dạy và học nhằm làm cho tác động giáo dục

được hoàn chỉnh trọn vẹn”. Các tác giả Lê Ngọc Trà, Nguyễn Ngọc Thanh đã

nhấn mạnh vai trò công tác quản lý trong việc nâng cao chất lượng GD như

sau: “Các nhà làm công tác quản lý giáo dục phải không ngừng cải tiến nâng

cao chất lượng điều hành và quản lý của mình để qua đó tác động một cách

hiệu quả vào quá trình cải tiến chất lượng ở các khâu, các bộ phận của hệ

thống giáo dục ở cấp vi mô cũng như vĩ mô”.

Trong những năm gần đây, nhiều cán bộ quản lý (CBQL) trường Trung

học phổ thông (THPT) trong cả nước cũng đã tập trung nghiên cứu về các

biện pháp quản lý nhà trường nhằm nâng cao chất lượng dạy học, chẳng hạn

như các Luận văn thạc sỹ chuyên ngành quản lý giáo dục của các tác giả:

Nguyễn Thị Hảo với đề tài “Những biện pháp quản lý của Hiệu trưởng nhằm

nâng cao chất lượng dạy học ở các trường THPT huyện Trấn Yên tỉnh Yên

Bái” (2005)…

Luận văn của các tác giả trên đã nêu lên những biện pháp quản lý của

Hiệu trưởng trường THPT, đặc biệt là các biện pháp quản lý HĐDH, đó là

những công trình có giá trị về lý luận và thực tiễn, phù hợp với công việc của

các tác giả trong thực hiện chức trách Hiệu trưởng trường THPT, đồng thời

cũng giúp cho cho các CBQL nhà trường nói chung và các Hiệu trưởng

trường THPT khác tham khảo để vận dụng trong công tác quản lý của mình.

Song việc nghiên cứu hoạt động dạy học của Hiệu trưởng nhằm thực hiện

quản lý hoạt động dạy học môn lịch sử tại một trường THPT thì chưa có đề



8



tài quản lý giáo dục nào đề cập đến. Vì vậy, trong khuôn khổ luận văn này tác

giả muốn dựa vào cơ sở lý luận của công tác quản lý hoạt động dạy học, để

tìm hiểu thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn lịch sử của Hiệu trưởng và

các cán bộ quản lý Trường THPT Mỹ Đức B – Hà Nội, từ đó đề xuất một số

biện pháp quản lý hoạt động này nhằm thực hiện đổi mới GD theo yêu cầu

hiện nay.

1.2. Một số khái niệm cơ bản

1.2.1. Quản lý

Khái niệm: Trong quá trình hình thành và phát triển của lý luận quản

lý, khái niệm quản lý đó được các nhà nghiên cứu đưa ra theo nhiều cách

khác nhau, tuỳ theo những cách tiếp cận khác nhau

Frederik Winslon Taylo ( 1856 – 1915), người Mỹ, được coi là “Cha đẻ

của thuyết quản l‎ khoa học”, là một trong những người mở ra “Kỷ nguyên

ý

vàng” trong quản lý đã thể hiện tư tưởng cốt lõi của mình trong quản lý là:

“Mỗi loại công việc dù nhỏ nhất đều phải chuyên môn hoá và đều phải quản

lý chặt chẽ”. Ông cho rằng: “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng chính xác cái

gì cần làm và làm cái đó như thế nào bằng phương pháp tốt nhất, rẻ nhất.”

Theo Mác: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung

nào tiến hành trên qui mô tương đối lớn thì ít nhiều cùng đến một sự chỉ đạo

để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung

phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể khác với sự vận động của những

khách quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy

mình, còn một dàn nhạc thì cần nhạc trưởng” [4,tr15]. Như vậy Mác đã lột tả

được bản chất quản lý là một hoạt động lao động, một hoạt động tất yếu vô

cùng quan trọng trong quá trình phát triển của loài người.

