1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ CÁC BIỆN PHÁP XÃ HỘI HOÁ SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC Ở HUYỆN AN DƯƠNG, HẢI PHÒNG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.64 MB, 113 trang )


Văn hoá - xã hội có nhiều chuyển biến tích cực.

Đời sống nhân dân từng bước được cải thiện, nhất là trong vấn

đề giải quyết việc làm, tiền lương và các quyền lợi về y tế, văn hoá,

giáo dục. Các tệ nạn xã hội từng bước được ngăn chặn.

Tuy nhiên, kinh tế - xã hội An Dương vẫn còn bộc lộ nhiều yếu

kém, đặc biệt là chưa khai thác hết tiềm năng, lợi thế của huyện. Chất

lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn yếu. Trình độ

công nghiệp hoá- hiện đại hoá lực lượng sản xuất còn thấp; thiết bị,

công nghệ còn lạc hậu, nhiều doanh nghiệp thua lỗ kéo dài. Chuyển

dịch cơ cấu kinh tế còn chậm, nhất là trong nông nghiệp, nông thôn và

dịch vụ. Quy hoạch đô thị vừa chậm vừa thiếu đồng bộ. Các tệ nạ n xã

hội, nhất là tệ nạn ma tuý, tham nhũng, tiêu cực chưa được ngăn chặn

có hiệu quả, còn diễn biến phức tạp.

Tình hình phát triển kinh tế - xã hội nói trên đã tác động và ảnh

hưởng sâu sắc đến quá trình phát triển giáo dục - đào tạo của huyện.

2.1.2 Tình hình thực hiện chủ trương, nghị quyết của Đảng và

Nhà nước của thành phố Hải Phòng

XHHSNGD là một quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước ta để phát

triển giáo dục. Quan điểm đó là sự đúc kết truyền thống hiếu học, đề cao sự

học và chăm lo việc học hành của nhân dân ta suốt hàng nghìn năm lịch sử

phát triển của dân tộc. XHHSNGD rất phù hợp với giai đoạn phát triển

kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà

nước, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá, làm cho giáo dục phục vụ

mục tiêu kinh tế - xã hội địa phương, góp phần vào sự tiến bộ xã hội và

công bằng xã hội.

Thực hiện Thông tư liên tịch số 35/TT-LT ngày 10 tháng 10 năm

1990 của Bộ Giáo dục - Đào tạo và Công đoàn Giáo dục Việt Nam,

Hải Phòng đã tập trung chỉ đạo đẩy mạnh pho ng trào XHHGD và bước

38



đầu triển khai thí điểm mở Đại hội giáo dục ở xã Mỹ Đồng - huyện

Thuỷ Nguyên và trường trung học phổ thông Nguyễn Trãi huyện An

Dương. Đến đầu năm 1996, chỉ đạo huyện Thuỷ Nguyên và quận

Hồng Bàng tổ chức Đại hội giáo dục cấp huyện.

Từ bài học chỉ đạo điểm và trên cơ sở thực tiễn của phong trào,

ngành Giáo dục - Đào tạo đã tham mưu với thành phố chỉ đạo toàn

thành phố tổ chức Đại hội giáo dục lần thứ nhất. Đến tháng 10 năm

1998, 12/12 quận, huyện, thị xã đã tiến hành mở đại hội giáo dụ c lần

thứ nhất.

Ngày 2/4/1999, thành phố mở Đại hội giáo dục lần thứ nhất, đã

thành lập được Hội đồng giáo dục với 49 thành viên tham gia Ban

chấp hành; đã xây dựng được quy chế hoạt động của Ban chấp hành

cùng với các chương trình hoạt động hàng năm.

Năm 2001, Uỷ ban nhân dân thành phố có Chỉ thị 06/CT-UB ngày

26 tháng 2 năm 2001 chỉ đạo các cấp xã phường và quận huyện tổ

chức Đại hội giáo dục lần hai, chuẩn bị cho Đại hội giáo dục thành

phố vào tháng 4 năm 2004.

