1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC VÀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN MÔN LỊCH SỬ TẠI TRƢỜNG THPT MỸ ĐỨC B – HÀ NỘI

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.64 MB, 148 trang )


ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thâm canh các loại cây trồng có

năng suất, hiệu quả cao và chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng

sản xuất hàng hoá. Khôi phục và phát triển hệ sinh thái rừng .Trong lĩnh vực

xây dựng cơ bản, tỉnh đầu tư hàng trăm tỷ đồng để xây dựng nhiều công trình

trên địa bàn, qua đó làm thay đổi kết cấu hạ tầng theo hướng đồng bộ, hiện

đại hơn, tác động tích cực tới nếp sống văn minh đô thị của người dân. Hệ

thống đường giao thông đường nhựa , đường bê tông đến trung tâm các xã,

các thôn; các công trình công cộng, công sở, trường học, trạm xá được xây

dựng kiên cố, khang trang hơn.

Bên cạnh quá trình phát triển kinh tế, các cấp chính quyền trong huyện

cũng rất quan tâm đến việc phát triển các lĩnh vực văn hoá xã hội, đặc biệt là

lĩnh vực giáo dục và y tế, tạo điều kiện nâng cao dân trí, đảm bảo sức khoẻ và

đời sống tinh thần cho nhân dân.

Phát huy những kết quả đã đạt được, mục tiêu trong giai đoạn hiện nay

của huyện là xây dựng theo hướng hiện đại, văn minh và nâng cao đời sống

vật chất, tinh thần cho người dân, phấn đấu trở thành huyện có chính trị ổn

định, kinh tế, văn hoá,phát triển của thủ đô.

2.2. Thực trạng phát triển của Trƣờng trung học phổ thông Mỹ Đức B –

Hà Nội.

2.2.1. Quy mô phát triển trường lớp.

Trường THPT Mỹ Đức B – Hà Nội được thành lập năm 1972, lúc đầu có

04 lớp học, với 216 học sinh, sau nhiều năm phấn đấu xây dựng và trưởng

thành, những năm được đào tạo hệ bán công trong công lập nhà trường có

năm học với 60 lớp trên 3 nghìn học sinh. Kể từ khi sát nhập về Hà Nội nhà

trường ổn định biên chế 42 lớp với 2 nghìn học sinh.

Với số lớp và số HS trong 3 năm học gần đây như bảng sau:



41



Bảng 2.1: Số lớp, học sinh của nhà trƣờng theo năm học.

Khối



Năm học 2007 – 2008



Năm học 2008 - 2009



Năm học 2009 - 2010



Lớp



Số lớp



Số học sinh



Số lớp



Số học sinh



Số lớp



Số học sinh



10



15



723



12



534



15



724



11



15



713



15



704



12



538



12



19



924



15



694



15



702



Tổng



49



2360



42



1932



42



1964



(Nguồn: Báo cáo tổng kết của các trường)

2.2.2. Chất lượng giáo dục của nhà trường

Chất lượng GD toàn diện của học sinh Trường THPT Mỹ Đức B, trong

những năm học qua đã được nâng lên, tỷ lệ HS tốt nghiệp hàng năm tăng dần

nhưng chủ yếu đỗ tốt nghiệp loại trung bình, tỷ lệ HS đỗ tốt nghiệp loại khá,

giỏi còn thấp. HS khá giỏi chưa nhiều, tỷ lệ HS đạt giải trong các kỳ thi cấp

tỉnh (thành phố) thấp, học sinh học giỏi môn lịch sử đã có nhưng đạt giải cao

chưa nhiều. Chất lượng học tập của HS nhà trường còn khá chênh lệch so với

chất lượng học tập của HS Trường THPT Mỹ Đức A. Về mặt đạo đức, hầu

hết HS nhà trường đều ngoan, có nề nếp nên chất lượng đạo đức tương đối ổn

định, tỷ lệ HS đạt đạo đức khá, tốt chiếm tỷ lệ lớn, số học sinh xếp loại đạo

đức yếu vẫn có nhưng tỷ lệ thấp. Kết quả học tập môn lịch sử của học sinh lớp 12

so với các môn học khác còn thấp. (Kết quả thể hiện ở các bảng 2.2, 2.3, 2.4).

Bảng 2.2: Kết quả xếp loại học sinh và kết quả tốt nghiệp của

nhà trƣờng 2 năm gần đây.