Theo GS Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế

hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là

khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [ 19, tr24].



9



Quản lý vừa là khoa học, vừa là một nghệ thuật chính vì vậy trong hoạt

động quản lý người quản lý phải hết sức sáng tạo, linh hoạt, mềm dẻo để chỉ

đạo hoạt động của tổ chức đi tới đích.

Những định nghĩa trên đây tuy khác nhau về cách diễn đạt, về góc độ

tiếp cận nhưng đều gặp nhau ở những nội dung cơ bản của khái niệm quản lý,

các định nghĩa trên ta có thể hiểu:

Quản lý là quá trình tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể

quản lý lên khách thể quản lý bằng việc vận dụng các chức năng quản lý,

nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng và cơ hội của tổ chức để đạt

được mục tiêu đề ra

Chức năng quản lý: Chức năng của quản lý là hình thức biểu hiện sự tác

động có chủ định của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý. Đó là tập hợp những

nhiệm vụ khác nhau mà chủ thể quản lý phải tiến hành trong quá trình quản lý.

Ta có thể hiểu chức năng quản lý là một nội dung cơ bản của quá trình quản lý,

là nhiệm vụ không thể thiếu được của chủ thể quản lý.

Về số lượng các chức năng quản lý nói chung, những tác giả nghiên

cứu về quản lý có ý kiến không giống nhau. Tuy nhiên, hầu hết các tác giả

đều đề cập tới bốn chức năng chủ yếu đó là: Kế hoạch hoá tổ chức, chỉ đạo,

kiểm tra và trong đó thông tin vừa là phương tiện, vừa là điều kiện để thực

hiện chức năng quản lý.

- Chức năng kế hoạch hoá: Để thực hiện chủ chương, chương trình, dự

án kế hoạch hoá là hành động đầu tiên, chức năng cơ bản để hoàn thành các

chức năng khác. Đây được coi là chức năng chỉ lối làm cho tổ chức phát triển

theo kế hoạch. Trong quản lý đây là căn cứ mang tính pháp lý quy định hành

động của cả tổ chức.

- Chức năng tổ chức: Người quản lý phải hình thành bộ máy tổ chức là

cơ cấu các bộ phận (tuỳ theo tính chất công việc, có thể tiến hành phân công,



10



phân nhiệm cho các cá nhân), quy định chức năng nhiệm vụ từng bộ phận,

mối quan hệ giữa chúng.

Như vậy thực chất của tổ chức là thiết lập mối quan hệ, liên hệ giữa con

người với con người, giữa các bộ phận riêng rẽ thành một hệ thống hoạt động

nhịp nhàng của một cơ thể thống nhất. Một tổ chức được thiết kế phù hợp sẽ

phát huy được năng lực nội sinh và có ý nghĩa quyết định đến việc chuyển

hoá kế hoạch thành hiện thực, tổ chức tốt sẽ khơi nguồn cho các tiềm năng.

- Chức năng chỉ đạo: Chức năng này đòi hỏi người quản lý phải vận

dụng khéo léo các PP và nghệ thuật quản lý. Đây là quá trình tác động qua lại

giũa chủ thể quản lý và mọi thành viên trong tổ chức nhằm góp phần thực

hiện hoá các mục tiêu đề ra. Bản chất của chức năng chỉ đạo xét cho cùng là

sự tác động lên con người, khơi dậy những tiềm năng của con người trong hệ

thống quản lý, thực hiện tốt mối liên hệ giữa con người với con người và quá

trình đó giải quyết những mối quan hệ đó để họ tự nguyện, tự giác và hăng

hái phấn đấu trong công việc.

- Chức năng kiểm tra: Chức năng kiểm tra nhằm đánh giá việc thực hiện

các mục tiêu đề ra, điều cần lưu ý là khi kiểm tra phải theo chuẩn. Chuẩn phải

xuất phát từ mục tiêu, là đòi hỏi bắt buộc đối với mọi thành viên của tổ chức.