100% xã phường, thị trấn và các quận huyện, thị xã trên địa bàn

thành phố đã thành lập Hội đồng giáo dục, có quy chế và chương trình

hoạt động cụ thể. Nhiều Hội đồng giáo dục đã thực sự phát huy tốt vai

trò tham mưu với cấp uỷ, chính quyền và tổ chức nhiều hoạt động có

kết quả, tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ của phong trào XHHSNGD.

Nhiều nhân tố điển hình phát huy tác dụng tốt như Hội đồng giáo dục

huyện Tiên Lãng, Vĩnh Bảo, xã Hoà Bình, Cổ Am (huyện Vĩnh Bảo), xã

Quang Phục, Vinh Quang, Hùng Thắng (huyện Tiên Lãng), xã Mỹ Đồng

(huyện Thuỷ Nguyên), xã Tân Dân (huyện An Lão), phường Niệm Nghĩa

(quận Lê Chân)…

39



Tháng 11 năm 1998, Hội khuyến học thành phố được thành lập,

bước đầu đã xây dựng được Ban chấp hành, có quy chế hoạt động dựa

trên điều lệ của Hội khuyến học Việt Nam. Trong thời gian 5 năm Hội

đã tham mưu và thành lập được nhiều chi hội khuyến học cấp xã,

phường và quận, huyện.

Tháng 01 năm 1999, Hội giáo dục gia đình của thành phố được

thành lập đã cùng với ngành Giáo dục - Đào tạo tổ chức tư vấn và

tham gia tích cực vào việc giáo dục đạo đức, nhân cách cho học sinh.

Nghị quyết Trung ương 4 Đại hội Đảng VII và Nghị quyết Trung

ương 2 Đại hội Đảng VIII, kết luận Hội nghị Trung ương 6 Đại hôi Đảng

IX về giáo dục - đào tạo, con đường định hướng rõ ràng cho việc thực hiện

XHHSNGD và trở thành phong trào quần chúng rộng khắp có sự tổng hợp

sức mạnh từ các cấp uỷ Đảng, chính quyền, Đoàn thể nhân dân, tổ chức

doanh nghiệp, các cá nhân trong nước kể cả việc phát huy nguồn lực từ

nước ngoài cho sự phát triển sự nghiệp giáo dục.

Qua công tác XHHSNGD, các địa phương đã huy động được nguồn

kinh phí đáng kể từ quỹ hỗ trợ giáo dục và quỹ khuyến học. Nguồn kinh

phí đó đã được sử dụng chủ yếu vào xây dựng tu sửa phòng học, bàn ghế,

trang thiết bị dạy học và sử dụng vào việc khen thưởng giáo viên giỏi, học

sinh giỏi, học sinh nghèo vượt khó.

Kết quả của cuộc vận động XHHSNGD trong những năm qua đã góp

phần tiếp tục nâng cao nhận thức của các cấp uỷ Đảng, chính quyền và

nhân dân về vị trí, vai trò của giáo dục- đào tạo trong quá trình công nghiệp

hoá, hiện đại hoá đất nước. Ở các địa phương, Hội cha mẹ học sinh, các cơ

quan, chính quyền đoàn thể đóng trên địa bàn đã phối hợp chặt chẽ với nhà

trường xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, triển khai tốt các cuộc

vận động của ngành, thực hiện tốt kỷ cương, nề nếp trong nhà trường, tạo

thêm nguồn lực đầu tư xây dựng cơ sở vật chất trường học, hình thành và

40



phát triển một xã hội học tập góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo

dục- đào tạo.

Để nắm được tình hình giáo dục nói chung và giáo dục trung học phổ

thông, đặc biệt thực trạng XHHSNGD trung học phổ thông ở huyện An

Dương, đề tài đã tổ chức điều tra bằng phiếu, đã tổ chức tọa đàm và nghiên

cứu các văn bản, tài liệu có liên quan như các Nghị quyết, Chỉ thị, Quyết

định, Đề án, Báo cáo, số liệu thống kê .... Cuộc điều tra được tiến hành từ

tháng 7 đến tháng 9 năm 2004 thông qua việc phát phiếu thăm dò ý kiến

cho PHHS của 10 lớp (3 lớp 10; 3 lớp 11; 4 lớp 12). Tổng số phiếu phát ra

là 500 phiếu, tổng số phiếu thu về là 482 phiếu, đạt tỷ lệ 96.4% (trong đó

có 210 nam, 240 nữ và 32 phiếu không đề giới tính)