Năm học



Số



Hạnh kiểm(%)



Học lực(%)



Tốt nghiệp(%)



HS



T



K



TB



Y



G



K



TB



Y



Km



SL



G



K



TB



2006-2007



2410



69



22



7



2



3



34



57



6



0



75



3



15



57



2007-2008



2360



70



17



5



1



3



30



57



10



0



64



2



20



42



2008-2009



1932



79



17



3



1



4



50



46



1



0



80



3.5



26.5



50



(Nguồn: Báo cáo tổng kết năm học của nhà trường)



42



Bảng 2.3: Kết quả thi học sinh giỏi năm các năm học.

Giải Nhất

Năm học



Giải Nhì



Giải Ba



Giải KK



Cấp



Cấp



Cấp



Cấp



Cấp



Cấp



Cấp



Tỉnh



quốc



Tỉnh



quốc



Tỉnh



quốc



Tỉnh quốc



gia



gia



Cấp



gia



gia



2006 – 2007



1



0



6



0



5



0



4



0



2007 – 2008



2



0



4



0



9



0



3



0



2008 – 2009



1



0



4



0



10



0



0



0



Tổng



4



0



14



0



24



0



7



0



Môn lịch sử



0



0



2



0



3



0



1



0



(Nguồn:báo cáo tổng kết năm học của nhà trường)

Bảng 2.4. kết quả học tập của học sinh khối 12 năm học 2008 – 2009, các

môn học cơ bản như sau

Xloại

Môn



Tổng



Giỏi



số



SL %



SL



%



SL



%



SL



%



SL



%



Khá



Yếu



T. bình



Kém



Toán



694



86



12



181



26



353



50



74



11



0



694



82



11



179



25



342



49



91



13



0



0



Hoá



694



71



10



167



24



358



51



98



15



0



0



Sinh



694



56



8



238



34



347



50



53



7



0



0



C. nghệ



694



25



3



308



44



361



52



0



0



0



0



Văn



694



18



3



227



32



374



54



75



11



0



0



Sử



694



16



2



256



36



366



52



56



8



0



0



Địa



694



13



2



286



41



361



52



34



4



0



0



Anh



694



6



1



254



36



318



46



116



17



0



0



GD CD



694



25



3



321



46



332



47



16



2



0



0



TDục



694



30



5



387



55



283



40



19



3



0



0



Q phòng



694



19



3



394



57



269



38



12



2



0



chú



0







Ghi



0



(Nguồn:báo cáo tổng kết năm học của nhà trường)



43



Nguyên nhân: do đời sống kinh tế của người dân còn rất khó khăn, thu

nhập thấp, hơn 70% các gia đình có nguồn thu nhập chính bằng nông nghiệp,

nên việc đầu tư cho học tập của con em còn nhiều hạn chế, thậm chí có nhiều

em còn là thành phần lao động chính của gia đình, một buổi đi học, một buổi

phải tham gia lao động sản xuất, trong những ngày “vào mùa vụ” các em đôi

khi phải nghỉ học. Chất lượng tuyển sinh đầu vào còn thấp. Có năm tỉ lệ tuyển

sinh thấp, hầu hết các em đỗ TN THCS đều được tuyển vào lớp 10.

Cha mẹ HS chưa thật sự quan tâm đến việc học của con em mình, giao

phó việc học tập của HS cho nhà trường. Thời gian học ở nhà của HS chưa

đảm bảo vì phần đông các em phải lao động giúp gia đình.

Kết quả môn học lịch sử còn thấp hơn so với các môn học khác do tâm

lí chung cho rằng môn lịch sử là môn học phụ, nhà trường thì ghép môn lịch

sử với môn Địa lí vào một tổ chuyên môn, việc đầu tư cơ sở vật chất cho dạy

học môn lịch sử còn ít, nhà trường chưa có phòng bộ môn lịch sử, ngay phòng

truyền thống của nhà trường cũng còn sơ sài chưa có tác dụng giáo dục lịch

sử nhà trường. Còn học sinh chỉ một số ít những em thi đại học khối C mới

chú ý học lịch sử, còn lại đa số nếu có báo thi tốt nghiệp môn lịch sử mới vội

vàng học và ôn môn sử cấp tốc nên kết quả môn sử thấp, và có nhiều bài thi

sử điểm thấp.