Cuối cùng, tất cả các chức năng trên đều cần đến yếu tố thông tin.

Thông tin đầy đủ, kịp thời, cập nhật, chính xác là một căn cứ để hoạch định

kế hoạch ; thông tin cũng cần cho các bộ phận trong cơ cấu tổ chức, là chất

liệu tạo quan hệ giữa các bộ phận trong tổ chức, thông tin truyền tải mệnh

lệnh chỉ đạo (thông tin xuôi) và phản hồi (thông tin ngược) diễn tiến hoạt

động của tổ chức và thông tin từ kết quả hoạt động của tổ chức giúp cho

người quản lý xem xét mức độ đạt mục tiêu của toàn tổ chức.

Các chức năng nêu trên lập thành chu trình quản lý. Chủ thể quản lý khi

triển khai hoạt động quản lý đều thực hiện chu trình này.



11



Sơ đồ 1.1: Các chức năng trong chu trình quản lý



Kế hoạch



Kiểm tra



Thông tin



Tổ chức

Tổ chức



Chỉ đạo

1.2.2. Quản lý giáo dục

Theo sơ đồ phân loại khoa học (tam giác khoa học) của B.M Kêđrốp thì

quản lý‎ giáo dục thuộc ngành khoa học xã hội. Do mỗi phương thức xã hội

đều có một cách quản lý‎ khác nhau, cho nên khái niệm quản lý giáo dục đã ra

đời và hình thành từ nhiều quan niệm khác nhau.

Ở các nước tư bản chủ nghĩa, do vận dụng lý‎luận quản lý xí nghiệp vào

quản lý cơ sở giáo dục (trường học) và coi quản lý giáo dục như một loại “xí

nghiệp đặc biệt”.

Ở các nước xã hội chủ nghĩa, do vận dụng quản lý xã hội vào quản lý

giáo dục, nên quản lý giáo dục thường được xếp trong lĩnh vực quản l‎ văn

ý

hoá tư tưởng như A.G. Afanaxep đã phân chia trong cuốn sách kinh điển nổi

tiếng của mình: "Con người trong quản l‎ xã hội”. Như vậy, quản l‎ giáo dục

ý

ý

được coi là bộ phận nằm trong lĩnh vực quản l‎ văn hoá tinh thần.

ý

Ở Việt Nam, quản lý‎ giáo dục cũng là một lĩnh vực được đặc biệt quan

tâm. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá

VIII đã viết: “Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý

tới khách thể quản lý nhằm đưa ra hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục

đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất” [28, tr50]



12



Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang thì : “Quản l‎ giáo dục thực chất là

ý

tác động đến nhà trường, làm cho nó tổ chức tối ưu được quá trình dạy học,

giáo dục thể chất theo đường lối, nguyên lý giáo dục của Đảng, quán triệt

được những tính chất trường THPT xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bằng cách đó

tiến tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái chất lượng mới”[19, tr32]

Theo tác giả Đỗ Hoàng Toàn “Quản lý giáo dục là tập hợp những biện

pháp tổ chức, phương pháp giáo dục, kế hoạch hoá tài chính, cung tiêu…

nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo

dục, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng,

cũng như về chất lượng” [23, tr29]

Những định nghĩa nêu trên về quản lý giáo dục tuy có những cách diễn

đạt khác nhau nhưng đều thể hiện một quan điểm chung về quản lý giáo dục

đó là quá trình tác động có định hướng của nhà quản lý trong việc vận dụng

nguyên lý, phương pháp chung nhất của kế hoạch nhằm đạt được những mục

tiêu đề ra. Những tác động đó thực chất là những tác động khoa học đến nhà

trường làm cho nhà trường tổ chức một cách khoa học, có kế hoạch quá trình

dạy và học theo mục tiêu đào tạo.