Sau đó đối tượng điều tra được chia thành 3 nhóm:

1. Lãnh đạo chủ chốt của Đảng và chính quyền huyện, xã, thị trấn: 22

người

2. Các trưởng, phó đầu ngành và cán bộ giáo viên của huyện, xã: 105

người

3. Nhân dân của các xã và thị trấn: 355 người

Cùng với điều tra bằng phiếu, đề tài đã tổ chức toạ đàm với lãnh đạo

địa phương, đại diện của các ban, ngành, đoàn thể trong huyện, xã, thị trấn

và giáo viên của một số trường.

2.2. Thực trạng xã hội hoá sự nghiệp giáo dục hiện nay ở huyện An

Dương

Trong những năm qua sự nghiệp giáo dục của huyện An Dương đã

có những chuyển biến tích cực ở tất cả các ngành học, cấp học. Huyện đã

coi trọng phát triển giáo dục và đào tạo cả 3 mặt: mở rộng quy mô, nâng

cao chất lượng và phát huy hiệu quả; đồng thời coi trọng cả 3 mục tiêu:

nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Quy mô các ngành

học liên tục được củng cố và phát triển.

41



2.2.1 Xã hội hoá sự nghiệp giáo dục mầm non: toàn huyện có

16 trường mầm non, trong đó có 1 trường chính quy và 15 trường dân

lập đang chuyển dần sang bán công.

+ Nhà trẻ: tổng số có 65 nhóm với tổng số cháu là 1133 đạt tỷ lệ 32%

dân số trong độ tuổi

+ Mẫu giáo: tổng số lớp là 131, tổng số cháu là 3822 đạt tỷ lệ 73.8%

dân số trong độ tuổi

Bằng con đường đa dạng hoá các loại hình trường lớp ngoài công lập,

ngành mầm non đã duy trì được kết quả phổ cập mẫu giáo 5 tuổi, đạt phổ

cập mẫu giáo 4 tuổi. Cụ thể trẻ 5 tuổi có 1796 cháu đạt tỷ lệ 99.7%

Mạng lưới trường lớp mầm non ở An Dương hiện nay cơ bản

theo quy mô vừa và nhỏ, đặt ở vị trí tập trung dân cư nên đáp ứng

được nhu cầu đi lại và gửi trẻ của nhân dân.

Cơ sở vật chất:

Trong khoảng 5 năm 1998 - 2003, huyện đã chú ý đầu tư đến việc

cải tạo, nâng cấp, sửa chữa và xây mới trường học mầm non, cơ bản

đã khắc phục được tình trạng xuống cấp, nhất là các phòng học cấp 4.

Một số trường đã được xây mới theo hướng khang trang, hiện đại. Hệ

thống trang thiết bị phục vụ nuôi dạy trẻ được bổ sung dần. Năm 2002

Hội đồng nhân dân huyện có Nghị quyết tiết kiệm chi hành chính 5%

để đầu tư cho hệ thống trường Mầm non dân lập, cải tạo và nâng cấp

phòng học.

Tuy vậy, giáo dục Mầm non An Dương vẫn còn một số khó khăn:

- Một bộ phận giáo viên chưa được chuẩn hoá trình độ đào tạo,

nhưng tuổi đã cao. Nhà nước chưa có chính sách thoả đáng trong việc

giải quyết chế độ nghỉ cho đối tượng này.



42



- Hai phần ba giáo viên Mầm non hưởng lương do các địa phương

xã chi trả, mức lương quá thấp không phù hợp với sức lao động hàng

ngày nên ít động viên được tinh thần làm việc của đội ngũ.

- Cơ sở vật chất nhiều trường quá chật hẹp do sử dụng các công

trình cũ không phải là kiến trúc trường học. Vì vậy vấn đề xây dựng

trường chuẩn là rất khó khăn.