2.2.3. Đội ngũ cán bộ quản lý

Nhìn chung, đội ngũ cán bộ quản lý của nhà trường đạt chuẩn và trên

chuẩn về chất lượng. Đội ngũ CBQL đều là Đảng viên. Về trình độ chuyên

môn có 100% đạt ở trình độ đại học. Đa số CBQL đều có kinh nghiệm trên 5

năm về quản lý (chiếm 50%), đây là lực lượng tương đối ổn định, đã tích luỹ

được nhiều kinh nghiệm và thành thạo trong công tác quản lý, thực sự là lực

lượng nòng cốt, đầu đàn; 50% có trình độ lý luận trung cấp .



44



Bảng 2.5: Đội ngũ cán bộ quản lý

Trình độ

Năm học

TS



Nữ



ĐV



Thâm niên



Tham



Trình độ lý luận



C.môn



quản lí



gia BD



chính trị



Đ



Th



>5



<5



H



S



năm



CBQL



Tr.



cấp



năm







cấp



cấp



Cao



Độ tuổi



< 40



>

40



2007 – 2008



5



0



5



5



0



3



2



5



5



0



0



2



3



2008 – 2009



5



0



5



5



0



3



2



5



5



0



0



2



3



2009 – 2010



4



0



4



3



1



2



2



4



2



2



0



2



2



(Nguồn: Báo cáo tổng kết năm học của nhà trường)

Qua bảng 2.5 ta thấy: Đội ngũ CBQL đạt chuẩn đào tạo, tuy nhiên đạt

trình độ trên chuẩn còn ít, dưới 40 tuổi chiếm 50%. Như vậy, xét về cơ bản,

cơ cấu đội ngũ CBQL ở các trường khá cân đối, họ hoàn toàn đáp ứng đầy đủ

các tiêu chí đối với CBQL nhà trường THPT. Cụ thể:

- Có đủ phẩm chất chính trị, đạo đức, có kinh nghiệm quản lý, có uy tín

với tập thể sư phạm, chính quyền và nhân dân địa phương.

- Có lập trường tư tưởng vững vàng, gắn bó với địa phương và nhà

trường, đều được trưởng thành từ giáo viên giảng dạy chuyên môn, tâm huyết

nhiệt tình với nghề, với sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo của khu vực, hiểu rõ

hoàn cảnh địa phương nơi trường đóng và nắm chắc đối tượng quản lý.

- Luôn chấp hành tốt mọi chủ trương chính sách của Đảng và pháp luật của

nhà nước, chăm lo đến đời sống của GV cả về vật chất lẫn tinh thần.

- Thường xuyên tự bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý. Trong công tác quản

lý thực hiện nguyên tắc Đảng lãnh đạo, phối hợp với các tổ chức đoàn thể

trong nhà trường như Công đoàn, Đoàn thanh niên để chỉ đạo mọi hoạt động

trong nhà trường mà trọng tâm là hoạt động dạy học.

Tuy nhiên, đội ngũ CBQL các trường ngoài những ưu điểm trên còn có

một số hạn chế sau:

- Một số CBQL có số năm làm công tác quản lý ít nên kinh nghiệm quản lý

còn hạn chế, đã ảnh hưởng đến chất lượng chung của nhà trường.



45



- CBQL còn nặng tư tưởng cục bộ nên chưa phát huy tối đa năng lực sở

trường của giáo viên

- CBQL, phong cách quản lý khác nhau nên hiệu quả quản lý cũng khác

nhau. do vậy đã ảnh hưởng tới việc quản lý của người CBQL.

Nguyên nhân của các hạn chế trên là:

- Một số CBQL còn ngại học tập để nâng cao trình độ, chưa mạnh dạn

trong việc tiếp thu và vận dụng những vấn đề mới vào công tác quản lý của

mình.

- Một số CBQL tuổi cao còn chưa thật năng động, không phát huy được

hết thế mạnh của GV.

- Một số ít còn thiếu kinh nghiệm nên không kiểm soát hết được tình

hình hoạt động trong nhà trường.

2.2.4. Đội ngũ giáo viên

GV là nhân tố cơ bản quyết định chất lượng giáo dục trong nhà trường

nói chung và chất lượng dạy học nói riêng.