1.2.3. Quản lý nhà trường

1.2.3.1. Nhà trường

“Nhà trường là một tổ chức chuyên biệt trong hệ thống tổ chức xã hội

thực hiện chức năng tái tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự duy trì và phát

triển xã hội ” [4,tr3]

Nhà trường là tổ chức giáo dục cơ sở mang tính nhà nước, xã hội, là

nơi trực tiếp làm công tác đào tạo thế hệ trẻ, là cơ quan giáo dục chuyên biệt,

có đội ngũ các nhà giáo được đào tạo, nội dung chương trình được chọn lọc,

phương pháp giáo dục phù hợp với mọi lứa tuổi, các phương tiện kỹ thuật

phục vụ cho giáo dục, mục đích giáo dục của nhà trường phù hợp với xu thế

phát triển của xã hội và thời đại.



13



1.2.3.2. Quản lý nhà trường

Có nhiều tác giả quan niệm về quản lý nhà trường khác nhau:

Theo tác giả Trần Kiểm "Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối

giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà

trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục

tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh”

[11, tr29]

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang “Quản l‎ nhà trường là quản l‎ hoạt

ý

ý

động dạy và học tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng

thái khác để dần dần tiến tới mục tiêu giáo dục”[19, tr34]

Là một thiết chế đặc biệt của xã hội nên nhà trường cùng với công tác

quản lý‎ trường học là vô cùng quan trọng, bao gồm sự quản l‎ các tác động

ý

qua lại giữa trường học và xã hội đồng thời quản lý chính nhà trường. Người

ta có thể phân tích quá trình giáo dục của nhà trường như một hệ thống gồm

các thành tố và được biểu diễn bằng sơ đồ sau:

Sơ đồ 1.2: Quản lý các thành tố của quá trình dạy học [27]

M: Mục tiêu DH



M



N: Nội dung DH

P: Phương pháp DH



Tr



Th



Th: Giáo viên

Tr: Học sinh



QL



QL: Quản lý



P



N



ĐK: CSVC- TBDH

ĐK



Vai trò của người quản lý‎là phải làm sao cho hệ thống các thành tố vận

hành liên kết chặt chẽ với nhau đưa đến kết quả mong muốn.



14



Như vậy, quản lý‎nhà trường thực chất là tác động có định hướng, có kế

hoạch của chủ thể quản lý lên tất cả các nguồn lực nhằm đẩy mạnh hoạt động

của nhà trường theo nguyên lý‎ giáo dục nhằm đạt mục tiêu giáo dục. Do vậy,

công tác quản l‎ giáo dục nói chung, quản l‎ nhà trường nói riêng, gồm có

ý

ý

quản lý các hoạt động trong nhà trường và quản lý các quan hệ giữa nhà

trường với xã hội.

1.2.4. Quản lý trường Trung học phổ thông

1.2.4.1. Truờng Trung học phổ thông

Là cấp cuối cùng của hệ thống giáo dục phổ thông gồm 3 năm học,

trường THPT là cấp học hoàn thiện kiến thức phổ thông cho HS, là cấp học

tạo nguồn lực cho các yêu cầu đào tạo của xã hội, đồng thời chuẩn bị tích cực

cho thế hệ trẻ đi vào cuộc sống xã hội và lao động sản xuất. Do vậy trường

THPT có mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục mang tính phổ thông cơ

bản, toàn diện với những đặc thù riêng nhằm thực hiện nhiệm vụ của cấp học.

Nhiệm vụ và quyền hạn của trường THPT được quy định tại Điều 3, Điều lệ

Trường Trung học (Ban hành kèm theo Quyết định 07/2007/QĐ-BGD&ĐT ngày

02 tháng 04 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo).

1.2.4.2. Quản lý trường Trung học phổ thông

Theo tác giả Trần Hồng Quân: "Quản lý nhà trường phổ thông là quản

lý dạy và học, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng

thái khác, để dần tiến tới mục tiêu giáo dục" [20,tr 37].