- Chất lượng giáo dục ở khu vực ngoại thành còn nhiều hạn chế,

một phần do điều kiện kinh tế khó khăn, ảnh hưởng đến khả năng

đóng góp và chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ.

2.2.2 Xã hội hoá sự nghiệp giáo dục bậc tiểu học

Đội ngũ cán bộ, giáo viên:

97,8% giáo viên tiểu học được đào tạo chuẩn, trong đó 60% có

trình độ trên chuẩn (Cao đẳng và Đại học). Một số trường có tỷ lệ

giáo viên trên chuẩn cao từ 50 - 60% như trường tiểu học An Dương;

trường tiểu học Nam Sơn; trường tiểu học An Đồng.

Chất lượng giáo dục có nhiều chuyển biến tích cực. Tỷ lệ học sinh

xếp loại đạo đức tốt và khá đạt trên 99%, chỉ c òn lại dưới 1% diện đạo

đức cần cố gắng.

Tỷ lệ xếp loại văn hoá khá giỏi



65,74%.



Tỷ lệ xếp loại văn hoá trung bình



33,74%.



Tỷ lệ xếp loại văn hoá yếu



0,52%.



Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp hàng năm ổn định ở mức trên 99%.

Cơ sở vật chất:

Hầu hết các trường tiểu học đã có khu lớp học cao tầng kiên cố. Bên

cạnh 7 trường đuợc công nhận trường chuẩn quốc gia, hầu hết các trường

tiểu học đều phấn đấu và nhiều trường đạt tiêu chuẩn trường đẹp (tiêu

chuẩn riêng của huyện An Dương).

43



Tuy vậy, so với yêu cầu, hệ thống các trường tiểu học cũng đang gặp

một số khó khăn:

Còn một bộ phận giáo viên đào tạo theo hệ 10+2 đã cao tuổi, trình độ

chuyên môn không đáp ứng được yêu cầu của chương trình đổi mới hiện

nay.

Các bộ môn hát nhạc, ngoại ngữ, mỹ học, tin học, thể dục, hầu hết các

nhà trường đều phải hợp đồng. Tâm lý của bộ phận giáo viên này chưa thực

sự yên tâm, chất lượng dạy học còn nhiều hạn chế.

Nhiều trường được tách ra từ mô hình trường phổ thông cơ sở (hai cấp

1



và 2) nhưng không được quy hoạch nên cơ sở vật chất thiếu thốn, thiếu



diện tích đất để xây dựng trường chuẩn quốc gia.

Năm học 2003 - 2004 huyện An Dương gồm có 17 trường tiểu học

với tổng số 10818 học sinh chia thành 366 lớp.

Ngoài ra huyện còn có:

2 lớp khuyết tật với tổng số 18 em ( tiểu học Bắc Sơn )

1 lớp chuyên biệt với 7 em (tiểu học Lê Lợi)

2.2.3 Xã hội hoá sự nghiệp giáo dục bậc trung học cơ sở:

Tất cả các xã, thị trấn đều có trường THCS, nhiều địa phương có

trường học cao tầng.

Đội ngũ giáo viên trung học cơ sở cơ bản đạt chuẩn đào tạo

(98,7%). Tỷ lệ đào tạo trên chuẩn nâng lên hàng năm, ở thời điểm năm

học 2003 - 2004 giáo viên có trình độ Đại học, Thạc sĩ và sau Đại học

là 27%.

Chất lượng giáo dục ở bậc học này những năm gần đây có chuyển

biến tích cực. Tỷ lệ học sinh xếp loại văn hoá khá, giỏ i đạt trung bình

từ 40 - 60%.



44



Cơ sở vật chất trong các nhà trường từng bước được nâng cấp và

bổ sung. Nhiều trường đã có phòng máy vi tính và tổ chức học nghề

cho học sinh, nhất là ở khu vực có nền kinh tế phát triển.

Năm học 2003 - 2004 huyện An Dương gồm có 16 trường với tổng số

11.248 học sinh chia thành 286 lớp.

2.2.4 Xã hội hoá sự nghiệp giáo dục bậc trung học phổ thông:

Năm học 2002 - 2003 huyện An Dương có 5 trường trung học phổ

thông, bao gồm 3 loại hình trường: công lập 2 trường, dân lập 2

trường và tư thục 1 trường.