Thực trạng dạy học ở trường THPT trong những năm qua có nhiều

chuyển biến và đạt được kết quả cao về các mặt, tuy nhiên để đáp ứng được

nhu cầu phát triển Giáo dục và Đào tạo trong giai đoạn hiện nay thì đội ngũ

GV cần phải cố gắng rất nhiều trong việc nâng cao chất lượng GD trong nhà

trường nói chung và chất lượng dạy học nói riêng.

2.2.4.1. Về số lượng giáo viên, cơ cấu bộ môn.

Đội ngũ GV có tuổi đời và tuổi nghề trung bình khá trẻ. Cơ cấu đội ngũ

không đồng đều, thiếu ở các môn như Toán, Tin học, Vật lý, Hoá, Sinh, Anh

văn, trong khi đó một số GV môn khác lại thừa (giáo viên Văn, công nghệ...),

một số GV phải dạy trên 25 tiết/tuần. (Kết quả được thể hiện ở các bảng 2.6).



46



Bảng số 2.6: Số giáo viên của trƣờng

Năm học



Số



Phân theo các môn học



TS



Lớp GV Toán



Tin



Vật



học



KT







Lịch Địa Anh GD Thể



KT



Hoá Sinh



Văn

NN



CN



sử







văn



CD



dục



QP



2007-2008 45



71



9



0



7



5



2



4



2



12



4



5



7



4



10



0



2008-2009 42



77



11



2



7



5



2



4



5



12



4



5



6



4



10



0



2009-2010 42



88



14



4



7



6



4



4



5



14



5



4



7



4



8



2



(Nguồn; Báo cáo tổng kết năm học của nhà trường)

Căn cứ vào số liệu bảng trên ta thấy tỷ lệ GV trên đầu lớp chỉ đạt từ

2.09/lớp, chưa đạt mức quy định về biên chế của Bộ Giáo dục và Đào tạo

(2,25GV/lớp), do đó không đủ về số lượng, đòi hỏi phải tuyển thêm nhiều GV

mới, cơ cấu cũng chưa thật hợp lý, môn thừa, môn thiếu; trong năm học 20072008, 2008 – 2009 nhà trường phải hợp đồng thêm các GV các môn: Toán,

Sinh học, Vật Lý, Anh văn, Lịch sử…điều đó cũng ảnh hưởng không nhỏ đến

chất lượng dạy học và việc quản lý chuyên môn.

2.2.4.2. Về cơ cấu các tổ chuyên môn tại trường THPT Mỹ đức B.

Bảng 2.7: Các tổ chuyên môn trường THPT Mỹ Đức B.

Tổ



SL



14



Toán



14



Anh



7



Sử







Sinh



GD



TD



Văn



Địa



Văn



Hoá



CN



Tin



QP



phòng



9



13



13



8



10



12



(Nguồn: Báo cáo tổng kết năm học của nhà trường)

Qua cơ cấu sắp xếp các tổ chuyên môn, nhà trường mới chú trọng các

môn được cho là môn chính (văn, toán, anh) môn lịch sử cùng các môn khác

đều ghép chung 2 môn trong một tổ chuyên môn. Môn lịch sử và địa lí một tổ

chuyên môn, với việc nhà trường học hai ca, giáo viên chưa đủ nên việc sinh

hoạt tổ, nhóm chuyên môn rất khó khăn, lịch họp chủ yếu ngoài giờ hành



47



chính, lại là tổ ghép nên không phát huy được vai trò của tổ nhóm chuyên

môn trong hoạt động dạy học môn lịch sử.

2.2.4.3. Về chất lượng đội ngũ

Đa số GV là người thuộc các huyện thị xã khác của Thành phố tới, nên

đủ thâm niên công tác (5 năm) họ xin thuyên chuyển về địa phương hoặc về

TP, Thị xã, nhà trường chỉ như là nơi họ thực tập, nên họ chưa thực sự an

tâm công tác và gắn bó với nhà trường.

Đổi lại các trường có một đội ngũ GV trẻ, năng động nhiệt tình, dễ

thích nghi với cái mới, yêu nghề, đoàn kết, ham học hỏi có ý thức phấn đấu

vươn lên trong công tác giảng dạy cũng như trong công tác khác, có phẩm

chất tốt, lập trường tư tưởng vững vàng.