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: "Quản lý trường phổ thông là tập

hợp các tác động tối ưu (công tác tham gia, hỗ trợ, phối hợp, huy động, can

thiệp) của chủ thể quản lý đến tập thể cán bộ, giáo viên và học sinh nhằm tận

dụng nguồn nhân lực dự trữ do nhà nước đầu tư, các lực lượng xã hội đóng

góp và do hoạt động xây dựng vốn tự có hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt

động của nhà trường và tiêu điểm hội tụ là đào tạo thế hệ trẻ, thực hiện có



15



chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên một trạng

thái mới" [19, tr. 43].

1.2.5. Biện pháp quản lý

Có nhiều định nghĩa khác nhau về biện pháp, nhưng nói chung biện

pháp được hiểu “là cách thức, là con đường để tác động đến đối tượng”.

Trong GD, người ta thường quan niệm biện pháp là yếu tố hợp thành của

phương pháp, phụ thuộc vào phương pháp. Trong từng tình huống sư phạm cụ

thể, phương pháp và biện pháp giáo dục cụ thể có thể chuyển hoá lẫn nhau.

Điều này có nghĩa là: Một phương pháp nào đó bao giờ cũng có thể và cần

được thực hiện bằng những hành động khác nhau của GV và của HS, theo

những cách thức khác nhau nhưng đều có chung một chức năng và một mục

đích. Mỗi hành động như vậy là một biện pháp GD. Tùy theo từng tình huống

cụ thể trong từng quá trình GD cụ thể mà việc sử dụng PPGD nào đó sẽ được

nhà GD tiến hành bằng cách thực hiện một hay nhiều biện pháp nào đó.

1.3. Quản lý hoạt động dạy học ở các trƣờng Trung học phổ thông.

1.3.1. Đổi mới chương trình giáo dục THPT.

1.3.1.1. Sự cần thiết phải đổi mới chương trình.

Đặc điểm của cấp THPT: Cấp THPT nối tiếp cấp THCS và có trách

nhiệm hoàn thành việc đào tạo tiếp thế hệ trẻ đã qua các cấp học trước đó của

nhà trường phổ thông. Cấp học này một mặt, cần chuẩn bị cho HS những tri

thức và kỹ năng về khoa học xã hội, nhân văn, toán học, khoa học tự nhiên,

kỹ thuật để họ có thể tiếp tục được đào tạo ở bậc học tiếp theo, mặt khác cần

hình thành và phát triển cho họ những hiểu biết về nghề phổ thông cần thiết

cho cuộc sống, tham gia lao động sản xuất, xây dựng xã hội và khi có điều

kiện tiếp tục học lên.

Lý do của việc đổi mới

a. Do yêu cầu của sự phát triển KT – XH đối với việc đào tạo nguồn

nhân lực trong giai đoạn mới; Nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu của giai



16



đoạn mới, ngoài các phẩm chất như lòng yêu nước, yêu CNXH, quý trọng và

hăng say lao động, có lòng nhân ái, ý thức trách nhiệm, còn có những phẩm

chất và năng lực cần thiết khác, đó là phẩm chất tôn trọng và nghiêm túc tuân

theo pháp luật; quan tâm và tham gia giải quyết các vấn đề bức xúc mang tính

toàn cầu; có tư duy phê phán để thích ứng với những thay đổi trong cuộc

sống; đó là năng lực hợp tác và giao tiếp có hiệu quả, năng lực chuyển đổi

nghề nghiệp theo yêu cầu mới của sản xuất và thị trường lao động, năng lực

quản lý, nổi bật nhất là năng lực thích ứng với cốt lõi là khả năng phát hiện và

giải quyết vấn đề. Những phẩm chất và năng lực nêu trên phải được xem là

những nội dung chủ yếu của mục tiêu giáo dục và trước hết là mục tiêu của

nhà trường phổ thông.