Mạng lưới trường trung học phổ thông ở An Dương phát triển

mạnh và đa dạng các loại hình, đáp ứng được 70% nhu cầu học tập của

học sinh. Mô hình trường ngoài công lập sau 15 năm phát triển cơ bản

ổn định và từng bước khẳng định được chủ trương đúng đắn về công

tác XHHSNGD của Đảng.

Đội ngũ cán bộ, giáo viên được đào tạo chuẩn chiếm tỷ lệ cao nhất

trong các bậc học: 98%, trong đó 5% đã và đang hoàn chỉnh các

chương trình đào tạo thạc sĩ và sau Đại học.

Một bộ phận giáo viên có trình độ chuyên môn cao, năng lực sư

phạm vững vàng, là nhân tố quan trọng trong việc bồi dưỡng nhân tài

cho địa phương, đặc biệt trong việc huấn luyện học sinh các đội tuyển

học sinh giỏi thành phố và quốc gia.

Chất lượng giáo dục ở bậc học những năm gần đây có nhiều

chuyển biến tích cực. Tỷ lệ học sinh xếp loại văn hoá khá giỏi đạt mức

trung bình từ 30 - 40%, có trường đạt 70%, hạnh kiểm khá tốt đạt mức

trung bình từ 80 - 90%. Kết quả thi tốt nghiệp hàng năm, tỷ lệ đỗ từ 98

- 100%, năm học 2002 - 2003 đạt 99%, thường ở vị trí cao so với toàn

thành phố.

45



Kết quả thi học sinh giỏi thành phố và quốc gia năm sau cao hơn

năm trước cả về số lượng và chất lượng giải.

Bảng2.4. Thống kê số học sinh đạt giải học sinh giỏi thành

phố

Năm học



Giải nhất



Giải nhì



Giải ba



Giải kk



Tổng số



01 - 02



11



22



33



50



116



02 - 03



9



24



35



46



114



03 - 04



10



26



36



45



117



Tỷ lệ học sinh thi đỗ vào các trường Đại học, Cao đẳng hàng

năm đạt từ 30 - 40%.

An Dương là một trong số các quận, huyện mạnh dạn thực hiện

chương trình phổ cập trung học và nghề, trong khi các nơi khác đang

còn triển khai chương trình phổ cập trung học cơ sở. Dự kiến chương

trình phổ cập trung học và nghề sẽ hoàn thành vào năm 2008.

Cơ sở vật chất của bậc học được đầu tư theo hướng khang trang,

hiện đại. 100% trường trung học phổ thông công lập được xây dựng

cao tầng, có phòng học vi tính từ 20 - 50 máy phục vụ nhu cầu học

nghề của học sinh. Hầu hết các trường dân lập, tư thục có cơ sở riêng,

nhiều trường xây dựng kiên cố, hiện đại với kinh phí đầu tư từ 2 - 10

tỷ đồng. Nhiều trường THPT đã sử dụng công nghệ phần mềm vào

trong quản lý và giảng dạy. Trường THPT Nguyễn Trãi đã lắp đặt hệ

thống Camera trong các phòng học để phục vụ cho công tác quản lý.

Tuy vậy, khó khăn ở bậc trung học phổ thông cũng còn nhiều:

- Hệ thống trường ngoài công lập phát triển chưa thật mạnh, vì

vậy chưa đáp ứng được nhu cầu học tập của số đông học sinh. Một vài

trường sau nhiều năm thành lập vẫn sử dụng cơ sở thuê mượn nên

trường lớp không đảm bảo tiêu chuẩn, chất lượng đạt ở mức thấp.

46



- Đội ngũ giáo viên cơ bản được chuẩn hoá nhưng chưa đồng bộ.

Tỷ lệ giáo viên có trình độ trên đại học còn thấp.

- Chất lượng giáo dục giữa thị trấn và một số xã có sự chênh lệch

lớn. Khả năng thực hành của học sinh còn yếu, kiến thức khoa học còn

xa rời thực tiễn.