Nhiều GV có kiến thức vững chắc, phương pháp giảng dạy tốt. Nhiều GV

tích cực học tập, bồi dưỡng thường xuyên, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ

chuyên môn nghiệp vụ, tích cực đổi mới PPDH theo hướng tích cực hoá hoạt

động nhận thức của HS. Có những sáng kiến kinh nghiệm có giá trị trong việc

nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường, số GV giỏi cấp cơ sở chiếm tỷ lệ

cao và được nâng lên hàng năm. (Kết quả thể hiện ở các bảng 2.8).

Bảng 2.8: Chất lƣợng giáo viên

Độ tuổi



Trình độ



Năm học



TS



2007-2008



71



40



20



11



0



2008-2009



77



46



20



11



2009-2010



88



52



22



Môn lịch sử



5



2



1



< 35







CS



T.Phố



70



1



15



2



1



77



0



17



1



14



3



85



0



18



1



2



0



5



0



2



0



3645 > 45



CH ĐH



DHTĐ



(Nguồn: Báo cáo tổng kết nhà trường)

Nhìn vào bảng số liệu ta thấy 100% GV đạt chuẩn (trình độ Đại học).

Những năm gần đây, đội ngũ GV của các trường đã nhận thức rõ vai trò của



48



giáo dục nói chung và vai trò của GV nói riêng trong HĐDH, đã cố gắng tự

học, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ, thể hiện: một số GV đang theo học sau

đại học chuyên ngành Hoá học, Tin học, Sinh học…điều đó chứng tỏ rằng

việc tự bồi dưỡng trình độ chuyên môn nhằm nâng cao chất lượng dạy học

được các GV luôn quan tâm và cố gắng, đồng thời cũng chứng tỏ rằng CBQL

nhà trường luôn tạo điều kiện về mọi mặt để các GV có thể yên tâm theo học,

đào tạo trên chuẩn. Tuy vậy vẫn còn một số GV chưa cố gắng học tập nâng

cao trình độ tin học và ngoại ngữ, do đó việc sử dụng các trang thiết bị còn

hạn chế, một số GV còn lúng túng, chưa tích cực, chủ động tham gia đổi mới

PPDH, phương pháp dạy học còn lạc hậu.

Từ bảng số liệu ta cũng thấy sự cố gắng của các GV, sự động viên, khen

thưởng, tạo điều kiện của CBQL trong việc cử GV tham gia thi GVgiỏi cấp

Thành phố, số giải chưa thật nhiều nhưng với đội ngũ GV còn thiếu, CSVC

còn hạn chế, đầu vào của HS còn thấp,… thì đó cũng là những thành công đáng

kể trong công tác giảng dạy của đội ngũ GV nhà trường.

Thực trạng HĐDH của GV không chỉ được đánh giá qua việc thao giảng,

thi GV giỏi cấp trường, cấp cụm, cấp thành phố, mà còn được đánh giá qua

việc kiểm tra theo định kỳ hoặc đột xuất của CBQL, tổ trưởng chuyên môn

(TTCM), qua thanh tra chuyên môn hàng năm do Sở Giáo dục và Đào tạo tiến

hành, qua những đợt Sở Giáo dục và Đào tạo thanh tra toàn diện nhà trường.

* Kết luận của đợt thanh tra toàn diện nhà trường năm học 2008 – 2009:

- GV có đầy đủ hồ sơ chuyên môn theo quy định, hầu hết chất lượng khá

tốt, tuy nhiên có một số giáo án còn cẩu thả, chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới,

việc ghi sổ báo giảng chưa thật đầy đủ.

- Trình độ tay nghề: Đa số GV có kiến thức vững vàng, phương pháp

giảng dạy có sự đổi mới, phù hợp với đối tượng HS, phát huy được tính tích

cực, chủ động của HS, tuy nhiên cũng có một số tiết dạy còn chưa đảm bảo về

nội dung, vẫn sử dụng phương pháp truyền thống, chưa thể hiện sự đổi mới.