b. Do sự phát triển nhanh, mạnh với tốc độ mang tính bùng nổ của

khoa học công nghệ: thể hiện qua các lý thuyết, các thành tựu mới và khả

năng ứng dụng cao, rộng và nhanh vào thực tế. Học vấn mà nhà trường phổ

thông trang bị không thể thâu tóm được mọi tri thức mong muốn, vì vậy phải

coi trọng việc dạy phương pháp, dạy cách đi tới kiến thức của loài người, trên

cơ sở đó mà tiếp tục học tập suốt đời. Xã hội đòi hỏi người có học vấn hiện

đại không chỉ có khả năng lấy ra từ trí nhớ các tri thức dưới dạng có sẳn, đã

lĩnh hội ở nhà trường phổ thông mà còn phải có năng lực chiếm lĩnh, sử dụng

các tri thức mới một cách độc lập; khả năng đánh giá các sự kiện, các tư

tưởng, các hiện tượng mới một cách thông minh, sáng suốt khi gặp trong cuộc

sống, trong lao động và trong quan hệ với mọi người. Nội dung học vấn phải

góp phần quan trọng để phát triển hứng thú và năng lực nhận thức của học

sinh; cung cấp cho học sinh những kỹ năng cần thiết cho việc tự học và tự

giáo dục sau này.

c. Do có những thay đổi trong đối tượng giáo dục; Những kết quả

nghiên cứu tâm, sinh lý của HS và điều tra xã hội học gần đây trên thế giới

cũng như ở nước ta cho thấy thanh thiếu niên có những thay đổi trong sự



17



phát triển tâm sinh lý. Trong điều kiện phát triển của các phương tiện truyền

thông, trong bối cảnh hội nhập, mở rộng giao lưu, HS được tiếp nhận nhiều

nguồn thông tin đa dạng, phong phú từ nhiều mặt của cuộc sống, có hiểu biết

được nhiều hơn, linh hoạt và thực tế hơn so với các thế hệ cùng lứa tuổi

trước đây mấy chục năm, đặc biệt là HS cấp THPT. Trong học tập họ không

thỏa mãn với vai trò của người tiếp thu thụ động, không chỉ chấp nhận các

giải pháp đã có sẵn được đưa ra, họ yêu cầu sự lĩnh hội độc lập các tri thức

và phát triển kỹ năng.

d. Do nhu cầu phải hòa chung với xu thế đổi mới tiến bộ trên thế giới;

đây cũng là một trong những yêu cầu bức thiết, đặc biệt là các bối cảnh thế

giới hiện nay với xu thế hòa nhập. Chương trình của các nước đều hướng tới

việc thực hiện yêu cầu nâng cao chất lượng GD, trực tiếp góp phần cải thiện

chất lượng nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng sống của con người khắc

phục tình trạng học tập nặng nề căng thẳng ảnh hưởng đến sức khỏe, hứng thú

và niềm tin đối với việc học tập của HS. Xu thế đổi mới cũng nhằm khắc phục

tình trạng sản phẩm của GD không đáp ứng được yêu cầu biến đổi nhanh và

đa dạng của sự phát triển xã hội, sự bất bình đẳng về cơ hội tiếp nhận GD mà

biểu hiện chủ yếu là sự cách biệt về điều kiện, về trình độ giữa các địa

phương và khu vực, cách biệt giữa giới tính và địa vị xã hội.

1.3.1.2. Những định hướng đổi mới

Những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo đổi mới của giáo dục phổ thông trong

giai đoạn từ nay đến năm 2010.

a. Quán triệt mục tiêu GD

b. Đảm bảo tính khoa học và sư phạm

c. Thể hiện tinh thần đổi mới phương pháp dạy học

d. Đảm bảo tính thống nhất

e. Đáp ứng yêu cầu phát triển của từng đối tượng HS



18



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (148 trang)

×