- Do chưa có cơ chế phân luồng học sinh nên mục tiêu của đại đa

số học sinh là phấn đấu thi vào Đại học, Cao đẳng, dẫn đến tình trạng

mất cân đối trong cơ cấu đào tạo và tuyển dụng người lao động.

- Cơ sở vật chất còn thiếu thốn, nhất là thiếu phòng học bộ môn,

thiếu trang thiết bị hiện đại. Hầu hết các trường không đủ diện tích đất

để xây dựng trường chuẩn quốc gia.

- Do cơ chế 100% vốn đầu tư là của dân nên hầu hết các trường

ngoài công lập thiếu trang thiết bị dạy học, đặc biệt thiếu phòng bộ

môn, thư viện và thực hành thí nghiệm.

Tuy nhiên thực trạng XHHSNGD của huyện An Dương còn gặp một

số khó khăn sau:

+Tỷ lệ huy động các cháu đi nhà trẻ còn thấp; tỷ lệ bỏ học ở trung

học cơ sở còn cao. Đội ngũ giáo viên mầm non đạt chuẩn còn thấp.

+Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, phòng học, các phòng chức năng,

đồ dùng dạy học ở một số trường còn thiếu thốn nhiều.

+Kinh phí cho công tác điều tra mở lớp phổ cập còn rất hạn chế. Từ

khi làm phổ cập trung học và nghề ( tháng 1 năm 2003 ) đến nay (tháng

8/2004) mỗi trường trung học cơ sở mới được cấp 1 triệu đồng dùng vào

việc điều tra ( số tiền quá ít ).

+Hàng năm số học sinh bỏ học vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, vì

tìm việc làm, vì chưa thi được vào THPT công lập còn nhiều. Ví dụ như

năm học 2003 - 2004 từ đầu năm đến tháng 3/2004 cấp trung học cơ sở đã

47



có 51 học sinh bỏ học chiếm tỷ lệ 0.45% số học sinh vào các trường THPT

công lập, dân lập, tư thục, giáo dục thường xuyên hàng năm khoảng 40%.

+ Một số giáo viên không theo kịp với việc dạy học trong chương

trình đổi mới giáo dục phổ thông nên chất lượng giảng dạy không cao.

+ Chất lượng học sinh đại trà còn thấp, đặc biệt là chất lượng học sinh

lớp 9

2.2.5 Việc triển khai thực hiện xã hội hoá sự nghiệp giáo dục ở

huyện An Dương

Sau những bước đi đầu tiên thực hiện XHHSNGD và đào tạo ngay từ

năm 1990. Nhận thức về XHHSNGD và đào tạo ngày càng được nâng cao,

xã hội hoá trở thành một nội dung công tác quan trọng đối với các cấp uỷ

Đảng và chính quyền của huyện An Dương. Điều đó được tiếp tục thể hiện

trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện An Dương năm 2001. Cụ thể:

“Đa dạng hoá các loại hình trường lớp, khuyến khích mở trường dân lập,

bán công, tư thục, đảm bảo số học sinh trong lớp ở từng cấp học theo tiêu

chuẩn của Bộ Giáo dục- đào tạo”. “Nâng cao chất lượng, chuẩn hoá đội

ngũ giáo viên. Ngăn chặn, đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực. Tăng cường cơ

sở vật chất, đẩy mạnh xã hội hoá sự nghiệp giáo dục - đào tạo" [4].

Tháng 7 năm 2001 Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân huyện đã chỉ

đạo và duyệt kế hoạch phát triển sự nghiệp giáo dục- đào tạo giai đoạn

2001-2005 với nội dung: “Tiếp tục nâng cao chất lượng dạy và học, đẩy

mạnh XHHSNGD, tạo mọi điều kiện để cho mọi người có thể được học

tập”.

Với ngành học mầm non: “Tiếp tục phát triển hệ thống giáo dục mầm

non phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và nhu cầu của nhân dân địa

phương theo 4 loại hình trường: công lập, bán công, dân lập, tư thục. Ưu

tiên cho trẻ em 5 tuổi được hưởng các chương trình giáo dục mẫu giáo để

trẻ chuẩn bị vào lớp 1”.

48



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (113 trang)

×