- Kết quả thanh tra giờ dạy: Tổng số: 84 tiết; trong đó: 25 tiết Giỏi(30 %);

20 tiết Khá (24 %); 39 tiết Trung bình ( 46 %)



49



Bảng số 2.9: Kết quả thanh tra chuyên môn định kỳ của Sở GD& ĐT

Số GV

Năm học



được

TTCM



T Số tiết

TTCM



Tiết trung



Tiết giỏi



Tiết khá



SL



%



SL



%



SL



%



bình



2007- 2008



20



40



10



25



10



25



20



50



2008 -2009



22



44



15



35



10



22



19



43



Tổng cộng



42



84



25



30



20



24



39



46



Môn lịch sử



2



4



1



25



1



25



2



50



(Nguồn: Báo cáo tổng kết của nhà trường)

Như vậy, qua kết quả thanh tra định kỳ cũng như tranh tra toàn diện của

Sở Giáo dục và Đào tạo , ta thấy số tiết được đánh giá giỏi chưa nhiều, số tiết

trung bình còn cao, đòi hỏi GV phải không ngừng phấn đấu tự bồi dưỡng

chuyên môn, học hỏi kinh nghiệm đồng nghiệp, tích cực đổi mới PPDH; bên

cạnh đó CBQL cần quan tâm hơn nữa trong việc quản lý HĐDH, đặc biệt chỉ đạo

đổi mới PPDH, góp phần nâng cao chất lượng giờ dạy.

Trong các năm học 2007- 2008, 2008-2009, trên cơ sở văn bản kiểm định

đánh giá chất lượng, xếp loại GV của Bộ Giáo dục và Đào tạo, nhà trường đã

tự đánh giá chất lượng dạy học của GV nhà trường như sau:

Bảng 2.10: Đánh giá chất lƣợng dạy học của giáo viên nhà trƣờng

Đánh giá chất lƣợng dạy học



Tổng

Năm học



Số



Giỏi



Đạt yêu cầu



Khá



GV



SL



%



SL



%



SL



%



2007-2008



71



18



25.3



30



42.3



23



32.4



2008-2009



77



21



27.3



35



45.4



21



27.3



Tổng cộng



148



39



26.4



65



44.0



44



29.6



Môn lịch sử



5



2



40.0



2



40.0



1



20.0



(Nguồn: Báo cáo tổng kết năm học 2007 – 2008, 2008- 2009 của nhà trường)



50



Như vậy nhìn chung đội ngũ GV đảm bảo yêu cầu về trình độ, có đủ khả

năng đảm nhiệm công tác giảng dạy, tuy nhiên số GV giỏi chưa nhiều, đội

ngũ mũi nhọn để tạo sức bật cho việc nâng cao chất lượng dạy học còn ít, vẫn

còn GV giảng dạy chỉ đạt yêu cầu, việc đổi mới PPDH theo hướng dạy học

tích cực còn lúng túng. Do đó, việc nâng cao chất lượng dạy học là một vấn

đề khó khăn, cấp bách đòi hỏi người CBQL phải tìm ra những biện pháp mới,

khả thi, khắc phục những biện pháp đã lỗi thời trong việc quản lý HĐDH của

giáo viên.

Tóm lại, đội ngũ GV của nhà trường có những điểm mạnh và điểm hạn

chế sau:

- Một số GV có tuổi đời và tuổi nghề cao nhưng chất lượng dạy học

chưa đồng đều. Bên cạnh một số GV có tâm huyết, nhiệt tình, tận tụy với

nghề, gương mẫu trong công tác, còn có một số GV (bộ phận nhỏ) thì chưa

thực sự tâm huyết với nghề, ngại đổi mới PPDH, không chịu khó tự bồi

dưỡng nâng cao trình độ, ngại đọc tài liệu tham khảo, sách, tạp chí giáo dục

nên chất lượng dạy học chưa cao.

- Đội ngũ GV trẻ nhiệt tình nhưng còn thiếu kinh nghiệm trong giảng

dạy và công tác. Đa số GV ham học hỏi kinh nghiệm của những người đi

trước để bồi dưỡng nâng cao trình độ. Bên cạnh đó còn một số GV chưa thực

sự chịu khó học hỏi, trau dồi tri thức.

- Đội ngũ giáo viên lịch sử, về số lượng còn thiếu, chất lượng còn yếu

số giáo viên nhiều tuổi và giáo viên mới vào nghề chiếm đa số, chưa có giáo

viên nào đạt trình độ trên chuẩn, giáo viên đạt danh hiệu cao còn ít.

- Số lượng GV chuyển đến, chuyển đi nhiều cũng ảnh hưởng đến kế

hoạch chuyên môn và chất lượng giảng dạy của nhà trường.

2.2.5. Cơ sở vật chất sư phạm

Trong năm học 2009 – 2010 cơ sở vật chất của nhà trường đã được đầu

tư, nâng cấp nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển, đảm bảo chất lượng giáo dục



51



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (148 trang)

×